THÔNG BÁO

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

SÁCH NÓI - KỸ NĂNG SÓNG

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH HAY CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    TRÍCH DẪN HAY

    Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Gioi_han_sinh_thai_xuong_rong.png Gioi_han_sinh_thai_cua_tam.png Gioi_han_sinh_thai_ca_ro_phi.png BANDOKINHTE.jpg HB_NHOMNUOC.jpg HB_MDDS.jpg Ban_do_cac_nuoc_Dong_Nam_A.jpg TDMNPB_tunhien.jpg

    KIẾN THỨC LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

    💕💕 💕💕Thư viện không phải là nơi để ghé qua trong vội vã, mà là nơi yên bình ta chọn dừng chân giữa bộn bề cuộc sống. Nơi đây, mỗi cuốn sách đều như một mảnh ghép của thời gian, gói ghém những tri thức và câu chuyện của biết bao thế hệ💕💕 💕💕

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng Sản Việt Nam

    Giet Con Chim Nhai - Harper Lee

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 10h:30' 07-03-2024
    Dung lượng: 1.7 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    GIẾT CON CHIM NHẠI

    Tên sách: Giết con chim nhại
    Tác giả: Harper Lee
    Người dịch: Huỳnh Kim Oanh & Phạm Viêm Hương
    Thể loại: Văn học nước ngoài
    Nhà xuất bản: NXB Văn học
    Năm sản xuất: 7/2008
    Đánh máy & sửa chính tả: nutuongcuop
    Chuyển sang ebook: nutuongcuop
    Ngày hoàn thành: 02/12/2008
    http://www.thuvien-ebook.com

    Mục lục
    Chương 1
    Chương 2
    Chương 3
    Chương 4
    Chương 5
    Chương 6
    Chương 7
    Chương 8
    Chương 9
    Chương 10
    Chương 11
    Chương 12
    Chương 13
    Chương 14
    Chương 15
    Chương 16
    Chương 17
    Chương 18
    Chương 19
    Chương 20
    Chương 21
    Chương 22
    Chương 23
    Chương 24
    Chương 25
    Chương 26
    Chương 27
    Chương 28
    Chương 29
    Chương 30
    Chương 31

    Tặng ông Lee và Alice vì Tình yêu và sự trìu mến

    Chương 1
    Khi sắp mười ba tuổi, anh trai Jem của tôi bị gãy ngay
    khuỷu tay. Khi lành lại, nỗi sợ không bao giờ có thể chơi bóng
    được nữa của Jem đã dịu bớt, anh ít nghĩ ngợi về thương tật
    của mình. Cánh tay trái của anh hơi ngắn hơn cánh tay phải;
    khi đứng hoặc đi, mu bàn tay anh cứ thẳng góc với thân mình,
    ngón cái song song với đùi. Anh hoàn toàn không quan tâm,
    miễn là anh còn chuyền và lốp bóng được.
    Sau nhiều năm tháng trôi qua đủ để giúp chúng tôi nhìn lại,
    đôi khi chúng tôi bàn bạc về những sự kiện đưa đẩy đến tai
    nạn này. Tôi vẫn cho rằng tất cả là do nhà Ewell, nhưng Jem,
    lớn tôi bốn tuổi, lại bảo chuyện này đã bắt đầu từ trước đó rất
    lâu. Anh nói chuyện đó bắt đầu vào mùa hè khi Dill đến chơi
    với chúng tôi, lúc Dill lần đầu mớm cho chúng tôi ý tưởng kéo
    được Bob Radley ra khỏi nhà.
    Tôi nói nếu anh muốn có một cái nhìn bao quát về sự việc
    này, thì thực sự nó bắt đầu với Andrew Jackson. Nếu tướng
    [1]
    Jackson không đẩy người Da đỏ Creek
    lên thượng nguồn
    thì Simon Finch sẽ không bao giờ chèo thuyền đến Alabama,
    và liệu chúng tôi sẽ ở đâu nếu ông không làm việc đó? Chúng
    tôi đã quá lớn không thể dàn xếp một cuộc tranh cãi bằng nắm
    đấm, vì vậy chúng tôi hỏi ý kiến bố Atticus. Bố nói cả hai đứa
    tôi đều đúng.
    Là dân miền Nam, một số người trong gia tộc thấy xấu hổ
    vì chúng tôi chẳng có tổ tiên nào được lưu danh ở phía bên này
    [2]
    hoặc bên kia trong trận Hasting
    . Chúng tôi chỉ có mỗi
    Simon Finch, một tay bào chế thuốc bẫy thú lấy lông gốc từ
    Cornwall, người chỉ để cho thói keo kiệt vượt trội hơn so với
    lòng mộ đạo của mình. Ở Anh, Simon tức tối trước việc bách
    hại những người tự xưng là tín đồ phái Giám lý dưới tay các
    đạo hữu cấp tiến hơn của họ và vì Simon cũng nhận mình là
    tín đồ Giám Lý nên ông ta tìm đường vượt Đại Tây Dương
    đến Philadelphia, sau đó đến Jamaica, rồi đến Mobile, và lên
    đến Saint Stephens. Luôn nghĩ đến những phê phán của John
    [3]
    Wesley về thói lắm lời trong việc mua bán, Simon kiếm tiền

    bằng việc hành nghề y, nhưng trong việc này ông ta không vui
    vì sợ mình bị cám dỗ phải làm những điều mà ông biết rằng
    không vì vinh quang của Chúa, như việc đeo vàng trên người
    và mặc quần áo đắt tiền. Vì thế Simon, sau khi quên đi châm
    ngôn của thầy giáo mình về việc sở hữu nô lệ, đã mua ba nô lệ
    và với sự trợ giúp của họ ông lập một trang trại trên bờ sông
    Alabama, cách Saint Stephens khoảng bốn mươi dặm về phía
    thượng nguồn. Ông chỉ trở lại Saint Stephens một lần, để tìm
    vợ, và ông đã cùng bà tạo dựng một dòng họ với nhiều con
    gái. Simon sống rất thọ và chết trong giàu có.
    Thông lệ của người trong gia tộc này là vẫn ở lại trang trại
    của Simon, nó có tên là Finch's Landing, và kiếm sống bằng
    nghề trồng bông vải. Trang trại này hoàn toàn tự túc: khá
    khiêm tốn so với những đại nông trại xung quanh, nhưng
    Landing vẫn sản xuất được mọi thứ để duy trì cuộc sống trừ
    nước đá, bộ mỳ và những thứ y phục, vốn phải mua từ những
    ghe thương hồ từ Mobile.
    Simon nhìn sự náo loạn giữa miền Nam với miền Bắc với
    nỗi giận dữ bất lực, vì nó khiến cho con cháu ông bị tước đoạt
    hết mọi thứ trừ đất đai của chúng, nhưng truyền thống sống
    bám vào đất vẫn được duy trì đến nhiều thập niên của thế kỷ
    hai mươi, khi bố tôi, Atticus Finch, đến Montgomery đế học
    luật, và em trai bố đến Boston học y. Chị Alexandra của bố là
    người họ Finch vẫn ở lại Landing: bà cưới một ông chồng ít
    nói, người dành phần lớn thời gian nằm trên chiếc võng cạnh
    bờ sông mà tự hỏi những dây câu của mình đã dính cá hết
    chưa.
    Khi được nhận vào luật sư đoàn, bố tôi trở về Maycomb và
    bắt đầu hành nghề. Maycomb, cách Finch's Landing mười hai
    dặm về phía Đông, là trung tâm của hạt Maycomb. Văn phòng
    của bố Atticus tại tòa án chẳng có gì nhiều hơn một cái giá
    treo mũ, một ống nhổ, một bàn cờ đam và một cuốn luật
    Alabama còn mới nguyên. Hai thân chủ đầu tiên của bố là hai
    người cuối cùng bị treo cổ trong nhà tù hạt Maycomb. Bố
    Atticus đã cố thuyết phục họ chấp nhận sự khoan hồng của
    tiểu bang trong việc cho phép họ nhận tội giết người cấp độ
    [4]
    hai
    và giữ được mạng sống, nhưng họ thuộc dòng tộc
    Haverford, ở hạt Maycomb cái tên này đồng nghĩa với thằng

    ngốc. Những tay Haverford này đã giết chết người thợ rèn giỏi
    nhất của Maycomb trong một vụ hiểu lầm xuất phát từ việc bắt
    giữ một con ngựa bị coi là sai trái, thật thiếu khôn ngoan khi
    làm việc đó trước mặt ba nhân chứng, và cứ khăng khăng rằng
    đồ-chó-đẻ-nếu-hắn-có-ý-đó là cách biện hộ đủ hiệu quả cho
    bất cứ ai. Họ nhất quyết rằng mình không phạm tội giết người
    cấp độ một, vì vậy bố Atticus không thể làm gì hơn cho thân
    chủ trừ việc có mặt vào lúc họ lên đường, một vụ xử có lẽ là
    khởi đầu cho nỗi chán ghét đối với ngạch luật sư hình sự của
    bố.
    Trong năm năm đầu ở Maycomb, bố Atticus thực hành tiết
    kiệm hơn bất cứ thứ gì khác, trong nhiều năm sau đó bố đầu tư
    thu nhập của mình vào việc học hành của em trai bố. John
    Hale Finch nhỏ hơn bố mười tuổi và chọn học nghề y vào thời
    điểm mà việc trồng bông vải không còn sinh lợi nữa; nhưng
    [5]
    sau khi giúp chú Jack khởi nghiệp, bố Atticus có được thu
    nhập đáng kể từ nghề luật. Bố thích Maycomb, ông sinh ra và
    lớn lên ở hạt Maycomb; ông biết rõ dân ở đây và họ cũng biết
    bố, và do công việc làm ăn của Simon Finch, nên bố Atticus
    có quan hệ họ hàng hoặc thông gia với hầu hết các gia đình ở
    thị trấn này.
    Maycomb là một thị trấn cổ, nhưng nó là một thị trấn cổ
    chán ngắt khi lần đầu tiên tôi biết nó. Vào mùa mưa đường
    phố trở nên lầy lội đỏ quạch; cỏ mọc trên hai lề đường, tòa án
    ủ rũ ở quảng trường. Không hiểu sao hồi đó trời nóng hơn:
    một con chó mực khổ sở trong ngày hè; mấy con lừa trơ
    xương bị buộc vào những cỗ xe hai bánh lo đuổi ruồi trong
    bóng râm nồng nực của những cây sồi trên quảng trường. Đến
    chín giờ sáng những chiếc cổ cồn cứng của các ông rũ xuống.
    Các bà tắm trước buổi trưa, rồi sau giấc ngủ ngắn lúc ba giờ,
    và khi đêm xuống họ trông giống như những chiếc bánh bơ
    mềm phủ mồ hôi và phấn rôm ngọt.
    Hồi đó người ta di chuyển chậm chạp. Họ thơ thẩn qua
    quảng trường, lê bước ra hoặc vào các cửa hàng quanh đó, rề
    rà trong mọi chuyện. Một ngày hai mươi bốn giờ nhưng có vẻ
    như dài hơn. Chẳng có gì vội vã, vì chẳng có nơi nào để đi,
    [6]
    không có gì để mua và không có tiền để mua , chẳng có gì
    để thăm thú bên ngoài địa giới hạt Maycomb. Nhưng đó là

    thời kỳ lạc quan mơ hồ của một số người: đến gần đây người
    ta đã bảo với hạt Maycomb rằng nó chẳng có gì để sợ ngoài
    [7]
    chính nỗi sợ hãi .
    Chúng tôi sống ở con phố chính của thị trấn-bố Atticus,
    Jem và tôi, thêm Calpurnia đầu bếp của chúng tôi. Jem với tôi
    thấy bố rất dễ chịu: ông chơi với chúng tôi, đọc cùng chúng
    tôi, và đối đãi với chúng tôi với sự xa cách lịch sự.
    Calpurnia lại khác. Bà toàn góc cạnh và xương xẩu; bà cận
    thị; bà lé; bàn tay bà to bè như thanh giát giường và cứng gấp
    đôi. Bà luôn xua tôi khỏi nhà bếp, hỏi tôi sao không cư xử
    ngoan ngoãn được như Jem mặc dù bà biết anh ấy lớn hơn, và
    gọi tôi về nhà khi tôi không muốn về. Những trận chiến của
    chúng tôi thật hùng tráng và chênh lệch. Calpurnia luôn luôn
    thắng, chủ yếu vì bố Atticus lúc nào cũng đứng về phía bà. Bà
    đã ở với chúng tôi từ khi Jem chào đời, và trong những chừng
    mực gì còn nhớ được thì tôi đều cảm thấy sự có mặt độc đoán
    của bà.
    Mẹ chúng tôi mất khi tôi lên hai, vì vậy tôi không hề cảm
    thấy thiếu vắng bà. Bà là một người thuộc họ Graham gốc ở
    Montgomery; bố Atticus gặp mẹ khi lần đầu bố được bầu vào
    cơ quan lập pháp bang. Lúc đó bố đã trung niên, mẹ nhỏ hơn
    bố mười lăm tuổi. Jem là kết quả của năm đầu họ lấy nhau;
    bốn năm sau tôi chào đời, và hai năm sau mẹ tôi mất vì một
    cơn đau tim. Họ nói bệnh này di truyền trong gia đình bà. Tôi
    không nhớ mẹ, nhưng chắc Jem nhớ. Anh ấy nhớ mẹ rất rõ, và
    đôi khi đang chơi giữa chừng anh ấy thở dài hồi lâu, sau đó bỏ
    đi chơi một mình ở phía sau nhà xe. Khi anh ấy như vậy, tôi
    biết khôn hồn thì đừng quấy rầy anh ấy.
    Khi tôi gần được sáu tuổi và Jem xấp xỉ mười, ranh giới
    cho kỳ nghỉ hè của chúng tôi (nằm trong tầm nghe được tiếng
    gọi của Calpurnia) là nhà của bà Herry Lafayette Dubose cách
    nhà tôi hai căn về phía Bắc và tòa nhà Radley cách nhà tôi ba
    căn về phía Nam. Chúng tôi không bao giờ có ý muốn phá vỡ
    các ranh giới đó. Tòa nhà Radley là nơi cư ngụ của một thực
    thể lạ lẫm chỉ cần nghe miêu tả là đủ khiến chúng tôi ngoan
    ngoãn trong nhiều ngày liên tục, bà Dubose thì chán chết đi
    được.
    Đó là mùa hè Dill đến với chúng tôi.

    Một sáng sớm khi chúng tôi bắt đầu trò chơi ở sân sau, Jem
    và tôi có nghe tiếng gì đó ở nhà bên cạnh, trong mảnh vườn
    trồng bắp cải của cô Rachel Haverford. Chúng tôi đến bên
    hàng rào dây kẽm để xem có phải một chú chó con không-con
    chó săn chuột của cô Rachel đang sắp đẻ-thay vào đó chúng
    tôi thấy một đứa bé đang nhìn mình. Ngồi ở đó, nó không cao
    hơn những cây cải là mấy. Chúng tôi nhìn nó cho đến khi nó
    lên tiếng:
    “Chào”
    “Chào”, Jem vui vẻ đáp.
    “Tao là Charles Baker Harris”, nó nói. “Tao biết đọc đó”.
    “Thì sao?” tôi nói.
    “Tao nghĩ tui bay muốn biết tao có biết đọc hay không. Tụi
    bay có thứ gì cần đọc thì tao đọc cho…”
    “Mày mấy tuổi”, Jem hỏi, “bốn tuổi rưỡi hả?”
    “Sắp bảy tuổi.”
    “Vậy có gì bảnh đâu,” Jem nói, chĩa ngón trỏ về phía tôi.
    “Con Scout kia biết đọc từ lúc mới đẻ, mà nó còn chưa tới
    trường nữa kìa. Sắp bảy tuổi mà coi mày nhỏ xíu à.”
    “Tao nhỏ con nhưng tao lớn rồi,” nó nói.
    Jem hất tóc ra sau để nhìn rõ hơn. “Sao mày không qua đây,
    Charles Baker Harris?” Anh ấy nói. “Cái tên nghe ngon dữ.”
    “Tên tao đâu mắc cười gì hơn tên mày. Dì Rachel nói tên
    mày là Jeremy Atticus Finch.”
    Jem cau mặt. “Tao đủ lớn để khớp với tên của tao,” anh ấy
    nói. “Tên mày còn dài hơn người mày nữa. Dám chắc là nó dài
    hơn cỡ ba tấc.”
    “Người ta gọi tao là Dill,” Dill nói, cựa quậy bên dưới hàng
    rào.
    “Tốt hơn là mày nhảy qua thay vì chui dưới hàng rào,” tôi
    nói. “Mày ở đâu tới vậy?”
    Dill quê ở Meridian, Mississippi, đang nghỉ hè ở chỗ dì nó,
    cô Rachel, và từ nay trở đi cứ hè là nó về Maycomb. Gia đình
    nó trước ở Maycomb, mẹ nó làm việc cho một tay thợ chụp
    hình ở Meridian, đã đưa ảnh của nó đi dự một cuộc thi Bé

    Xinh và giành được giải thưởng năm đô. Bà cho Dill số tiền
    đó, nhờ thế nó đi xem phim được hai mươi lần.
    “ Ở đây không có mục phim ảnh gì hết, trừ thỉnh thoảng có
    chiếu phim về chúa Jesus trong tòa án,” Jem nói. “Có từng
    xem thứ gì hay hay không?”
    Dill đã xem Dracula, một phát hiện khiến Jem nhìn nó với
    đôi mắt bắt đầu có vẻ nể nang. “Kể tụi tao nghe đi,” anh ấy
    nói.
    Dill là một đứa khác lạ. Nó mặc quần soóc bằng vải lanh
    xanh cài nút vào áo sơ mi, tóc nó trắng như tuyết và ép sát vào
    đầu như lông vịt; nó lớn hơn tôi một tuổi nhưng tôi cao hơn
    nó. Khi nó kể cho chúng tôi nghe về câu chuyện cũ xì đó đôi
    mắt xanh của nó hết sáng lên lại tối sầm; tiếng cười của nó bất
    ngờ và vui vẻ; nó luôn tay giật chỗ tóc bò liếm ngay giữa trán.
    Khi Dill kể rốt ráo hết phim Dracula, và Jem nói phim
    nghe có vẻ hay hơn sách, tôi hỏi Dill ba nó đâu, “Không nghe
    mày nói gì về ba mày hết.”
    “Tao không có ba.”
    “Ổng chết rồi hả?”
    “Không ….”
    “Vậy nếu ổng không chết tức là mày có ba, đúng không?”
    Dill đỏ mặt và Jem bảo tôi im, một dấu hiệu cho thấy rõ
    ràng Dill đã được nghiên cứu và xếp vào loại chấp nhận được.
    Sau đó mùa hè trôi qua trong sự thỏa mãn bình thường. Sự
    thỏa mãn bình thường nghĩa là: cải thiện ngôi nhà trên cây của
    chúng tôi vốn nằm giữa hai cây xoan khổng lồ sinh đôi ở sân
    sau, làm rộn mọi chuyện, lược qua danh sách những vở kịch
    dựa trên tác phẩm của Oliver Optich, Vitor Appleton và Edgar
    Rice Burroughs. Trong vụ này chúng tôi may mắn có Dill. Nó
    đóng những vai trước đây tôi phải nhận – con khỉ đột trong vở
    Tazan, ông Crabtree trong The Rover Boys, ông Damon trong
    Tom Swift. Vì vậy chúng tôi dần xem Dill là một tay Merlin bỏ
    [8]
    túi , với một cái đầu đầy những kế hoạch ly kỳ, những khát
    khao quái lạ, và những tưởng tượng kỳ quặc.
    Nhưng vào cuối tháng Tám kho tiết mục trò chơi của chúng
    tôi trở nên nhạt nhẽo vì đã chơi hoài không biết bao lần, và

    chính lúc đó Dill đã mớm cho chúng tôi ý tưởng dụ Boo
    Radley ra khỏi nhà.
    Ngôi nhà Radley mê hoặc Dill. Bất chấp những cảnh báo và
    giải thích của chúng tôi, ngôi nhà đó cứ thu hút nó như mặt
    trăng hút con nước, nhưng hút nó không vượt qua cột đèn ở
    góc phố, một khoảng cách an toàn tính từ cổng nhà Radley. Nó
    sẽ đứng đó, ôm lấy cột đèn, chăm chú nhìn và băn khoăn.
    Nhà Radley nhô hẳn ra đường cách nhà tôi một đoạn. Đi về
    phía Nam, người ta thấy hàng hiên của nó; lề đường bẻ góc và
    chạy dọc khu nhà. Ngôi nhà thấp, từng sơn màu trắng với hàng
    hiên rộng phía trước và những cửa chớp màu xanh lá cây,
    nhưng từ lâu đã chuyển sang màu xám xanh giống màu của
    vuông sân quanh đó. Những miếng ván lớn mục rã vì mưa gió
    rũ trên mái hiên; những cây sồi che khuất ánh mặt trời. Tàn
    tích của những chiếc cọc nhọn làm hàng rào xiêu vẹo ở sân
    trước – một cái sân “để quét” vốn không bao giờ được quét –
    nơi cỏ cho gia súc và cỏ thuốc thỏ mọc lan tràn.
    Bên trong ngôi nhà có một bóng ma quỷ quái. Người ta nói
    hắn có thật, nhưng Jem và tôi chưa bao giờ thấy hắn. Người ta
    nói hắn ra ngoài vào ban đêm khi trăng lặn, và nhìn lén qua
    cửa sổ. Khi cây đỗ quyên khô của người ta đông cứng trong
    một đợt rét, đó là do hắn hà hơi vào chúng. Mọi vụ trộm vặt ở
    Maycomb đều là do hắn. Có lần thị trấn kinh hoàng vì hàng
    loạt sự kiện ghê rợn về đêm: người ta tìm thấy gà và những thú
    cưng trong nhà bị chặt khúc; dù thủ phạm là Addie điên, tên
    này sau cũng đã tự trầm ở vũng xoáy Barker, nhưng người ta
    vẫn nhìn vào nhà Radley, không hề muốn dẹp bỏ những nghi
    ngờ ban đầu của họ. Một người Da đen sẽ không đi ngang nhà
    Radley vào ban đêm, ông ta sẽ băng qua lề đường đối diện và
    huýt sáo khi bước đi. Khuôn viên trường Maycomb giáp lưng
    với khu đất nhà Radley; những cây hồ đào cao lớn trong sân
    nuôi gà nhà Radley rụng đầy quả xuống sân trường. nhưng
    những quả hạch nằm đó mà không đứa trẻ nào dám đụng đến:
    những quả hồ đào nhà Radley sẽ giết bạn. Một quả bóng rơi
    vào sân Radley và coi như mất và không ai buồn nêu ra thắc
    mắc nào.
    Nỗi bất hạnh của ngôi nhà đó bắt đầu nhiều năm trước khi
    Jem với tôi ra đời. Người nhà Radley, tuy được chào đón ở bất
    cứ nơi nào trong thị trấn, lại sống tách biệt, một sở thích không

    thể tha thứ được ở Maycomb. Họ không đi nhà thờ, nơi giải trí
    chủ yếu của Maycomb, mà thờ phụng tại nhà; bà Radley hiếm
    khi qua bên kia đường uống cà phê giữa buổi sáng với hàng
    xóm, và chắc chắn không bao giờ tham gia nhóm truyền giáo.
    Ông Radley đi bộ xuống thị trấn lúc mười một giờ rưỡi sáng,
    và trở về vào đúng mười hai giờ, đôi khi xách một túi giấy
    nâu, mà láng giềng cho hàng tạp phẩm cho gia đình. Tôi
    không biết ông già Radley kiếm sống bằng cách nào-Jem nói
    ông ta “mua bông vải”, một mỹ từ lịch sự để chỉ việc không
    làm gì cả-nhưng ông Radley và vợ ông ta sống ở đó với hai
    con trai từ lâu lắm rồi.
    Cửa sổ và cửa chính nhà Radley đóng kín vào những ngày
    Chủ nhật; một điều nữa trái với cung cách của Maycomb: cửa
    đóng chỉ có nghĩa là bệnh hay trời lạnh. Trong các ngày thì
    Chủ nhật là ngày dành cho viếng thăm buổi chiều theo nghi
    thức: các bà mặc áo nịt, đàn ông mặc áo khoác, trẻ con mang
    giầy. Nhưng leo lên những bậc thềm trước nhà Radley và nói,
    “xin chào” vào buổi chiều Chủ nhật là điều mà không một
    người hàng xóm nào làm. Ngôi nhà Radley không có những
    cửa lưới. Có lần tôi hỏi bố Atticus liệu nó đã từng có cái nào
    không; bố Atticus nói có, nhưng trước khi tôi ra đời kia.
    Theo lời hàng xóm đồn đại, khi đứa con nhỏ nhà Radley ở
    tuổi thiếu niên, nó giao du với đám con nhà Cunningham gốc
    ở Old Sarum, một dòng họ đông đúc và khó hiểu cư trú ở phía
    Bắc của hạt này, và chúng lập thành một thứ gần như băng
    nhóm, thứ Maycomb chưa từng có bao giờ. Chúng chẳng làm
    gì nhiều, nhưng cũng đủ để dân thị trấn bàn luận và bị cảnh
    báo công khai tại ba buổi giảng kinh: chúng lẩn quất quanh các
    hiệu cắt tóc, đi xe buýt đến Abbottsville vào Chủ nhật và đi
    xem phim; chúng dự các buổi khiêu vũ tại ổ cờ bạc bên bờ
    sông của hạt, Dew-Drop Inn&Fishung Camp; chúng còn uống
    cả rượu lậu. Không ai ở Maycomb có đủ dũng cảm để nói với
    Radley rằng con trai ông ta giao du với bọn xấu cả.
    Một đêm nọ, trong cơn phấn khích tột độ, bọn chúng chạy
    lùi quanh quảng trường trên chiếc ô tô cũ mượn được, kháng
    cự nỗ lực chặn bắt của viên tuần cảnh già của Maycomb, ông
    Conner, và nhốt ông trong nhà xí của tòa án. Thị trấn nhất
    quyết phải làm điều gì đó; ông Conner nói ông biết rõ từng
    đứa một, và ông quyết chí và khẳng định chúng sẽ không yên

    thân được với chuyện này, vì vậy bọn trai trẻ này bị đưa ra
    trước tòa với cáo buộc về tội hành xử bừa bãi, phá rối trật tự,
    đe dọa và hành hung, sử dụng ngôn ngữ lăng mạ và báng bổ
    trước sự hiện diện và nghe thấy của một phụ nữ. Quan tòa hỏi
    ông Conner tại sao ông bao gồm cả tội cuối cùng; ông Conner
    nói rằng chúng chửi tục quá lớn đến độ ông chắc mọi quý bà ở
    Maycomb đều nghe thấy. Quan tòa quyết định tống bọn quấy
    rối này đến trường huấn luyện của tiểu bang, nơi thỉnh thoảng
    bọn trai trẻ được gửi đến không vì lý do gì khác hơn là cung
    cấp cho chúng thức ăn và chỗ ở tươm tất: nó không phải nhà
    từ và cũng không phải là điều gì đáng xấu hổ. Nhưng ông
    Radley lại nghĩ nó là vậy. Nếu quan tòa tha cho Arthur, ông
    Radley xin đảm bảo chắc chắn rằng Arthur sẽ không gây thêm
    rắc rối nào nữa. Biết rằng lời hứa của ông Radley là đinh đóng
    cột, nên quan tòa đã hoan hỉ làm thế.
    Những đứa đồng bọn thì vào trường huấn luyện và nhận
    nền giáo dục trung học tốt nhất có được ở bang này; một đứa
    trong bọn còn học tiếp lên trường cơ khí ở Auburn. Những
    cánh cửa nhà Radley đóng kín suốt các ngày trong tuần lẫn
    ngày Chủ nhật và người ta không thấy mặt thằng con ông
    Radley suốt mười lăm năm.
    Nhưng đến một ngày, mà Jem hầu như không nhớ được, có
    vài người, nhưng không phải Jem, nghe tiếng nói và thấy mặt
    Boo Radley. Anh ấy nói bố Atticus chẳng bao giờ nói gì nhiều
    về nhà Radley: khi Jem hỏi bố thì câu trả lời duy nhất của bố
    Atticus là bảo anh ấy hãy lo chuyện của mình và để cho nhà
    Radley lo công việc của họ, họ có quyền đó; nhưng khi chuyện
    này xảy ra Jem nói bố Atticus chỉ lắc đầu và kêu, “Mm, umm,
    umm.”
    Vì vậy Jem nhận hầu hết thông tin từ cô Stephanie
    Crawford, một hàng xóm gắt gỏng, người nói mình biết toàn
    bộ câu chuyện này. Theo cô Stephanie, Bob đang ngồi trong
    phòng khách cắt một số mục trong tờ The Maycomb Tribune
    để dán vào cuốn sưu tập báo của anh ta. Ba anh ta bước vào
    phòng. Khi ông Radley đi ngang, Bob đâm kéo vào chân ba
    mình, rồi rút ra, chùi nó vào quần, và tiếp tục công việc cắt
    dán.
    Bà Radley chạy ra đường gào lên rằng Arthur sắp giết cả
    nhà họ, nhưng khi cảnh sát trưởng đến ông ta thấy Bob vẫn

    ngồi trong phòng khách, cắt tờ Tribune. Lúc đó anh ta đã ba
    mươi ba tuổi.
    Cô Stephanie bảo ông Radley già nói không có người nào
    trong nhà Radley phải vào nhà thương điên cả khi có người đề
    nghị rằng một đợt an dưỡng ở Tuscaloosa có thể có ích cho
    Bob. Bob không điên, nhiều lúc anh ta quá căng thẳng. Nhôt
    anh ta lại thì được thôi, ông Radley thừa nhận, nhưng khẳng
    định rằng không thể buộc cho Bob bất cứ tội gì: anh ta không
    phải là tội phạm. Ông cảnh sát trưởng chẳng nỡ nhốt anh ta
    vào tù cùng bọn da đen, vì vậy Bob bị nhốt trong tầng hầm của
    tòa án.
    Việc chuyển Bob từ tầng hầm về nhà chỉ lờ mờ trong ký ức
    của Jem. Cô Stephanie Crawford nói một số người trong hội
    đồng thị trấn đã bảo ông Radley rằng nếu ông không đem Bob
    về, Bob sẽ chết vì nấm mốc do ẩm thấp. Ngoài ra Bob không
    thể sống dựa vào tiền bạc của hạt mãi được.
    Không ai biết ông Radley đã sử dụng hình thức răn đe nào
    để không ai nhìn thấy Bob, nhưng Jem hình dung rằng ông
    Radley hầu như thường xuyên xiềng anh ta vào giường. Bố
    Atticus nói không, không phải kiểu đó, rằng có nhiều cách làm
    cho người ta trở thành bóng ma.
    Ký ức tôi trở nên sống động khi thấy bà Radley thỉnh
    thoảng mở cửa trước, đi đến mé hàng hiên, tưới nước cho mấy
    cây chuối hoa của bà. Nhưng mỗi ngày Jem và tôi đều thấy
    ông Radley đi bộ xuống thị trấn rồi trở về. Người đàn ông gày
    gò khô quắt, mắt không màu, không màu đến độ chúng không
    phản chiếu ánh sáng, Xương gò má của ông ta nhọn và miệng
    thì rộng, môi trên mỏng và môi dưới dày. Cô Stephanie
    Crawford nói ông ta quá ngay thẳng đến độ ông ta xem lời
    Chúa là luật lệ duy nhất của mình, và chúng tôi tin cô, bởi vì
    dáng điệu của ông Radley lúc nào cũng thẳng đơ.
    Ông không bao giờ nói chuyện với chúng tôi. Khi ông đi
    ngang qua, chúng tôi thường nhìn xuống đất và nói, “Chào
    ông”, và ông ho đáp lại. Con trai cả của ông Radley sống ở
    Pensacola, anh ta về nhà vào dịp Giáng sinh, và anh ta là một
    trong ít người chúng tôi từng thấy bước vào hay rời ngôi nhà
    đó. Từ ngày ông Radley đưa Arthur về nhà, người ta nói ngôi
    nhà đó đã chết.

    Nhưng đến một hôm bố Atticus nói với chúng tôi bố sẽ phạt
    nếu chúng tôi làm ồn trong sân và giao cho Calpurnia thực
    hiện nhiệm vụ khi ông vắng mặt nếu bà nghe chúng tôi nói
    tiếng nào. Ông Radley đang hấp hối.
    Ông ấy khá thong thả trong việc này. Những băng ngựa gỗ
    của thợ mộc chặn hai đầu đường của khu đất nhà Radley, rơm
    được lót trên lề đường, giao thông được chuyển hướng sang
    đường nhanh phía sau. Bác sĩ Reynolds đậu xe ngay trước nhà
    tôi và đi bộ đến nhà Radley mỗi khi ông ta đến thăm bệnh.
    Jem và tôi chơi quanh quẩn trong sân suốt nhiều ngày. Cuối
    cùng những băng gỗ được mang đi, và chúng tôi đứng trước
    hiên nhìn theo khi ông Radley làm chuyến hành trình cuối
    cùng của ông ngang qua nhà tôi.
    “Đi rồi một kẻ bần tiện nhất mà Chúa từng thổi hơi thở
    vào,” Calpurnia lẩm bẩm, và bà phun nước bọt ra sân với vẻ
    trầm tư. Chúng tôi nhìn bà đầy ngạc nhiên, vì hiếm khi
    Calpurnia bình luận về cung cách của người da trắng.
    Hàng xóm nghĩ khi ông Radley nằm xuống Bob sẽ xuất
    hiện, nhưng mọi người đã lầm: anh trai Bob từ Pensacola trở
    về và thế chỗ ông Radley. Khác biệt duy nhất giữa anh ta và
    người cha là tuổi tác. Jem nói ông Nathan Radley cũng “mua
    bông vải.” Tuy nhiên Nathan có đáp lại chúng tôi khi chúng tôi
    chào buổi sáng, và đôi khi chúng tôi thấy anh ta từ thị trấn ra
    về với tờ tạp chí trên tay.
    Chúng tôi càng nói nhiều với Dill về nhà Radley, nó càng
    muốn biết, thật đứng ôm cột điện càng lâu nó càng thắc mắc.
    “Không biết hắn ta làm gì trong đó”, nó lẩm bẩm. “Cứ là
    hắn ta vừa thò đầu ra khỏi cửa ấy.
    Jem nói, “Hắn ta đi ra ngoài, chắc chắn rồi, khi mà trời tối
    thui. Cô Stephanie Crawford nói có lần cô tỉnh dậy lúc nửa
    đêm và thấy hắn nhìn cô qua cửa số…nơi đầu của hắn giống
    như cái sọ người nhìn cô. Mày có bao giờ thức giấc nửa đêm
    rồi nghe thấy tiếng hắn không, Dill? Hắn đi giống vậy nè….”
    Jem lê bàn chân anh trên sỏi. “Mày nghĩ sao khi cô Rachel lại
    khoá cửa kỹ thế ban đêm? Nhiều buổi sáng tao còn thấy dấu
    vết của hắn ở sân sau, và có đêm tao nghe thấy hắn cào cửa
    lưới sau nhà, nhưng khi bố Atticus ra tới đó thì hắn đã đi mất.
    “Không biết hắn như thế nào sao?” Dill hỏi:

    Jem đưa ra mô tả hợp lý về Bob: Bob cao khoảng mét chín,
    đoán chừng qua những dấu vết của hắn; hắn ăn thịt sóc sống
    và bất cứ con mèo nào hắn bắt được, đó là lý do tại sao hai bàn
    tay hắn đầy máu-nếu mày ăn sống thú vật, mày sẽ không bao
    giờ rửa sạch máu được. Mặt hắn có nguyên một vết sẹo lồi
    chạy ngang qua; răng hắn không những vàng khè mà còn bị
    sâu nữa; mắt hắn thô lố; miệng lúc nào cũng chảy nước dãi.
    “Tụi mình thử dụ hắn ra ngoài đi,” Dill nói. “Tao muốn
    thấy hắn ra sao.”
    Jem nói nếu Dill muốn bị mất mạng, thì nó chỉ cần đi tới và
    gõ cửa trước.
    Cuộc đột kích đầu tiên của bọn tôi xảy ra bởi vì Dill cá với
    [9]
    Jem cuốn The Gray Ghost
    ăn hai cuốn truyện Tom Swift
    rằng Jem sẽ không dám đi quá cổng nhà Radley. Cả đời mình,
    Jem chưa từng từ chối một thách thức nào.
    Jem nghĩ về chuyện đó ba ngày. Tôi nghĩ rằng anh ấy yêu
    danh dự hơn cái mạng mình, vì Dill công kích liên tục khiến
    anh kiệt sức dễ dàng. “Mày sợ rồi”, ngày đầu Dill nói. “Tao
    không sợ, chỉ kính trọng thôi,” Jem nói. Ngày hôm sau Dill
    nói, “Mày sợ muốn chết đến độ không dám đặt ngón chân cái
    vào sân trước.” Jem nói anh ấy tin là mình không sợ, mỗi ngày
    anh ấy đều đi học ngang qua nhà Radley.
    “Lần nào cũng chạy thục mạng,” tôi nói.
    Nhưng Dill khích được anh ấy vào ngày thứ ba, khi nó nói
    với Jem rằng dân Meridian chắc chắn không sợ hãi như dân
    Maycomb, rằng nó chưa từng thấy dân nào nhát như dân
    Maycomb.
    Điều này đủ làm cho Jem phải đi đến góc đường, ở đó anh
    dừng lại và dựa vào cột đèn, nhìn cánh cổng đong đưa như
    khùng điên trên bản lề tự chế.
    “Tao hy vọng cái đầu mày tự hiểu ra rằng hắn sẽ giết từng
    đứa bọn mình đó, Dill Harris,” Jem nói, khi chúng tôi tới nhập
    bọn với anh. “Đừng trách tao khi hắn móc mắt mày nghen.
    Hãy nhớ là mày khơi mào vụ này đó.”
    “Mày vẫn còn sợ,” Dill kiên nhẫn lầm bầm.

    Jem muốn Dill biết rõ ràng rằng anh ấy chẳng sợ bất cứ thứ
    gì. “Chỉ có điều tao không nghĩ ra cách dụ hắn ra khỏi nhà hắn
    mà không bắt được mình thôi.” Ngoài ra Jem còn nghĩ đến cô
    em nhỏ của mình nữa.
    Khi anh ấy nói vậy, tôi biết ngay anh ấy sợ. Jem cũng phải
    nghĩ tới em gái khi tôi thách anh ấy nhảy từ nóc nhà xuống.
    “Nếu tao chết thì mày sống ra sao?” Anh hỏi. Rồi anh nhảy,
    rơi xuống đất an toàn, và ý thức trách nhiệm đã biến khỏi anh
    ấy cho đến khi anh đối mặt với nhà Radley.
    “Mày né vụ thách thức này sao?” Dill hỏi. “Nếu vậy
    mày….”
    “Dill, mày phải nghĩ về mấy chuyện này,” Jem nói. “Để tao
    suy nghĩ một chút… nó giống như việc làm cho một con rùa
    bò ra…”
    “Làm cách nào?” Dill hỏi.
    “Đốt cây diêm hơ dưới bụng nó.”
    Tôi bảo Jem nếu anh đốt nhà Radley tôi sẽ mách bố
    Atticus.
    Dill nói đốt diêm hơ dưới bụng rùa là độc ác.
    “Không độc ác, chỉ là thuyết phục nó-không giống như việc
    mày đốt lửa thui nó đâu,” Jem làu bàu.
    “Sao mày biết đốt diêm không làm nó đau?”
    “Bọn rùa không có cảm giác, đồ ngốc” Jem nói.
    “Bộ mày từng là rùa hả?”
    “Trời đất, Dill để tao nghĩ coi.. tụi mình có thể làm hắn
    hoảng….”
    Jem đứng suy nghĩ quá lâu đến độ Dill nhượng bộ một
    chút, “Tao sẽ không nói là mày chạy vụ này và tao sẽ đổi cho
    mày cuốn The Gray Ghost chỉ cần mày dám đến đó rờ vào
    ngôi nhà.”
    Jem sáng rỡ. “Rờ vào ngôi nhà, vậy thôi hả?”
    Dill gật đầu.
    “Chắc chắn chỉ vậy thôi hả? Tao không muốn mày đòi thêm
    chuyện gì khác khi tao quay lại.”

    “Ừ, chỉ nhiêu đó thôi,” Dill nói. “Chắc chắn hắn sẽ chạy ra
    đuổi khi thấy mày trong sân, lúc đó tao với Scout sẽ nhào vô,
    đè hắn xuống cho tới khi mình nói được với hắn là mình
    không tính hại gì hắn.”
    Chúng tôi rời góc phố, băng qua con đường nhỏ trước nhà
    Radley, và dừng ngay cổng.
    “Tới luôn đi,” Dill nói, “Scout với tao ở ngay sau lưng
    mày.”
    “Tao đi nè,” Jem nói, “đừng có thúc.”
    Anh đi đến góc sân, rồi lùi lại nghiên cứu địa thế như thể
    quyết định tìm cách tốt nhất để vào trong, nhíu mày và gãi
    đầu.
    Rồi tôi chế nhạo anh ấy.
    Jem đẩy tung cách cổng và đi nhanh đến hông nhà, vỗ vào
    nó và chạy trở ra vượt qua chỗ chúng tôi, không chờ xác nhận
    xem cuộc xâm nhập của anh có thành công hay không. Dill và
    tôi chạy theo sát gót anh. An toàn ở hàng hiên nhà mình, thở
    hổn hển, rầu rĩ và buồn bã.
    Ngôi nhà cũ kỹ vẫn như thế, rầu rĩ và buồn bã, nhưng khi
    nhìn dọc theo con đường, chúng tôi tưởng như mình thấy một
    tấm rèm cửa bên trong nhúc nhích. Khẽ rung nhẹ. Một chuyển
    động rất nhẹ, hầu như không thể thấy, và ngôi nhà vẫn lặng
    ngắt.

    Chương 2
    Dill chia tay chúng tôi vào đầu tháng Chín, để trở về
    Meridian. Chúng tôi tiễn nó lên chuyến xe buýt năm giờ và tôi
    đau khổ vì vắng bóng nó cho đến khi nhớ ra còn một tuần nữa
    là phải đi học. Tôi không bao giờ mong chờ bất cứ điều gì hơn
    trong đời. Nhiều giờ trong mùa đông tôi ở trong ngôi nhà trên
    cây, nhìn qua sân trường, theo dõi bọn trẻ bằng ống nhòm
    phóng đại hai lần mà Jem cho tôi, nghiên cứu những trò chơi
    của chúng, dõi theo chiếc áo khoác đỏ của Jem qua những
    nhóm bạn luồn lách chơi trò bịt mắt bắt dê, bí mật chia sẻ
    những vận rủi và những chiến thắng nho nhỏ của tụi nó. Tôi
    thèm được nhập bọn với chúng.
    Jem hạ cố dẫn tôi đến trường ngày đầu tiên, một công việc
    do bố mẹ thường làm, nhưng bố Atticus nói Jem sẽ thích chỉ
    cho tôi biết phòng học của tôi chỗ nào. Tôi nghĩ hẳn anh được
    một ít tiền trong phi vụ này, vì khi chúng tôi chạy lóc cóc quẹo
    góc phố ngang ngôi nhà Radley tôi nghe tiếng xủng xoẻng
    khác thường trong túi của Jem. Khi chúng tôi đi chậm lại tại
    rìa trường, Jem cẩn thận giải thích rằng trong giờ ở trường tôi
    không được làm phiền anh ấy, tôi không được lại gần anh ấy
    [10]
    để yêu cầu diễn một đoạn trong Tazan and the Ant Men
    ,
    làm anh bẽ mặt qua việc nhắc tới cuộc sống riêng tư của anh
    ấy, hay lẽo đẽo theo sau anh vào giờ giải lao và buổi trưa. Tôi
    phải chơi với bọn lớp một của tôi còn anh ấy chơi với bọn lớp
    năm. Tóm lại, tôi phải để anh yên.
    “Ý anh là tụi mình không chơi chung nữa hả?” Tôi hỏi.
    “Ở nhà mình vẫn chơi chung,” anh nói, “nhưng mày biết
    đó-trường học thì khác chứ.”
    Chắc chắn như vậy rồi. Trước khi buổi sáng đầu tiên trôi
    qua, cô Caroline Fisher, cô giáo của chúng tôi, lôi tôi lên trước
    lớp và khẻ tay tôi bằng cây thước, rồi bắt tôi đứng ở góc phòng
    đến tận trưa.
    Cô Caroline chưa quá hai mươi mốt tuổi. Cô có mái tóc
    màu nâu sáng, má hồng, và sơm móng tay màu đỏ thẫm. Cô
    cũng mang giày cao gót và mặc váy sọc trắng đỏ. Cô trông
    giống và có mùi một giọt bạc hà. Cô ở trọ bên kia đường cách

    nhà chúng tôi một căn, trong phòng trên lầu của cô Maudie
    Atkinson, và khi cô Maudie giới thiệu tôi với cô, Jem bối rối
    trong nhiều ngày.
    Cô Caroline viết tên cô bằng chữ in trên bảng và nói, “Câu
    này nghĩa là: Tôi là cô Caroline Fisher. Tôi quê ở Bắc
    Alabama, hạt Winston.” Cả lớp lầm bầm đầy lo lắng, liệu cô
    có chứng tỏ mình mang những nét quái đản đặc trưng của
    vùng đó không đây. (Khi Alabama ly khai khỏi liên bang ngày
    11 tháng Giêng năm 1861, hạt Winston đã ly khai khỏi
    Alabama, và mọi đứa trẻ ở hạt Maycomb đều biết vụ này.) Bắc
    Alabama vẫn đầy những tập đoàn kinh doanh rượu, những tay
    [11]
    Big Mule
    , các công ty...
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn. (Barack Obama)

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT CẨM GIÀNG II - HẢI DƯƠNG !