THÔNG BÁO

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

SÁCH NÓI - KỸ NĂNG SÓNG

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH HAY CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    TRÍCH DẪN HAY

    Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Gioi_han_sinh_thai_xuong_rong.png Gioi_han_sinh_thai_cua_tam.png Gioi_han_sinh_thai_ca_ro_phi.png BANDOKINHTE.jpg HB_NHOMNUOC.jpg HB_MDDS.jpg Ban_do_cac_nuoc_Dong_Nam_A.jpg TDMNPB_tunhien.jpg

    KIẾN THỨC LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

    💕💕 💕💕Thư viện không phải là nơi để ghé qua trong vội vã, mà là nơi yên bình ta chọn dừng chân giữa bộn bề cuộc sống. Nơi đây, mỗi cuốn sách đều như một mảnh ghép của thời gian, gói ghém những tri thức và câu chuyện của biết bao thế hệ💕💕 💕💕

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng Sản Việt Nam

    Cuoc doi cua Pi - Yann Martel

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 10h:28' 07-03-2024
    Dung lượng: 1.7 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Cuộc đời của Pi
    -Yann MartelMục Lục
    Phần 1 : Toronto và Pondicherry
    Chương 1
    Chương 2
    Chương 3
    Chương 4
    Chương 5
    Chương 6
    Chương 7
    Chương 8
    Chương 9
    Chương 10
    Chương 11
    Chương 12
    Chương 13
    Chương 14
    Chương 15
    Chương 16
    Chương 17
    Chương 18
    Chương 19
    Chương 20
    Chương 21
    Chương 22

    Chương 23
    Chương 24
    Chương 25
    Chương 26
    Chương 27
    Chương 28
    Chương 29
    Chương 30
    Chương 31
    Chương 32
    Chương 33
    Chương 34
    Chương 35
    Chương 36
    Phần 2 : Thái Bình Dương
    Chương 37
    Chương 38
    Chương 39
    Chương 40
    Chương 41
    Chương 42
    Chương 43
    Chương 44
    Chương 45
    Chương 46
    Chương 47
    Chương 48
    Chương 49

    Chương 50
    Chương 51
    Chương 52
    Chương 53
    Chương 54
    Chương 55
    Chương 56
    Chương 57
    Chương 58
    Chương 59
    Chương 60
    Chương 61
    Chương 62
    Chương 63
    Chương 64
    Chương 65
    Chương 66
    Chương 67
    Chương 68
    Chương 69
    Chương 70
    Chương 71
    Chương 72
    Chương 73
    Chương 74
    Chương 75
    Chương 76
    Chương 77

    Chương 78
    Chương 80
    Chương 81
    Chương 82
    Chương 83
    Chương 84
    Chương 85
    Chương 86
    Chương 87
    Chương 88
    Chương 89
    Chương 90
    Chương 91
    Chương 92
    Chương 93
    Chương 94
    Phần 3 : Trạm xá Benôt Juarez, Tomatlan, Mexico
    Chương 95
    Chương 96
    Chương 97
    Chương 98
    Chương 99
    Chương 100

    Phần 1 : Toronto và Pondicherry

    Cuốn sách này được Yann Martel viết vào năm 1996 và
    được tặng giải thưởng Man Booker 2002. Ông sinh ra ở Tây
    Ba Nha nhưng hiện đang sống tại Motreal, Canada.
    “Cuốn sách là một câu chuyện hiện thực sống động về sự
    sống sót giữa biển khơi. Một mặt là chuyện thám hiểm, một
    minh chứng về việc hoàn cảnh cùng quẫn làm thay đổi con
    người như thế nào. Mặt khác là sự suy ngẫm sâu xa về vai trò
    của tôn giáo trong đời sống, về bản chất của động vật, thiên
    nhiên và con người. Ngôn ngữ của ông sống động và ấn tượng.
    Trí tưởng tượng rộng lớn, khả năng thuyết phục gần như
    không giới hạn. Yann Martel sẽ trở thành một trong những nhà
    văn Canada vĩ đại nhất” (The Hamilton Spectator).
    Ghi Chú Của Tác Giả
    Cuốn sách này ra đời khi tôi đói. Số là, mùa xuân năm
    1996, cuốn thứ hai của tôi, một cuốn tiểu thuyết ra mắt bạn
    đọc ở Canada. Nó chẳng đi đến đâu. Đám điểm sách lúng
    túng, hoặc kết án tử hình nó bằng những lời khen nhạt nhẽo.
    Độc giả phớt lờ nó. Tôi giở hết các ngón nghề và nhào lộn
    trong rạp xiếc truyền thông đại chúng, nhưng vẫn chẳng ăn
    thua gì. Cuốn sách không nhúc nhích được tí nào. Sách xếp
    trên kệ trong cửa hàng như bọn trẻ đứng chờ để được chơi
    bóng chày hoặc bóng đá, và cuốn sách của tôi là thằng nhóc
    oặt oẹo và không ai muốn lấy vào đội của mình. Nó im lìm và
    nhanh chóng biến mất.
    Thất bại ấy cũng không làm tôi nao núng nhiều lắm. Tôi
    lại bắt tay vào viết một cuốn khác, một tiểu thuyết có khung
    cảnh tại Bồ Đào Nha thời 1939. Chỉ có điều, trong bụng cứ bứt
    rứt không yên. Vả lại vẫn còn ít tiền.
    Thế là tôi đi Bombay. Việc đó cũng không phi lí lắm nếu
    độc giả hiểu được ba điều: thứ nhất bất cứ sinh linh nào nếu
    muốn hết bồn chồn thì cứ đến ấn Độ và làm một việc gì đó
    trong một thời gian nhất định, thứ hai: ở đó có thể sống dài dài
    với một món tiền ít ỏi; và thứ ba là một tiếu thuyết có khung
    cảnh Bồ Đào Nha thời 1939 chưa chắc đã phải dính dáng gì
    đên Bồ Đào Nha thời 1939.

    Trước đó tôi đã từng ở ấn Độ, miền Bắc, năm tháng trời.
    Tôi hoàn toàn không có chuẩn bị gì cho chuyến đi đầu tiên ấy
    đến tiểu lục địa. Thực ra, tôi được chuẩn bị có một chữ thôi.
    Khi tôi hàn huyên về các dự định cho chuyến đi với một người
    bạn biết nhiều về xứ sở ấy, anh ta thủng thẳng nói, “ở ấn Độ
    người ta nói một thứ tiếng Anh quấy lắm. Họ thích những từ
    chẳng hạn như là bamboozle. “Tôi nhớ đến câu nói ấy của anh
    ta khi máy bay bắt đầu giảm độ cao để hạ cánh xuống Dehli,
    và từ bamboozle trở thành sự chuẩn bị duy nhất của tôi cho cái
    thể giới điên rồ, ầm ĩ, muôn mặt nhưng vần đâu ra đấy của ấn
    Độ. Tôi đã có dịp dùngđến cái từ ấy, và nói thực tình, nói
    cũngđắc lực. Tôi bảo một thấy ký ga xe lửa: “Chẳng nhẽ giá
    vé đắt đến thế kia à. Thầy không định bamboozle tôi đấy chứ?
    Thầy ký mỉm cười, nói như hát, “Không đâu thưa ngài! Không
    có bam-bu-zư bam-bu-ziếc gì ở đây cả. Chúng tôi nói đúng giá
    vé đấy ạ.”
    Lần thứ hai đi ấn Độ, tôi biết điều hơn về những gì có thể
    xảy ra và biết mình muốn gì: tôi sẽ yên vị ở một đồn điền
    trung du và viết cuốn tiểu thuyết của mình. Tôi mường tượng
    rõ ràng mình đang ngồi ở bàn trong một hàng hiên rộng, giấy
    tờ ghi chép ngổn ngang, bên cạnh một tách trà nghi ngút.
    Những triền đồi xanh mướt dày đặc sương mù trải dài dưới
    chân, và tiếng kêu lảnh lót của các bầy khỉ sẽ lấp đầy màng nhĩ
    tôi. Khí hậu sẽ vừa vặn làm sao, chỉ cần một áo len mỏng nhẹ
    vào buổi sớm mai và chiều tà, còn cả ngày có thể mặc một cái
    gì đó ngắn tay. Và trong cảnh đó, bút trong tay, vì một chân lý
    lớn lao hơn, tôi sẽ biến Bồ Đào Nha thành một tác phẩm hư
    cấu. Tiểu thuyết là như vậy, là việc biến đổi hiện thực một
    cách có chọn lọc, đúng không nào? Là việc vặn vẹo hiện thực
    để vắt lấy cái cốt lõi của nó, đúng không nào? Vậy nên tôi có
    cần gì phải đi Bổ Đào Nha đúng chưa nào?
    Bà chủ đồn điền sẽ kể tôi nghe những câu chuyện về cuộc
    đấu tranh đánh đuổi người Anh. Chúng tôi sẽ chọn món cho
    bữa trưa và bữa tối ngày hôm sau của tôi. Sau mỗi ngày viết,
    tôi sẽ đi dạo trên các đồi chè thoải dài lên xuống của đồn điền.
    Chẳng may cho tôi, cuốn tiểu thuyết ấy cứ ngắc nga ngắc
    ngứ, ho lên ho xuống, rồi chết hẳn. Lúc đó tôi đang ở
    Matheran, không xa Bombay là mấy, một trang trại ở trung du,
    cũng có vài chú khỉ nhưng không có vườn chè nào. Đối với

    các văn sĩ chưa thành danh, tình cảnh ấy thật sự khốn khổ. Bạn
    có chủ đề tốt, câu chữ cũng chẳng kém gì. Các nhân vật bạn
    dựng lên thật sống động đến mức muốn đi xin giấy khai sinh
    cho chúng. Diễn biến tình tiết của câu chuyện bạn đã vạch ra
    hết cả, thật lớn lao, giản dị, và hấp dẫn. Bạn đã nghiên cứu hẳn
    hòi đâu ra đấy, thu thập đủ cả các dữ liệu lịch sử, xã hội, khí
    hậu, ẩm thực, những thứ sẽ khiến cho câu chuyện có giá trị
    đích thực. Những đoạn đối thoại cứ nối nhau thật tự nhiên, lấp
    lánh, căng thẳng. Những đoạn miêu tả bùng lên đầy màu sắc,
    tương phản và các chi tiết sắc sảo đầy ý nghĩa. Thực sự là câu
    chuyện viết ra như vậy chỉ có thể hay mà thôi. Thế mà tất cả
    những cái đó chẳng hợp thành một cái gì cả. Mặc cho những
    hứa hẹn sáng lạn và hiển nhiên của câu chuyện, sẽ đến lúc bạn
    chợt nhận ra những lời thì thầm vẫn luôn thôi thúc bạn viết nó
    ra bấy lâu nay lại rót vào tai bạn một sự thật rõ ràng và khủng
    khiếp, rằng câu chuyện hỏng rồi. Nó thiếu một thứ, cái tia lửa
    có khả năng thổi sự sống vào một câu chuyện, bất kể là các dữ
    liệu lịch sự hoặc ẩm thực của bạn đúng hay là sai. Câu chuyện
    của bạn thế là chết hẳn về mặt tình cảm rồi, đó là mấu chốt của
    vấn đề. Nhận ra sự thật này cũng giống như bị rơi vào một
    thảm hoạ tàn hại linh hồn, tôi phải nói với bạn như vậy. Khi
    tỉnh lại, mình phải sống với cảm giác luôn luôn bị đó, đến thắt
    ruột thắt gan.
    Từ Matheran, tôi nhét hết các giấy tờ bản thảo của cuốn
    tiểu thuyết không thành ấy vào phong bì. Tôi gửi chúng đến
    một địa chỉ hư cấu ở Siberia, với một địa chỉ người gửi cũng
    hư cấu và quẳng cái phong bì vào thùng chọn thư, tôi ngồi
    phịch xuống ngay đó, chán nản hết sức. “Sẽ ra sao đây hở
    Tolstoy?”, tôi tự hỏi, “Mày còn có ý tưởng hay ho nào khác
    cho cuộc đời của mày không?”
    Gì thì gì, vẫn còn một ít tiền và vẫn cảm thấy bứt rứt
    không yên, tôi đứng dậy, bước ra khỏi nhà bưu điện và quyết
    định đi thám hiểm miền Nam ấn Độ.
    Với những người hỏi tôi làm nghề gì, tôi đã muốn trả lời:
    “Tôi là đốc-tờ”. Trong tâm trí tôi lúc ấy, bác sĩ là những người
    phân phát pháp thuật và phép lạ. Nhưng tôi lại tin rằng chỉ qua
    khỏi chỗ quành trước mặt kia là chiếc xe buýt sẽ gặp tai nạn,
    và rồi giữa tiếng kêu la rên rỉ của nạn nhân và các cặp mắt sẽ
    dán chặt vào tôi kêu cứu, tôi sẽ lại phải giải thích rằng danh vị

    đốc tờ của tôi không phải là bác sĩ y khoa mà là tiến sĩ luật; thế
    rồi, khi họ xúm vào đề nghị tôi giúp họ kiện chính phủ về vụ
    tai nạn, tôi sẽ lại phải phân trần rằng bằng cấp của tôi thực sự
    chỉ là cử nhân triết học mà thôi; tiếp đó, họ sẽ gào thét đòi biết
    cái tai nạn đẫm máu ấy thực sự có ý nghĩa gì không, và tôi sẽ
    phải thú nhận rằng tôi chưa hề đọc đến Kierkegaard; vân vân
    và vân vân. Thế là tôi đành thui thủi với danh phận nhà văn,
    một sự thật tím bầm và tủi hổ.
    Trên đường, chỗ này chỗ kia, cũng có người đối đáp lại cái
    danh phận nhà văn ấy. Họ bảo: “Một nhà văn ư? Thật chứ? Tôi
    có một câu chuyện cho ông đây.” Hầu hết những câu chuyện
    đó chỉ nhỉnh hơn những mẩu giai thoại chút xíu, đều hụt hơi,
    thiếu sức sống.
    Tôi đến thị trấn Pondicherry, một khu tự trị nhỏ xíu trong
    Liên hiệp Anh về phía nam Madras, ngay trên bờ biển Tamil
    Nadu. Về dân số và diện tích, Pondicherry là một phần đất
    không có nghĩa lí gì của ấn Độ (so về diện tích thì đảo Price
    Edward là một lãnh thổ khổng lồ của Canada), nhưng lịch sử
    đã khiến cho nó nổi bật. Bởi lẽ Pondicherry đã từng là thủ phủ
    của lãnh thổ ấn Độ thuộc Pháp, cho dù lãnh thổ này chỉ là một
    bộ phận khiêm tốn nhất trong các vương quốc thuộc địa ngày
    xưa. Người Pháp chắc hẳn đã rất muốn cạnh tranh với người
    Anh, muốn lắm, nhưng cái lãnh thổ mà họ trầy trật mãi mới
    chiếm lĩnh được chỉ bao gồm một nhúm các hải cảng nho nhỏ.
    Họ bám vào những hai cảng này trong gần ba trăm năm. Họ
    rời Pondicherry năm 1954, bỏ lại đó những toà nhà trắng xinh
    xắn, những đường phố rộng chạy vuông góc với nhau, những
    tên phố như rue de la Marinne, và Saint Louis, và danh từ
    kepis, chỉ loại mũ lưỡi trai của cảnh sát.
    Tôi ngồi trong quán cà phê có tên Indian Coffee House,
    phố Nehru. Một gian phòng rộng, tường màu xanh lá cây, trần
    cao. Quạt trần chạy vù vù trên đầu để lưu thông bầu không khí
    ẩm ướt. Quán kê chật hết chỗ các bàn hình vuông giống hệt
    nhau, mỗi bàn bốn ghế. Bạn ngồi được chỗ nào thì ngồi, chung
    bàn với người nào thì chịu người ấy. Cà phê thì ngon, lại có
    bán cả bánh mì nướng giòn. Rất dễ bắt chuyện. Và thế là, một
    ông già quắc thước mắt sáng với những lọn tóc trắng phau
    đang nói chuyện với tôi. Tôi khẳng định với ông ta rằng
    Canada đúng là lạnh, rằng có những vùng đúng là nói tiếng

    Pháp, và rằng tôi đúng là thích ấn Độ, vân vân và vân vân một thứ trò chuyện nhẹ nhàng thường thấy giữa những người
    bản xứ tò mò hiếu khách với dân “balô” ngoại quốc. Nghe tôi
    nói là nhà văn, ông già tròn mắt, gật đầu. Đến lúc phải đi rồi.
    Tôi giơ tay, cố vẫy ra hiệu cho người hầu bàn đem hóa đơn ra
    tính tiền.
    Rồi ông già bảo: “Tôi có một câu chuyện sẽ khiến anh tin
    vào Thượng đế.”
    Tôi không vẫy tay nữa. Nhưng vẫn nghi ngại. Biết đâu lại
    là dòng Thánh Chứng(1) đang gõ cửa? Tôi hỏi: “Chuyện của
    cụ xảy ra hai nghìn năm trước ở một nơi hẻo lánh trong Vương
    quốc La Mã phải không ạ?”
    “Không.”
    “Biết đâu ông lão lại là người rao giảng đạo Hồi. “Thế có
    xảy ra tại Arập vào thế kỷ thứ VII không ạ?”
    “Không, không. Câu chuyện bắt đầu ngay ở Pondicherry
    này mới vài năm trước đây, và kết thúc, tôi xin nói để ông hay,
    ở ngay chính quê hương của ông.”
    “Và nó sẽ khiến cho tôi tin vào Thượng đế?”
    “Đúng như vậy.”
    “Thế thì cao cấp quá.”
    ”Không cao đến nỗi ông không với tới được.”
    Người hầu bàn đã đến. Tôi do dự một giây, rồi gọi tiếp hai
    tách cà phê. Chúng tôi bắt đầu tự giới thiệu làm quen nhau.
    Tên ông lão là Francis Adirubasamy. Tôi nói. “Nào, cụ làm ơn
    kể câu chuyện đó đi.”
    “Anh phải thật chú ý nghe mới được,” ông lão trả lời.
    “Vâng.” Tôi lấy bút và sổ ghi chép.
    “Vậy, anh đã đến thăm vườn bách thảo ở đây chưa?” Ông
    lão hỏi.
    “Tôi vừa mới tới đó hôm qua.”
    “Anh có thấy cái đường tầu hỏa giải trí ở đó không?”
    “Dạ có.”

    “Hiện vẫn còn một tàu chạy vào ngày Chủ nhật cho trẻ con
    đi chơi. Nhưng trước đây ngày nào cũng có tàu chạy, mỗi giờ
    hai chuyến. Anh có để ý tên gọi của các trạm đỗ tàu không?”
    “Có một trạm gọi là Roseville. Ngay cạnh chỗ vườn
    hồng.”
    “Đúng rồi. Thế còn trạm kia.”
    “Tôi không nhớ.”
    “Họ bỏ cái biển tên đi rồi. Trạm đỗ kia ngày trước gọi là
    Zootown. Đường tầu ấy có hai trạm đỗ: Roseville và Zootown.
    Ngày xưa có một vườn thú trong khu vườn bách thảo
    Pondicherry.”
    Ông lão kể. Tôi ghi chép các yếu tố của câu chuyện. “Anh
    phải nói chuyện với cậu ấy,” ông lão bảo tôi, về nhân vật
    chính. “Tôi biết cậu ấy. Bây giờ đã là người lớn rồi. Anh phải
    hỏi chuyện cậu ấy, với tất cả các thắc mắc của anh.”
    Sau đó, ở Toronto, trong số chín cột liệt kê các chủ hộ
    mang họ Patel trong danh bạ điện thoại, tôi đã tìm ra người ấy,
    nhân vật chính của câu chuyện. Tim tôi đập thình thịch khi
    quay số phone của anh ta. Giọng trả lời rất Canada, nhưng vẫn
    nghe được âm sắc ấn Độ, nhẹ thôi nhưng không thể lẫn vào
    đâu được, như một thoáng hương nhang trong không khí.
    “Chuyện đã lâu lắm rồi,” anh nói. Nhưng rồi anh vẫn đồng ý
    gặp. Chúng tôi đã gặp nhau nhiều lần. Anh cho tôi xem cuốn
    nhật ký anh viết trong thời gian xảy ra các sự kiện của câu
    chuyện. Anh cho tôi xem cả những mẩu tin, bài cắt trên báo đã
    có lúc khiến anh nổi tiếng, cho dù ngắn ngủi và mờ nhạt. Anh
    kể câu chuyện của mình cho tôi nghe. Còn tôi thì ghi chép.
    Gần một năm sau, khó khăn mãi tôi mới nhận đựơc một cuốn
    băng ghi âm và một bản tường trình của Bộ Giao thông vận tải
    Nhật Bản. Chính khi lắng nghe cuốn băng ghi âm đó tôi thấy
    đồng ý với ông lão Adirubasamy rằng quả thực đây là câu
    chuyện sẽ khiến cho bạn đọc phải tin vào Thượng đế.
    Lẽ tự nhiên là câu chuyện của ông Patel phải được kể lại
    chủ yếu là theo ngôi thứ nhất - tức là bằng chính lời kể của
    ông và theo con mắt nhìn nhận của ông. Còn mọi thứ sai lệch
    hoặc nhầm lẫn sẽ hoàn toàn là lỗi ở tôi.

    Tôi phải mang ơn nhiều người trong việc này. Rõ ràng là
    tôi phải cảm ơn ông Patel đầu tiên. Lòng biết ơn của tôi đối
    với ông mênh mang như Thái Bình Dương và tôi hy vọng rằng
    việc tôi kể lại câu chuyện của ông sẽ không làm ông thất vọng.
    Tôi cũng cảm ơn cụ Adirubasamy đã dắt tôi và câu chuyện
    này. Còn để giúp cho tôi hoàn thành được câu chuyện, tôi phải
    cảm ơn ba vị quan chức có phẩm chất chuyên nghiệp mẫu
    mực. Đó là các ông Kazuhiko Oda, từng làm đại sứ quán Nhật
    ở Ottawa; ông Hiroshi Watanabe của công ty tầu biển Oika; và
    đặc biệt là ông Tomohiro Okamoto, thuộc Bộ giao thông vận
    tải Nhật Bản, giờ đã nghỉ hưu. Còn về cái tia lửa thổi được sự
    sống vào cuốn tiểu thuyết, tôi xin mắc nợ ông Moacyr
    Scliar(2). Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của
    tôi đến với cơ quan vĩ đại, tức là Hội đồng bảo trợ nghệ thuật
    Canada, vì nếu không thể chắp nối được câu chuyện này, vốn
    chẳng dính dáng gì đến Bồ Đào Nha thời 1939. Nếu chúng ta,
    những công dân, không hỗ trợ các nghệ sỹ, thì chúng ta sẽ giết
    trí tưởng tượng của mình làm vật hiến tế cho hiện thực thô
    thiển để rồi chỉ biết qua ngày đoạn tháng, không biết tin vào
    cái gì, với rặt nhưng giấc mơ vô giá trị.
    –––––––––––––––––––Ghi chú:
    (1) Thánh chứng: Tạm dịch chữ Jehova's Witness, tên một
    dòng đạo Thiên Chúa, chuyên tâm phổ biến tín ngưỡng này
    dựa trên các câu chuyện chứng minh sự hiện hữu có chứng
    kiến của Chúa Jesus. (ND)
    (2) Nhà văn Brazin đương đại, sống và làm việc ờ Porto
    Alegre, thủ phủ tiểu bang Rio Grande do Sul, miền nam
    Brazil. Đã xuất bản hơn năm mươi tác phẩm, trong đó có
    những tiểu thuyết nồi tiếng như Đội quân một người, Con
    Nhân ngưu trong vườn nhà, Bài ca của Đấng Cứu thế giả hiệu,
    Vũ hội của các loài thú vật… Xuất thân trong một dòng họ Do
    Thái – Nga di cư sang Brazil từ cuối thế kỷ trước, từ những
    năm 1960, ông vừa hành nghề bác sĩ vừa viết tiểu thuyết và là
    đại biểu xuất sắc của dòng văn học Do Thái – Brazil hiện nay.
    (ND)

    Chương 1

    Đau khổ đã biến tôi thành một kẻ u buồn.
    Dần dần, công việc học hành chữ nghĩa và tu tập tín
    ngưỡng đều đặn cũng khiến tôi vui sống trở lại. Tôi vẫn duy trì
    cái mà nhiều người có thể coi là những hành vi tín ngưỡng kì
    lạ. Tôi học chương trình phổ thông trung học trong một năm,
    rồi vào đại học tổng hợp Toronto, lấy hai ngành chính trong
    chương trình cử nhân, là nghiên cứu tôn giáo và động vật học.
    Luận văn nam thứ tư về tôn giáo của tôi đề cập đến một số
    phương diện của lí thuyết vũ trụ tiến hoá của Issac Luria, một
    tín đồ Kabbalist (1) vĩ đại hồi thế kỉ 16 ở Safed. Luận văn
    động vật học của tôi là một nghiên cứu phân tích chức năng
    tuyến nước bọt của loài culi ba móng. Tôi chọn loài cu li bởi
    tính cách khiêm nhường của nó - bình thản, im lặng và hướng
    nội - hình như đã có tác dụng an ủi phần nào mảnh hồn tan nát
    của tôi.
    Có loài cu li hai móng và có loài culi ba móng , phân biệt
    theo chân trước của chúng, vì chân sau của tất cả culi đều có
    ba móng. Tôu có một may mắn lớn là được nghiên cứu loài
    culi ba móng ngay tại môi sinh tự nhiên của chúng ở rừng rậm
    nhiệt đới Brazil trong một kì hè. Con vật này quả thật là một
    sinh linh kì bí. Thói quen thật sự duy nhất của nó là thói vô vi.
    Nó ngủ hoặc nghĩ ngơi trung bình hai mươi tiếng một ngày.
    Độ nghiên cứu của chúng tôi đã thí nghiệm theo dõi nếp ngủ
    của năm con culi ba móng bằng cách đặt lên đầu chúng, sau
    khi chúng đã thiếp đi vào lúc chiều tà, những cái đĩa nhựa màu
    đỏ tươi đựng đầy nước. Đến sáng hôm sau, những cái đĩa này
    vẫn y nguyên, đầy nước và đầy các loại côn trùng vùng vẫy
    trong đó. Con culi chỉ bận rộn vào lúc mặt trời đang lặn, với
    nghiã thoải mái nhất của từ bận rộn. Nó bò dọc cành cây trong
    tư thế lộn ngược điển hình với tốc độ khoảng bốn trăm mét
    một giờ. Dưới mặt đất, nó bò từ cây này sang cây kia với tốc
    độ hai trăm hai mươi mét một giờ nếu có lý do chính đáng,
    bốn trăm bốn muơi lần chậm hơn tốc độ duy chuyển có lí do
    của loài báo cheetah. Còn nếu ko có lí do gì, mỗi giờ chúng
    chỉ di chuyển được khoảng bốn đến năm mét.
    Con culi ba móng không biết gì mấy đến thế giới chung
    quanh nó. Có thang điểm từ hai đến mười, hai là mức độ lờ

    mờ bất thường và mười là mức linh hoạt cực điểm, tác giả
    Beebe (1926) đã đánh giá giác quan của lưỡi, da, mắt và tai
    của loài culi ở mức hai, còn mũi thì ỡ mức ba. Nếu ta gặp một
    con culi đang ngủ trong rừng, ta chọc hoặc lay nó hai ba cái,
    nó sẽ tỉnh dậy, và cặp mắt ngái ngủ của nó sẽ nhìn quanh,
    nhưng không thèm nhìn về phía ta. Không biết tại sao nó lại có
    thói quen nhìn quanh như thế, vì thực ra con culi nhìn cái gì
    thì cũng như một vệt nhoè nhoẹt mà thôi. Về nghe loài culi
    cũng ko đến nỗi điếc lắm, mà thực ra là không thích nghe. Tác
    giả Beebe có viết rằng culi đang ngủ hoặc đang ăn mà ta có gí
    súng bắn ngay bên cạnh thì nó cũng chỉ hơi nhúc nhích mà
    thôi. Và ta cũng ko nên đánh giá quá mức cái khả năng ngửi
    được cho điểm khá hơn của culi. Người ta tin chúng có khả
    năng đánh hơi thấy và tránh các cây mục, nhưng tác giả
    Bullock (1968) lại tường trình rằng ông “thường xuyên” thấy
    các con culi ngã xuống đất vẫn bám chặt lấy đoạn cành mục
    mà nó đã bò lên.
    Ta có thể hỏi vậy làm sao mà chúng sống được.
    Chình là nhờ sự chạm chạp như vậy. Tính cách ngủ mê
    ngủ mệt của culi đã giữ cho chúng không bị xa vào vòng nguy
    hiểm, không rơi vào tầm ngắm của hổ báo, cầy cáo, diều quạ.
    Lông culi là nơi cư trú của một loại tảo có màu nâu trong mùa
    khô và màu xanh lá cây trong mùa mưa, giúp cho nó lẫn lộn
    vào rêu lá xung quanh, trông như một tổ kiến hoặc tổ sóc, hoặc
    chỉ như một phần sần sùi của một cái cây.
    Con culi ba móng sống cuộc đời chay tịnh, yên bình trong
    sự hài hoà hoàn hảo với môi trường . “Với một nụ cười tốt
    lành thường trực trên môi”, tác giả Tirler (1966) đã viết như
    vậy. Tôi đã tận mất thấy nụ cười ấy. Tôi ko có tính thích gán
    cho loài vật những tính cách và tình cảm của con người, nhưng
    đã biết bao lần trong tháng hè đó tại Brazil, khi ngước nhìn
    những con culi đang trong tư thế nghỉ ngơi, tôi cảm thấy như
    mình đứng truớc những đạo sĩ yoga ở tư thế lộn ngược đang
    chìm sâu trong suy tưởng, hoặc những ẩn sĩ đang nguyện cầu
    khẩn thiết, những đấng hiền triết có cuộc sống bay bổng đầy
    những tưởng tượng hào sảng mà trí lực dò dẫm kiểu khoa học
    của tôi không thể nào vươn tới được.

    Đôi khi tôi bị lẫn lộn hai ngành học của mình. Một số bạn
    học với tôi trong môn nghiên cứu tôn giáo - những kẻ theo
    thuyết bất khả tri, không phân biệt được đâu là trên đâu là
    dưới, luôn ghê tởm lý lẽ vốn là vàng ròng của những người
    thông sáng - khiến tôi liên tưởng đến loài culi ba móng; còn
    con culi ba móng, tiêu bản đẹp đẽ của phép lạ cuộc sống, thì
    lại khiến tôi nghĩ tới Thương Đế.
    Không bao giờ tôi gặp rắc rối với các dồng nghiệp khoa
    học. Các khoa học gia là một đám người thân thiện, vô thần,
    chăm chỉ, thích rượu bia vá luc không bận bịu với khoa học thì
    họ chỉ quan tâm đến tình dục, cờ vua và bóng chày.
    Tôi là một sinh viên oách, tôi có thể nói vậy. Tại đại học
    Thánh Michael, tôi đứng đầu bảng bốn năm liền. Tôi dành
    được tất cả các phần thưởng cho sinh viên của khoa Động vật
    học. Nếu như tôi không giành được phần thưởng nào của khoa
    nghiên cứu tôn giáo thì chỉ đơn giản là khoa này chẳng có một
    phần thưởng nào dành cho sinh viên ( Chúng ta đều biết rằng
    các phần thưởng cho việc nghiên cứu tín ngưỡng ko nằm trong
    tay đám phàm phu tục tử như chúng ta :D) Cón tấm Huân
    chương Học Thuật cua ngài Tổng đốc, phần thưởng cao quí
    nhất của Đại học Toronto cho sinh viên phần lớn chỉ dành cho
    các công dân Canada xuất sắc; nếu ko vì cái thằng cu ấy, da
    trắng hồng, an thịt bò, cổ to như gốc cây, hơn hớn ầm ĩ rất khó
    chịu, thì tôi đã dành được nó rồi.
    Tôi vẫn còn thấy đau khổ vì những chuyện nhỏ nhặt. Khi
    người ta đã chịu nhiều đau đớn ở đời, mỗi một nỗi đau mới sẽ
    vừa nặng trĩu mà cũng lại chẳng là gì….
    Cuộc đời tôi cũng giống như một bức tranh mementomori
    (2) troong nghệ thuật Châu Âu: lúc nào cũng có một chiếc đầu
    lâu nhe răng cuời bên cạnh để nhắc nhở tôi về những phù du
    của ham muốn nhân sinh. Tôi giễu cợt chiếc đầu lâu. Tôi nhìn
    nó và bảo: ” Mày chọn nhầm đối tượng rồi. Mày có quyền ko
    tin vào cuộc đời, nhưng tao lại ko tin vào sự chết. Đi chỗ
    khác!”. Chiếc đầu lâu nhúc nhắc rồi nhích lại gần hơn nhưng
    tôi chẳng ngạc nhiên. Lí do sự chết cứ bám riết lấy sự sống
    như vậy ko phải là vì nhu cầu sinh học - đó là sự ghen tị. Sự
    sống đẹp đến nỗi sự chết đã phải lòng nó, một mối tình tư vị

    đầy ghen tuông quắp chặt lấy bất cứ thứ gì nó có thể động đến.
    Nhưng sự sống nhẹ nhàng bỏ qua, mất mát vài thứ chẳng gì
    đáng kể, và nỗi u buồn chỉ như một bóng mây bay. Thằng cu
    trắng hồng lại được thưởng cả học bổng Rhodes. Tôi yêu hắn
    và mong cho hắn học được thật nhiều thứ tại Oxford. Nếu như
    Lakshmi, nữ thần tài sản, có ngày nào đó ban phát cho tôi ân
    sủng của người thì Oxford sẽ đứng thứ năm trong danh sách
    các thành phố tôi muốn viếng thăm trước khi quá vãng, sau
    Mecca, Varanasi, Jerusalem và Paris.
    Cuộc đời đi làm của tôi chẳng có gì đáng nói, chỉ trừ một
    nhận xét rằng cà-vạt là một cái thòng lọng, và mặc dù lộn
    ngược, nó sẽ treo cổ nguời ta đến chết nếu ko thận trọng.
    Tôi yêu Canada. Tôi nhớ cái nóng của ấn Độ, nhớ các món
    ăn, bọn thằn lằn bò trên tường nhà, phim kịch hát trên truyền
    hình, lũ bò đủng đỉnh ngoài phố, lũ quạ kêu quàng quạc, nhớ
    đến cả những cuộc bàn tán về các trận đấu cricket (3), nhưng
    tôi yêu Canada. Một xứ sở vĩ đại tuy có hơi quá lạnh đối với
    người lành mạnh, nơi cư ngụ của những con người thông minh
    hăng hái, nhưng đầu tóc để ko được đẹp. Dù sao Pondicherry
    chẳng còn có cái gì để tôi muốn quay về.
    Richard Parker vẫn ỡ bên tôi. Chưa khi nào tôi quên được
    nó. Có dám nói tôi nhớ nó hay ko ư? Có đấy. Tôi có nhớ nó.
    Vẫn thấy nó trong các giấc mơ. Phần lớn là ác mộng nhưng là
    ác mông nhuốm màu tình yêu. Lòng nguời thật lạ. Tôi vẫn ko
    thễ hiểu nổi tại sao nó có thể bỏ tôi đi một cách dửng dưng
    như thế, không một cử chỉ chia tay nào, ko hề ngoái lại lấy
    một lần. Nỗi đau như thể ai cầm rìu mà bổ vào tận tim vậy.
    Các bác sĩ và hộ lý trong bệnh viện tại Mexico thật tốt với
    tôi hết chỗ nói. Cả các bệnh nhân cũng vậy. Bệnh nhân ung
    thư và nạn nhân tai nạn xe cộ, một khi đã nghe câu chuyện của
    tôi, họ chống nạng và lăn xe đến thăm tôi, họ và gia đình họ,
    mặc dầu ko ai nói tiếng Anh, còn tôi thì ko biết tiếng Tây Ba
    Nha. Họ mỉm cười với tôi, bắt tay tôi, vỗ về lên đầu tôi, để các
    món quà, thức ăn và quần áo lại trên giường tôi. Họ khiến tôi
    rơi vào những trận khóc trận cười ko thễ ghìm lại được.
    Chỉ trong vòng một ngày là tôi đã đứng lên được, thậm chí
    còn đi được một hai bưóc, mặc dù vẫn buồn nôn, chóng mặt và
    mệt mỏi toàn thân. Xét nghiệm máu cho thấy tôi thiếu hồng

    cầu nghiêm trọng, lượng muối thì cao mà kiềm thì thấp. Cơ
    thể tôi bị đọng dịch, hai chân phù ghê gớm. Trông tôi như một
    anh bị ghép đôi chân voi vậy. Nước giải thì đục, vàng sẫm gần
    nhu nâu. Thế mà sau đó độ 1 tuần, tôi đã có thể đi lại bình
    thường, và có thể đi giày nếu không buộc giây. Da dẻ tôi lành
    trở lại, mặc dù có sẹo ở vai và lưng.
    Lần đầu tiên tôi vặn được vòi máy nước , dòng nước phụt
    ra thật ầm ĩ, phí phạm và xả láng đến nỗi tôi bị choáng, ngã
    ngất vào tay người hộ lý.
    Lần đầu tôi đến một quán ăn ấn Độ ở Canada, tôi bốc thức
    ăn bằng tay. Người hầu bàn nhìn tôi một cách nghiêm nghị và
    nói: ” Vừa đưới tàu mới lên phải không?”. Tôi tái người.
    Những ngón tay tôi, một giây truớc đó còn như những búp vị
    giác đang thưởng thức món ăn trước khi đưa chúng vào miệng,
    đột nhiên thành ra thật bẩn thỉu dưới ánh mắt của anh ta.
    Chúng cứng đơ lại như những kẻ tội phạm bị bắt quả tang. Tôi
    không dám liếm chúng, tôi lau chúng bằng giấy ăn như một kẻ
    có lỗi. Anh hầu bàn ko thể biết câu nói của anh ta đã cứa
    những vết thương vào lòng tôi sâu đến thế nào. Chúng như
    những cái đanh nhọn đóng ngập vào ngực tôi. Tôi nhặt con
    dao và cái dĩa. Tôi thực sự ko nhớ mình đã từng dùng những
    thứ đó bao giờ chưa. Hai bàn tay tôi run bắn. Dịch vị tôi khô
    kiệt.
    ––––––––––––––––––––––(1)Kabala hoặc Cabala: hệ thống lý thuyết thần học bí
    truyền do các thầy cả Do Thái (rabbi) phát triền và lên tới đỉnh
    điểm trong các thế kỉ 12,13 có ảnh hưởng phần nào đến tư
    tưởng của một số triết gia Cơ Đốc giáo thời trung cổ và phục
    hưng. Cốt lõi của Cabala là phương pháp diển giải kinh sách
    rất bí hiểm mà các tín đồ tin rằng giúp họ thâm nhập các bí
    mật thiêng liêng. Người theo thần học Cabala tin rằng muôn
    vật đều là biến hình của Thượng Đế và Linh hồn đã tồn tại từ
    cõi vô cùng. (ND)
    (2)Memento mori: tiếng Latin, nghĩa là “nhắc ta nhớ đến
    cái chết” (ND)

    (3) Cricket: Môn thể thao ngoài trời gần giống như môn
    bóng chày ờ Mỹ, rất phổ biến ở ấn Độ (ND).

    Chương 2
    Anh sống ở Scarborough. Một người nhỏ nhắn, mảnh mai,
    cao không quá một thước sáu. Tóc đen, mắt đen. Bắt đầu hoa
    râm hai bên thái dương. Trông không thể quá 40. Nước da
    màu cafe dễ chịu. Mới vào tiết thu đã khoác áo choàng mùa
    đông có mũ chùm lót lông để đi ăn tối. Gương mặt biểu cảm.
    Nói nhanh, hai tay hơu theo lời. Không chuyện vặt. Đã vào
    chuyện là kể liền.

    Chương 3
    Tên tôi là tên một cái bể bơi, cũng là chuyện lạ vì cha mẹ
    tôi chẳng bơi lội bao giờ. Một torng những người có công
    chuyện sớm nhất với ba tôi là ông Francis Adirubasamy. Ông
    trở thành người bạn tốt của gia đình. Tôi gọi ông là Mamaji.
    Tiếng Tamil, mama nghĩa là bác, còn ji là vĩ đại hay dùng ở ấn
    Độ để biểu lộ lòng yêu mến và kính trọng. Khi ông còn trẻ
    nghĩa là rất lâu trước khi tôi ra đời, Mamaji là quán quân bơi
    lội của toàn vùng Nam ấn. Cả đời trông ông lúc nào cũng ra
    một nhà quán quân. Anh Ravi của tôi có lần bảo rằng khi
    Mamaji, ông ấy vẫn đòi tiếp tục thở trong nước đến nỗi bác sĩ,
    để cứu sống ông, đã phải túm lấy hai chân thằng bé rồi quay
    tròn trên đầu mình một lúc.
    “Như thế này này!” Ravi nói, tay quay tít trên đầu. “Thằng
    bé ho sặc hết nước ra và bắt đầu thở không khí, nhưng máu
    thịt nó bị quay dồn hết lên phần trên của cơ thể, nên ngực nó
    mới đầy thế và chân nó mới khẳng khiu thế”.

    Tôi tin Ravi. (Anh Ravi là tên trêu người lưỡi nhọn. Lần
    anh gọi Mamaji là ” Ông Cả” ngay vào mặt tôi, tôi đã vứt vỏ
    chuối vào giường anh.) Ngay ở tuổi sáu mươi, khi Mamaji đã
    hơi còng và thịt ông đã hơi bị trọng lực kéo xuống dưới, ông
    vẫn hàng sáng bơi đủ 30 lần chiều dài của bể bơi Aurobindo
    Ashram (1)
    Ông cố dạy cha mẹ tôi bơi, nhưng chẳng bao giờ cha mẹ
    tiến bộ quá mức lội xuống nước đến đầu gối ở bãi biển và làm
    các động tác khoát tròn. Nếu cha mẹ tôi đang tập bơi ếch
    chẳng hạn, thì trông như họ đang đi trong rừng, vừa đi vừa lấy
    tay vạch cỏ trước mặt. Còn nếu cha mẹ tập bơi sải thì trông
    như họ đang chạy từ trên đồii xuống và cứ phải vung tay cho
    khỏi ngã. Anh Ravi thì cũng kém hăng hái chẳng thua gì thế.
    Mamaji phải đợi đến khi tôi xuất hiện để có thể có được
    một môn đệ hăng hái. Ngày tôi đến tuổi bơi lội, tức là lên 7,
    theo tuyên bố của Mamaji và khiến mẹ tôi phát phiền, ông
    đem tôi xuống bãi biển, khoát tay về phía chân trời và nói:
    “Đây là món quà của ta cho con.”
    “Rồi ông ấy suýt để con chết đuối”. Mẹ tôi bảo vậy.
    Tôi vẫn trung thành với thủy sư phụ của mình. Dưới con
    mắt canh chừng của ông, tôi nằm trên bãi biển, quẫy chân,
    quạt tay trên cát, đầu quay bên này bên kia để thở theo mỗi
    động tác. Chắc hẳn trông tôi như một thằng nhóc đang làm
    mình làm mẩy một cách chậm chạp rất lạ. Dưới nước, ông giữ
    cho tôi nổi và tôi hết sức bơi. Khó hơn nhiều so với tập trên
    cạn. Nhưng Mamaji kiên trì và đầy khích lệ.
    Khi ông thấy tôi tiến bộ rồi, chúng tôi bắt đầu chấm dứt
    những cuộc chạy nhảy nô rỡn với những làn sóng xanh biếc
    sủi bọt của bờ biển và bắt đầu việc luyện tập qui củ (và phải
    trả tiền) trong cái phẳng phiu nghiêm túc của hồ bơi cư xá.
    Mỗi tuần ba lần, vào Thứ Hai, Thứ Tư và Thứ Sáu, trong
    suốt những năm thơ ấu, tôi đãđi với ông đến bể bơi vào sáng
    sớm và thực hiện một thứ nghi lễ chính xác và đều đặn như
    một cỗ máy đồng hồ của bài luyện tập bơi sải. TÔi còn nhớ
    như in hình ảnh sinh động của ông già đáng kính đang bắt đầu
    khoả thân bên cạnh tôi, cơ thể ông lô ra dần, và cuối cùng chỉ
    hơi quay đi để giữ thể diện với bộ quần bơi của vận động viên

    chính cống nhập khẩu đẹp tuyệt. Ông đứng thẳng người trong
    tư thế sẵn sàng. Hình ảnh ấy thật giản dị và hùng tráng. Học
    bơi, rồi tập bơi, thật cực nhọc nhưng có niềm khoái lạc sâu xa
    khi cảm thấy mỗi động tác của ta ngày càng nhẹ nhàng và đưa
    ta lướt tới nhanh chóng hơn, nhanh hơn nữa, cho tới lúc như
    mê đi, và khối nước nặng như chì trở thành một chất lỏng nhẹ
    bổng.
    Từ ấy tôi lẻn trở lai biển một mình, một khoái lạc tội lỗi,
    đáp lại sự mời mọc của những ngọn sóng hùng vĩ ào ạt đổ vào
    bờ để rồi lại khiêm tốn lăn tăn chạy đến với tôi, những vòng
    tay dịu dàng choàng lấy thằng bé ấn Độ tự nguyện đến với
    chúng.
    Món quà tôi tặng Mamaji một dịp sinh nhật, lúc đó chắc
    tôi mười ba mười bốn tuổi gìđó, là 2 vòng bơi buớm hoàn
    chỉnh. Tôi đến đích mệt đến nổi không giơ nổi tay để chào vẫy
    ông nữa.
    Bên cạnh việc bơi lội còn có việc nói về nó nữa. Cha tôi
    rất thích nói đến bơi. Cha càng không chịu tập bơi bao nhiêu
    thì càng thích bơi bấy nhiêu. Bơi lội là chuyện xả hơi của...
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn. (Barack Obama)

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT CẨM GIÀNG II - HẢI DƯƠNG !