Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng Sản Việt Nam
Giet Con Chim Nhai - Harper Lee

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:30' 07-03-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:30' 07-03-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
GIẾT CON CHIM NHẠI
Tên sách: Giết con chim nhại
Tác giả: Harper Lee
Người dịch: Huỳnh Kim Oanh & Phạm Viêm Hương
Thể loại: Văn học nước ngoài
Nhà xuất bản: NXB Văn học
Năm sản xuất: 7/2008
Đánh máy & sửa chính tả: nutuongcuop
Chuyển sang ebook: nutuongcuop
Ngày hoàn thành: 02/12/2008
http://www.thuvien-ebook.com
Mục lục
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Chương 17
Chương 18
Chương 19
Chương 20
Chương 21
Chương 22
Chương 23
Chương 24
Chương 25
Chương 26
Chương 27
Chương 28
Chương 29
Chương 30
Chương 31
Tặng ông Lee và Alice vì Tình yêu và sự trìu mến
Chương 1
Khi sắp mười ba tuổi, anh trai Jem của tôi bị gãy ngay
khuỷu tay. Khi lành lại, nỗi sợ không bao giờ có thể chơi bóng
được nữa của Jem đã dịu bớt, anh ít nghĩ ngợi về thương tật
của mình. Cánh tay trái của anh hơi ngắn hơn cánh tay phải;
khi đứng hoặc đi, mu bàn tay anh cứ thẳng góc với thân mình,
ngón cái song song với đùi. Anh hoàn toàn không quan tâm,
miễn là anh còn chuyền và lốp bóng được.
Sau nhiều năm tháng trôi qua đủ để giúp chúng tôi nhìn lại,
đôi khi chúng tôi bàn bạc về những sự kiện đưa đẩy đến tai
nạn này. Tôi vẫn cho rằng tất cả là do nhà Ewell, nhưng Jem,
lớn tôi bốn tuổi, lại bảo chuyện này đã bắt đầu từ trước đó rất
lâu. Anh nói chuyện đó bắt đầu vào mùa hè khi Dill đến chơi
với chúng tôi, lúc Dill lần đầu mớm cho chúng tôi ý tưởng kéo
được Bob Radley ra khỏi nhà.
Tôi nói nếu anh muốn có một cái nhìn bao quát về sự việc
này, thì thực sự nó bắt đầu với Andrew Jackson. Nếu tướng
[1]
Jackson không đẩy người Da đỏ Creek
lên thượng nguồn
thì Simon Finch sẽ không bao giờ chèo thuyền đến Alabama,
và liệu chúng tôi sẽ ở đâu nếu ông không làm việc đó? Chúng
tôi đã quá lớn không thể dàn xếp một cuộc tranh cãi bằng nắm
đấm, vì vậy chúng tôi hỏi ý kiến bố Atticus. Bố nói cả hai đứa
tôi đều đúng.
Là dân miền Nam, một số người trong gia tộc thấy xấu hổ
vì chúng tôi chẳng có tổ tiên nào được lưu danh ở phía bên này
[2]
hoặc bên kia trong trận Hasting
. Chúng tôi chỉ có mỗi
Simon Finch, một tay bào chế thuốc bẫy thú lấy lông gốc từ
Cornwall, người chỉ để cho thói keo kiệt vượt trội hơn so với
lòng mộ đạo của mình. Ở Anh, Simon tức tối trước việc bách
hại những người tự xưng là tín đồ phái Giám lý dưới tay các
đạo hữu cấp tiến hơn của họ và vì Simon cũng nhận mình là
tín đồ Giám Lý nên ông ta tìm đường vượt Đại Tây Dương
đến Philadelphia, sau đó đến Jamaica, rồi đến Mobile, và lên
đến Saint Stephens. Luôn nghĩ đến những phê phán của John
[3]
Wesley về thói lắm lời trong việc mua bán, Simon kiếm tiền
bằng việc hành nghề y, nhưng trong việc này ông ta không vui
vì sợ mình bị cám dỗ phải làm những điều mà ông biết rằng
không vì vinh quang của Chúa, như việc đeo vàng trên người
và mặc quần áo đắt tiền. Vì thế Simon, sau khi quên đi châm
ngôn của thầy giáo mình về việc sở hữu nô lệ, đã mua ba nô lệ
và với sự trợ giúp của họ ông lập một trang trại trên bờ sông
Alabama, cách Saint Stephens khoảng bốn mươi dặm về phía
thượng nguồn. Ông chỉ trở lại Saint Stephens một lần, để tìm
vợ, và ông đã cùng bà tạo dựng một dòng họ với nhiều con
gái. Simon sống rất thọ và chết trong giàu có.
Thông lệ của người trong gia tộc này là vẫn ở lại trang trại
của Simon, nó có tên là Finch's Landing, và kiếm sống bằng
nghề trồng bông vải. Trang trại này hoàn toàn tự túc: khá
khiêm tốn so với những đại nông trại xung quanh, nhưng
Landing vẫn sản xuất được mọi thứ để duy trì cuộc sống trừ
nước đá, bộ mỳ và những thứ y phục, vốn phải mua từ những
ghe thương hồ từ Mobile.
Simon nhìn sự náo loạn giữa miền Nam với miền Bắc với
nỗi giận dữ bất lực, vì nó khiến cho con cháu ông bị tước đoạt
hết mọi thứ trừ đất đai của chúng, nhưng truyền thống sống
bám vào đất vẫn được duy trì đến nhiều thập niên của thế kỷ
hai mươi, khi bố tôi, Atticus Finch, đến Montgomery đế học
luật, và em trai bố đến Boston học y. Chị Alexandra của bố là
người họ Finch vẫn ở lại Landing: bà cưới một ông chồng ít
nói, người dành phần lớn thời gian nằm trên chiếc võng cạnh
bờ sông mà tự hỏi những dây câu của mình đã dính cá hết
chưa.
Khi được nhận vào luật sư đoàn, bố tôi trở về Maycomb và
bắt đầu hành nghề. Maycomb, cách Finch's Landing mười hai
dặm về phía Đông, là trung tâm của hạt Maycomb. Văn phòng
của bố Atticus tại tòa án chẳng có gì nhiều hơn một cái giá
treo mũ, một ống nhổ, một bàn cờ đam và một cuốn luật
Alabama còn mới nguyên. Hai thân chủ đầu tiên của bố là hai
người cuối cùng bị treo cổ trong nhà tù hạt Maycomb. Bố
Atticus đã cố thuyết phục họ chấp nhận sự khoan hồng của
tiểu bang trong việc cho phép họ nhận tội giết người cấp độ
[4]
hai
và giữ được mạng sống, nhưng họ thuộc dòng tộc
Haverford, ở hạt Maycomb cái tên này đồng nghĩa với thằng
ngốc. Những tay Haverford này đã giết chết người thợ rèn giỏi
nhất của Maycomb trong một vụ hiểu lầm xuất phát từ việc bắt
giữ một con ngựa bị coi là sai trái, thật thiếu khôn ngoan khi
làm việc đó trước mặt ba nhân chứng, và cứ khăng khăng rằng
đồ-chó-đẻ-nếu-hắn-có-ý-đó là cách biện hộ đủ hiệu quả cho
bất cứ ai. Họ nhất quyết rằng mình không phạm tội giết người
cấp độ một, vì vậy bố Atticus không thể làm gì hơn cho thân
chủ trừ việc có mặt vào lúc họ lên đường, một vụ xử có lẽ là
khởi đầu cho nỗi chán ghét đối với ngạch luật sư hình sự của
bố.
Trong năm năm đầu ở Maycomb, bố Atticus thực hành tiết
kiệm hơn bất cứ thứ gì khác, trong nhiều năm sau đó bố đầu tư
thu nhập của mình vào việc học hành của em trai bố. John
Hale Finch nhỏ hơn bố mười tuổi và chọn học nghề y vào thời
điểm mà việc trồng bông vải không còn sinh lợi nữa; nhưng
[5]
sau khi giúp chú Jack khởi nghiệp, bố Atticus có được thu
nhập đáng kể từ nghề luật. Bố thích Maycomb, ông sinh ra và
lớn lên ở hạt Maycomb; ông biết rõ dân ở đây và họ cũng biết
bố, và do công việc làm ăn của Simon Finch, nên bố Atticus
có quan hệ họ hàng hoặc thông gia với hầu hết các gia đình ở
thị trấn này.
Maycomb là một thị trấn cổ, nhưng nó là một thị trấn cổ
chán ngắt khi lần đầu tiên tôi biết nó. Vào mùa mưa đường
phố trở nên lầy lội đỏ quạch; cỏ mọc trên hai lề đường, tòa án
ủ rũ ở quảng trường. Không hiểu sao hồi đó trời nóng hơn:
một con chó mực khổ sở trong ngày hè; mấy con lừa trơ
xương bị buộc vào những cỗ xe hai bánh lo đuổi ruồi trong
bóng râm nồng nực của những cây sồi trên quảng trường. Đến
chín giờ sáng những chiếc cổ cồn cứng của các ông rũ xuống.
Các bà tắm trước buổi trưa, rồi sau giấc ngủ ngắn lúc ba giờ,
và khi đêm xuống họ trông giống như những chiếc bánh bơ
mềm phủ mồ hôi và phấn rôm ngọt.
Hồi đó người ta di chuyển chậm chạp. Họ thơ thẩn qua
quảng trường, lê bước ra hoặc vào các cửa hàng quanh đó, rề
rà trong mọi chuyện. Một ngày hai mươi bốn giờ nhưng có vẻ
như dài hơn. Chẳng có gì vội vã, vì chẳng có nơi nào để đi,
[6]
không có gì để mua và không có tiền để mua , chẳng có gì
để thăm thú bên ngoài địa giới hạt Maycomb. Nhưng đó là
thời kỳ lạc quan mơ hồ của một số người: đến gần đây người
ta đã bảo với hạt Maycomb rằng nó chẳng có gì để sợ ngoài
[7]
chính nỗi sợ hãi .
Chúng tôi sống ở con phố chính của thị trấn-bố Atticus,
Jem và tôi, thêm Calpurnia đầu bếp của chúng tôi. Jem với tôi
thấy bố rất dễ chịu: ông chơi với chúng tôi, đọc cùng chúng
tôi, và đối đãi với chúng tôi với sự xa cách lịch sự.
Calpurnia lại khác. Bà toàn góc cạnh và xương xẩu; bà cận
thị; bà lé; bàn tay bà to bè như thanh giát giường và cứng gấp
đôi. Bà luôn xua tôi khỏi nhà bếp, hỏi tôi sao không cư xử
ngoan ngoãn được như Jem mặc dù bà biết anh ấy lớn hơn, và
gọi tôi về nhà khi tôi không muốn về. Những trận chiến của
chúng tôi thật hùng tráng và chênh lệch. Calpurnia luôn luôn
thắng, chủ yếu vì bố Atticus lúc nào cũng đứng về phía bà. Bà
đã ở với chúng tôi từ khi Jem chào đời, và trong những chừng
mực gì còn nhớ được thì tôi đều cảm thấy sự có mặt độc đoán
của bà.
Mẹ chúng tôi mất khi tôi lên hai, vì vậy tôi không hề cảm
thấy thiếu vắng bà. Bà là một người thuộc họ Graham gốc ở
Montgomery; bố Atticus gặp mẹ khi lần đầu bố được bầu vào
cơ quan lập pháp bang. Lúc đó bố đã trung niên, mẹ nhỏ hơn
bố mười lăm tuổi. Jem là kết quả của năm đầu họ lấy nhau;
bốn năm sau tôi chào đời, và hai năm sau mẹ tôi mất vì một
cơn đau tim. Họ nói bệnh này di truyền trong gia đình bà. Tôi
không nhớ mẹ, nhưng chắc Jem nhớ. Anh ấy nhớ mẹ rất rõ, và
đôi khi đang chơi giữa chừng anh ấy thở dài hồi lâu, sau đó bỏ
đi chơi một mình ở phía sau nhà xe. Khi anh ấy như vậy, tôi
biết khôn hồn thì đừng quấy rầy anh ấy.
Khi tôi gần được sáu tuổi và Jem xấp xỉ mười, ranh giới
cho kỳ nghỉ hè của chúng tôi (nằm trong tầm nghe được tiếng
gọi của Calpurnia) là nhà của bà Herry Lafayette Dubose cách
nhà tôi hai căn về phía Bắc và tòa nhà Radley cách nhà tôi ba
căn về phía Nam. Chúng tôi không bao giờ có ý muốn phá vỡ
các ranh giới đó. Tòa nhà Radley là nơi cư ngụ của một thực
thể lạ lẫm chỉ cần nghe miêu tả là đủ khiến chúng tôi ngoan
ngoãn trong nhiều ngày liên tục, bà Dubose thì chán chết đi
được.
Đó là mùa hè Dill đến với chúng tôi.
Một sáng sớm khi chúng tôi bắt đầu trò chơi ở sân sau, Jem
và tôi có nghe tiếng gì đó ở nhà bên cạnh, trong mảnh vườn
trồng bắp cải của cô Rachel Haverford. Chúng tôi đến bên
hàng rào dây kẽm để xem có phải một chú chó con không-con
chó săn chuột của cô Rachel đang sắp đẻ-thay vào đó chúng
tôi thấy một đứa bé đang nhìn mình. Ngồi ở đó, nó không cao
hơn những cây cải là mấy. Chúng tôi nhìn nó cho đến khi nó
lên tiếng:
“Chào”
“Chào”, Jem vui vẻ đáp.
“Tao là Charles Baker Harris”, nó nói. “Tao biết đọc đó”.
“Thì sao?” tôi nói.
“Tao nghĩ tui bay muốn biết tao có biết đọc hay không. Tụi
bay có thứ gì cần đọc thì tao đọc cho…”
“Mày mấy tuổi”, Jem hỏi, “bốn tuổi rưỡi hả?”
“Sắp bảy tuổi.”
“Vậy có gì bảnh đâu,” Jem nói, chĩa ngón trỏ về phía tôi.
“Con Scout kia biết đọc từ lúc mới đẻ, mà nó còn chưa tới
trường nữa kìa. Sắp bảy tuổi mà coi mày nhỏ xíu à.”
“Tao nhỏ con nhưng tao lớn rồi,” nó nói.
Jem hất tóc ra sau để nhìn rõ hơn. “Sao mày không qua đây,
Charles Baker Harris?” Anh ấy nói. “Cái tên nghe ngon dữ.”
“Tên tao đâu mắc cười gì hơn tên mày. Dì Rachel nói tên
mày là Jeremy Atticus Finch.”
Jem cau mặt. “Tao đủ lớn để khớp với tên của tao,” anh ấy
nói. “Tên mày còn dài hơn người mày nữa. Dám chắc là nó dài
hơn cỡ ba tấc.”
“Người ta gọi tao là Dill,” Dill nói, cựa quậy bên dưới hàng
rào.
“Tốt hơn là mày nhảy qua thay vì chui dưới hàng rào,” tôi
nói. “Mày ở đâu tới vậy?”
Dill quê ở Meridian, Mississippi, đang nghỉ hè ở chỗ dì nó,
cô Rachel, và từ nay trở đi cứ hè là nó về Maycomb. Gia đình
nó trước ở Maycomb, mẹ nó làm việc cho một tay thợ chụp
hình ở Meridian, đã đưa ảnh của nó đi dự một cuộc thi Bé
Xinh và giành được giải thưởng năm đô. Bà cho Dill số tiền
đó, nhờ thế nó đi xem phim được hai mươi lần.
“ Ở đây không có mục phim ảnh gì hết, trừ thỉnh thoảng có
chiếu phim về chúa Jesus trong tòa án,” Jem nói. “Có từng
xem thứ gì hay hay không?”
Dill đã xem Dracula, một phát hiện khiến Jem nhìn nó với
đôi mắt bắt đầu có vẻ nể nang. “Kể tụi tao nghe đi,” anh ấy
nói.
Dill là một đứa khác lạ. Nó mặc quần soóc bằng vải lanh
xanh cài nút vào áo sơ mi, tóc nó trắng như tuyết và ép sát vào
đầu như lông vịt; nó lớn hơn tôi một tuổi nhưng tôi cao hơn
nó. Khi nó kể cho chúng tôi nghe về câu chuyện cũ xì đó đôi
mắt xanh của nó hết sáng lên lại tối sầm; tiếng cười của nó bất
ngờ và vui vẻ; nó luôn tay giật chỗ tóc bò liếm ngay giữa trán.
Khi Dill kể rốt ráo hết phim Dracula, và Jem nói phim
nghe có vẻ hay hơn sách, tôi hỏi Dill ba nó đâu, “Không nghe
mày nói gì về ba mày hết.”
“Tao không có ba.”
“Ổng chết rồi hả?”
“Không ….”
“Vậy nếu ổng không chết tức là mày có ba, đúng không?”
Dill đỏ mặt và Jem bảo tôi im, một dấu hiệu cho thấy rõ
ràng Dill đã được nghiên cứu và xếp vào loại chấp nhận được.
Sau đó mùa hè trôi qua trong sự thỏa mãn bình thường. Sự
thỏa mãn bình thường nghĩa là: cải thiện ngôi nhà trên cây của
chúng tôi vốn nằm giữa hai cây xoan khổng lồ sinh đôi ở sân
sau, làm rộn mọi chuyện, lược qua danh sách những vở kịch
dựa trên tác phẩm của Oliver Optich, Vitor Appleton và Edgar
Rice Burroughs. Trong vụ này chúng tôi may mắn có Dill. Nó
đóng những vai trước đây tôi phải nhận – con khỉ đột trong vở
Tazan, ông Crabtree trong The Rover Boys, ông Damon trong
Tom Swift. Vì vậy chúng tôi dần xem Dill là một tay Merlin bỏ
[8]
túi , với một cái đầu đầy những kế hoạch ly kỳ, những khát
khao quái lạ, và những tưởng tượng kỳ quặc.
Nhưng vào cuối tháng Tám kho tiết mục trò chơi của chúng
tôi trở nên nhạt nhẽo vì đã chơi hoài không biết bao lần, và
chính lúc đó Dill đã mớm cho chúng tôi ý tưởng dụ Boo
Radley ra khỏi nhà.
Ngôi nhà Radley mê hoặc Dill. Bất chấp những cảnh báo và
giải thích của chúng tôi, ngôi nhà đó cứ thu hút nó như mặt
trăng hút con nước, nhưng hút nó không vượt qua cột đèn ở
góc phố, một khoảng cách an toàn tính từ cổng nhà Radley. Nó
sẽ đứng đó, ôm lấy cột đèn, chăm chú nhìn và băn khoăn.
Nhà Radley nhô hẳn ra đường cách nhà tôi một đoạn. Đi về
phía Nam, người ta thấy hàng hiên của nó; lề đường bẻ góc và
chạy dọc khu nhà. Ngôi nhà thấp, từng sơn màu trắng với hàng
hiên rộng phía trước và những cửa chớp màu xanh lá cây,
nhưng từ lâu đã chuyển sang màu xám xanh giống màu của
vuông sân quanh đó. Những miếng ván lớn mục rã vì mưa gió
rũ trên mái hiên; những cây sồi che khuất ánh mặt trời. Tàn
tích của những chiếc cọc nhọn làm hàng rào xiêu vẹo ở sân
trước – một cái sân “để quét” vốn không bao giờ được quét –
nơi cỏ cho gia súc và cỏ thuốc thỏ mọc lan tràn.
Bên trong ngôi nhà có một bóng ma quỷ quái. Người ta nói
hắn có thật, nhưng Jem và tôi chưa bao giờ thấy hắn. Người ta
nói hắn ra ngoài vào ban đêm khi trăng lặn, và nhìn lén qua
cửa sổ. Khi cây đỗ quyên khô của người ta đông cứng trong
một đợt rét, đó là do hắn hà hơi vào chúng. Mọi vụ trộm vặt ở
Maycomb đều là do hắn. Có lần thị trấn kinh hoàng vì hàng
loạt sự kiện ghê rợn về đêm: người ta tìm thấy gà và những thú
cưng trong nhà bị chặt khúc; dù thủ phạm là Addie điên, tên
này sau cũng đã tự trầm ở vũng xoáy Barker, nhưng người ta
vẫn nhìn vào nhà Radley, không hề muốn dẹp bỏ những nghi
ngờ ban đầu của họ. Một người Da đen sẽ không đi ngang nhà
Radley vào ban đêm, ông ta sẽ băng qua lề đường đối diện và
huýt sáo khi bước đi. Khuôn viên trường Maycomb giáp lưng
với khu đất nhà Radley; những cây hồ đào cao lớn trong sân
nuôi gà nhà Radley rụng đầy quả xuống sân trường. nhưng
những quả hạch nằm đó mà không đứa trẻ nào dám đụng đến:
những quả hồ đào nhà Radley sẽ giết bạn. Một quả bóng rơi
vào sân Radley và coi như mất và không ai buồn nêu ra thắc
mắc nào.
Nỗi bất hạnh của ngôi nhà đó bắt đầu nhiều năm trước khi
Jem với tôi ra đời. Người nhà Radley, tuy được chào đón ở bất
cứ nơi nào trong thị trấn, lại sống tách biệt, một sở thích không
thể tha thứ được ở Maycomb. Họ không đi nhà thờ, nơi giải trí
chủ yếu của Maycomb, mà thờ phụng tại nhà; bà Radley hiếm
khi qua bên kia đường uống cà phê giữa buổi sáng với hàng
xóm, và chắc chắn không bao giờ tham gia nhóm truyền giáo.
Ông Radley đi bộ xuống thị trấn lúc mười một giờ rưỡi sáng,
và trở về vào đúng mười hai giờ, đôi khi xách một túi giấy
nâu, mà láng giềng cho hàng tạp phẩm cho gia đình. Tôi
không biết ông già Radley kiếm sống bằng cách nào-Jem nói
ông ta “mua bông vải”, một mỹ từ lịch sự để chỉ việc không
làm gì cả-nhưng ông Radley và vợ ông ta sống ở đó với hai
con trai từ lâu lắm rồi.
Cửa sổ và cửa chính nhà Radley đóng kín vào những ngày
Chủ nhật; một điều nữa trái với cung cách của Maycomb: cửa
đóng chỉ có nghĩa là bệnh hay trời lạnh. Trong các ngày thì
Chủ nhật là ngày dành cho viếng thăm buổi chiều theo nghi
thức: các bà mặc áo nịt, đàn ông mặc áo khoác, trẻ con mang
giầy. Nhưng leo lên những bậc thềm trước nhà Radley và nói,
“xin chào” vào buổi chiều Chủ nhật là điều mà không một
người hàng xóm nào làm. Ngôi nhà Radley không có những
cửa lưới. Có lần tôi hỏi bố Atticus liệu nó đã từng có cái nào
không; bố Atticus nói có, nhưng trước khi tôi ra đời kia.
Theo lời hàng xóm đồn đại, khi đứa con nhỏ nhà Radley ở
tuổi thiếu niên, nó giao du với đám con nhà Cunningham gốc
ở Old Sarum, một dòng họ đông đúc và khó hiểu cư trú ở phía
Bắc của hạt này, và chúng lập thành một thứ gần như băng
nhóm, thứ Maycomb chưa từng có bao giờ. Chúng chẳng làm
gì nhiều, nhưng cũng đủ để dân thị trấn bàn luận và bị cảnh
báo công khai tại ba buổi giảng kinh: chúng lẩn quất quanh các
hiệu cắt tóc, đi xe buýt đến Abbottsville vào Chủ nhật và đi
xem phim; chúng dự các buổi khiêu vũ tại ổ cờ bạc bên bờ
sông của hạt, Dew-Drop Inn&Fishung Camp; chúng còn uống
cả rượu lậu. Không ai ở Maycomb có đủ dũng cảm để nói với
Radley rằng con trai ông ta giao du với bọn xấu cả.
Một đêm nọ, trong cơn phấn khích tột độ, bọn chúng chạy
lùi quanh quảng trường trên chiếc ô tô cũ mượn được, kháng
cự nỗ lực chặn bắt của viên tuần cảnh già của Maycomb, ông
Conner, và nhốt ông trong nhà xí của tòa án. Thị trấn nhất
quyết phải làm điều gì đó; ông Conner nói ông biết rõ từng
đứa một, và ông quyết chí và khẳng định chúng sẽ không yên
thân được với chuyện này, vì vậy bọn trai trẻ này bị đưa ra
trước tòa với cáo buộc về tội hành xử bừa bãi, phá rối trật tự,
đe dọa và hành hung, sử dụng ngôn ngữ lăng mạ và báng bổ
trước sự hiện diện và nghe thấy của một phụ nữ. Quan tòa hỏi
ông Conner tại sao ông bao gồm cả tội cuối cùng; ông Conner
nói rằng chúng chửi tục quá lớn đến độ ông chắc mọi quý bà ở
Maycomb đều nghe thấy. Quan tòa quyết định tống bọn quấy
rối này đến trường huấn luyện của tiểu bang, nơi thỉnh thoảng
bọn trai trẻ được gửi đến không vì lý do gì khác hơn là cung
cấp cho chúng thức ăn và chỗ ở tươm tất: nó không phải nhà
từ và cũng không phải là điều gì đáng xấu hổ. Nhưng ông
Radley lại nghĩ nó là vậy. Nếu quan tòa tha cho Arthur, ông
Radley xin đảm bảo chắc chắn rằng Arthur sẽ không gây thêm
rắc rối nào nữa. Biết rằng lời hứa của ông Radley là đinh đóng
cột, nên quan tòa đã hoan hỉ làm thế.
Những đứa đồng bọn thì vào trường huấn luyện và nhận
nền giáo dục trung học tốt nhất có được ở bang này; một đứa
trong bọn còn học tiếp lên trường cơ khí ở Auburn. Những
cánh cửa nhà Radley đóng kín suốt các ngày trong tuần lẫn
ngày Chủ nhật và người ta không thấy mặt thằng con ông
Radley suốt mười lăm năm.
Nhưng đến một ngày, mà Jem hầu như không nhớ được, có
vài người, nhưng không phải Jem, nghe tiếng nói và thấy mặt
Boo Radley. Anh ấy nói bố Atticus chẳng bao giờ nói gì nhiều
về nhà Radley: khi Jem hỏi bố thì câu trả lời duy nhất của bố
Atticus là bảo anh ấy hãy lo chuyện của mình và để cho nhà
Radley lo công việc của họ, họ có quyền đó; nhưng khi chuyện
này xảy ra Jem nói bố Atticus chỉ lắc đầu và kêu, “Mm, umm,
umm.”
Vì vậy Jem nhận hầu hết thông tin từ cô Stephanie
Crawford, một hàng xóm gắt gỏng, người nói mình biết toàn
bộ câu chuyện này. Theo cô Stephanie, Bob đang ngồi trong
phòng khách cắt một số mục trong tờ The Maycomb Tribune
để dán vào cuốn sưu tập báo của anh ta. Ba anh ta bước vào
phòng. Khi ông Radley đi ngang, Bob đâm kéo vào chân ba
mình, rồi rút ra, chùi nó vào quần, và tiếp tục công việc cắt
dán.
Bà Radley chạy ra đường gào lên rằng Arthur sắp giết cả
nhà họ, nhưng khi cảnh sát trưởng đến ông ta thấy Bob vẫn
ngồi trong phòng khách, cắt tờ Tribune. Lúc đó anh ta đã ba
mươi ba tuổi.
Cô Stephanie bảo ông Radley già nói không có người nào
trong nhà Radley phải vào nhà thương điên cả khi có người đề
nghị rằng một đợt an dưỡng ở Tuscaloosa có thể có ích cho
Bob. Bob không điên, nhiều lúc anh ta quá căng thẳng. Nhôt
anh ta lại thì được thôi, ông Radley thừa nhận, nhưng khẳng
định rằng không thể buộc cho Bob bất cứ tội gì: anh ta không
phải là tội phạm. Ông cảnh sát trưởng chẳng nỡ nhốt anh ta
vào tù cùng bọn da đen, vì vậy Bob bị nhốt trong tầng hầm của
tòa án.
Việc chuyển Bob từ tầng hầm về nhà chỉ lờ mờ trong ký ức
của Jem. Cô Stephanie Crawford nói một số người trong hội
đồng thị trấn đã bảo ông Radley rằng nếu ông không đem Bob
về, Bob sẽ chết vì nấm mốc do ẩm thấp. Ngoài ra Bob không
thể sống dựa vào tiền bạc của hạt mãi được.
Không ai biết ông Radley đã sử dụng hình thức răn đe nào
để không ai nhìn thấy Bob, nhưng Jem hình dung rằng ông
Radley hầu như thường xuyên xiềng anh ta vào giường. Bố
Atticus nói không, không phải kiểu đó, rằng có nhiều cách làm
cho người ta trở thành bóng ma.
Ký ức tôi trở nên sống động khi thấy bà Radley thỉnh
thoảng mở cửa trước, đi đến mé hàng hiên, tưới nước cho mấy
cây chuối hoa của bà. Nhưng mỗi ngày Jem và tôi đều thấy
ông Radley đi bộ xuống thị trấn rồi trở về. Người đàn ông gày
gò khô quắt, mắt không màu, không màu đến độ chúng không
phản chiếu ánh sáng, Xương gò má của ông ta nhọn và miệng
thì rộng, môi trên mỏng và môi dưới dày. Cô Stephanie
Crawford nói ông ta quá ngay thẳng đến độ ông ta xem lời
Chúa là luật lệ duy nhất của mình, và chúng tôi tin cô, bởi vì
dáng điệu của ông Radley lúc nào cũng thẳng đơ.
Ông không bao giờ nói chuyện với chúng tôi. Khi ông đi
ngang qua, chúng tôi thường nhìn xuống đất và nói, “Chào
ông”, và ông ho đáp lại. Con trai cả của ông Radley sống ở
Pensacola, anh ta về nhà vào dịp Giáng sinh, và anh ta là một
trong ít người chúng tôi từng thấy bước vào hay rời ngôi nhà
đó. Từ ngày ông Radley đưa Arthur về nhà, người ta nói ngôi
nhà đó đã chết.
Nhưng đến một hôm bố Atticus nói với chúng tôi bố sẽ phạt
nếu chúng tôi làm ồn trong sân và giao cho Calpurnia thực
hiện nhiệm vụ khi ông vắng mặt nếu bà nghe chúng tôi nói
tiếng nào. Ông Radley đang hấp hối.
Ông ấy khá thong thả trong việc này. Những băng ngựa gỗ
của thợ mộc chặn hai đầu đường của khu đất nhà Radley, rơm
được lót trên lề đường, giao thông được chuyển hướng sang
đường nhanh phía sau. Bác sĩ Reynolds đậu xe ngay trước nhà
tôi và đi bộ đến nhà Radley mỗi khi ông ta đến thăm bệnh.
Jem và tôi chơi quanh quẩn trong sân suốt nhiều ngày. Cuối
cùng những băng gỗ được mang đi, và chúng tôi đứng trước
hiên nhìn theo khi ông Radley làm chuyến hành trình cuối
cùng của ông ngang qua nhà tôi.
“Đi rồi một kẻ bần tiện nhất mà Chúa từng thổi hơi thở
vào,” Calpurnia lẩm bẩm, và bà phun nước bọt ra sân với vẻ
trầm tư. Chúng tôi nhìn bà đầy ngạc nhiên, vì hiếm khi
Calpurnia bình luận về cung cách của người da trắng.
Hàng xóm nghĩ khi ông Radley nằm xuống Bob sẽ xuất
hiện, nhưng mọi người đã lầm: anh trai Bob từ Pensacola trở
về và thế chỗ ông Radley. Khác biệt duy nhất giữa anh ta và
người cha là tuổi tác. Jem nói ông Nathan Radley cũng “mua
bông vải.” Tuy nhiên Nathan có đáp lại chúng tôi khi chúng tôi
chào buổi sáng, và đôi khi chúng tôi thấy anh ta từ thị trấn ra
về với tờ tạp chí trên tay.
Chúng tôi càng nói nhiều với Dill về nhà Radley, nó càng
muốn biết, thật đứng ôm cột điện càng lâu nó càng thắc mắc.
“Không biết hắn ta làm gì trong đó”, nó lẩm bẩm. “Cứ là
hắn ta vừa thò đầu ra khỏi cửa ấy.
Jem nói, “Hắn ta đi ra ngoài, chắc chắn rồi, khi mà trời tối
thui. Cô Stephanie Crawford nói có lần cô tỉnh dậy lúc nửa
đêm và thấy hắn nhìn cô qua cửa số…nơi đầu của hắn giống
như cái sọ người nhìn cô. Mày có bao giờ thức giấc nửa đêm
rồi nghe thấy tiếng hắn không, Dill? Hắn đi giống vậy nè….”
Jem lê bàn chân anh trên sỏi. “Mày nghĩ sao khi cô Rachel lại
khoá cửa kỹ thế ban đêm? Nhiều buổi sáng tao còn thấy dấu
vết của hắn ở sân sau, và có đêm tao nghe thấy hắn cào cửa
lưới sau nhà, nhưng khi bố Atticus ra tới đó thì hắn đã đi mất.
“Không biết hắn như thế nào sao?” Dill hỏi:
Jem đưa ra mô tả hợp lý về Bob: Bob cao khoảng mét chín,
đoán chừng qua những dấu vết của hắn; hắn ăn thịt sóc sống
và bất cứ con mèo nào hắn bắt được, đó là lý do tại sao hai bàn
tay hắn đầy máu-nếu mày ăn sống thú vật, mày sẽ không bao
giờ rửa sạch máu được. Mặt hắn có nguyên một vết sẹo lồi
chạy ngang qua; răng hắn không những vàng khè mà còn bị
sâu nữa; mắt hắn thô lố; miệng lúc nào cũng chảy nước dãi.
“Tụi mình thử dụ hắn ra ngoài đi,” Dill nói. “Tao muốn
thấy hắn ra sao.”
Jem nói nếu Dill muốn bị mất mạng, thì nó chỉ cần đi tới và
gõ cửa trước.
Cuộc đột kích đầu tiên của bọn tôi xảy ra bởi vì Dill cá với
[9]
Jem cuốn The Gray Ghost
ăn hai cuốn truyện Tom Swift
rằng Jem sẽ không dám đi quá cổng nhà Radley. Cả đời mình,
Jem chưa từng từ chối một thách thức nào.
Jem nghĩ về chuyện đó ba ngày. Tôi nghĩ rằng anh ấy yêu
danh dự hơn cái mạng mình, vì Dill công kích liên tục khiến
anh kiệt sức dễ dàng. “Mày sợ rồi”, ngày đầu Dill nói. “Tao
không sợ, chỉ kính trọng thôi,” Jem nói. Ngày hôm sau Dill
nói, “Mày sợ muốn chết đến độ không dám đặt ngón chân cái
vào sân trước.” Jem nói anh ấy tin là mình không sợ, mỗi ngày
anh ấy đều đi học ngang qua nhà Radley.
“Lần nào cũng chạy thục mạng,” tôi nói.
Nhưng Dill khích được anh ấy vào ngày thứ ba, khi nó nói
với Jem rằng dân Meridian chắc chắn không sợ hãi như dân
Maycomb, rằng nó chưa từng thấy dân nào nhát như dân
Maycomb.
Điều này đủ làm cho Jem phải đi đến góc đường, ở đó anh
dừng lại và dựa vào cột đèn, nhìn cánh cổng đong đưa như
khùng điên trên bản lề tự chế.
“Tao hy vọng cái đầu mày tự hiểu ra rằng hắn sẽ giết từng
đứa bọn mình đó, Dill Harris,” Jem nói, khi chúng tôi tới nhập
bọn với anh. “Đừng trách tao khi hắn móc mắt mày nghen.
Hãy nhớ là mày khơi mào vụ này đó.”
“Mày vẫn còn sợ,” Dill kiên nhẫn lầm bầm.
Jem muốn Dill biết rõ ràng rằng anh ấy chẳng sợ bất cứ thứ
gì. “Chỉ có điều tao không nghĩ ra cách dụ hắn ra khỏi nhà hắn
mà không bắt được mình thôi.” Ngoài ra Jem còn nghĩ đến cô
em nhỏ của mình nữa.
Khi anh ấy nói vậy, tôi biết ngay anh ấy sợ. Jem cũng phải
nghĩ tới em gái khi tôi thách anh ấy nhảy từ nóc nhà xuống.
“Nếu tao chết thì mày sống ra sao?” Anh hỏi. Rồi anh nhảy,
rơi xuống đất an toàn, và ý thức trách nhiệm đã biến khỏi anh
ấy cho đến khi anh đối mặt với nhà Radley.
“Mày né vụ thách thức này sao?” Dill hỏi. “Nếu vậy
mày….”
“Dill, mày phải nghĩ về mấy chuyện này,” Jem nói. “Để tao
suy nghĩ một chút… nó giống như việc làm cho một con rùa
bò ra…”
“Làm cách nào?” Dill hỏi.
“Đốt cây diêm hơ dưới bụng nó.”
Tôi bảo Jem nếu anh đốt nhà Radley tôi sẽ mách bố
Atticus.
Dill nói đốt diêm hơ dưới bụng rùa là độc ác.
“Không độc ác, chỉ là thuyết phục nó-không giống như việc
mày đốt lửa thui nó đâu,” Jem làu bàu.
“Sao mày biết đốt diêm không làm nó đau?”
“Bọn rùa không có cảm giác, đồ ngốc” Jem nói.
“Bộ mày từng là rùa hả?”
“Trời đất, Dill để tao nghĩ coi.. tụi mình có thể làm hắn
hoảng….”
Jem đứng suy nghĩ quá lâu đến độ Dill nhượng bộ một
chút, “Tao sẽ không nói là mày chạy vụ này và tao sẽ đổi cho
mày cuốn The Gray Ghost chỉ cần mày dám đến đó rờ vào
ngôi nhà.”
Jem sáng rỡ. “Rờ vào ngôi nhà, vậy thôi hả?”
Dill gật đầu.
“Chắc chắn chỉ vậy thôi hả? Tao không muốn mày đòi thêm
chuyện gì khác khi tao quay lại.”
“Ừ, chỉ nhiêu đó thôi,” Dill nói. “Chắc chắn hắn sẽ chạy ra
đuổi khi thấy mày trong sân, lúc đó tao với Scout sẽ nhào vô,
đè hắn xuống cho tới khi mình nói được với hắn là mình
không tính hại gì hắn.”
Chúng tôi rời góc phố, băng qua con đường nhỏ trước nhà
Radley, và dừng ngay cổng.
“Tới luôn đi,” Dill nói, “Scout với tao ở ngay sau lưng
mày.”
“Tao đi nè,” Jem nói, “đừng có thúc.”
Anh đi đến góc sân, rồi lùi lại nghiên cứu địa thế như thể
quyết định tìm cách tốt nhất để vào trong, nhíu mày và gãi
đầu.
Rồi tôi chế nhạo anh ấy.
Jem đẩy tung cách cổng và đi nhanh đến hông nhà, vỗ vào
nó và chạy trở ra vượt qua chỗ chúng tôi, không chờ xác nhận
xem cuộc xâm nhập của anh có thành công hay không. Dill và
tôi chạy theo sát gót anh. An toàn ở hàng hiên nhà mình, thở
hổn hển, rầu rĩ và buồn bã.
Ngôi nhà cũ kỹ vẫn như thế, rầu rĩ và buồn bã, nhưng khi
nhìn dọc theo con đường, chúng tôi tưởng như mình thấy một
tấm rèm cửa bên trong nhúc nhích. Khẽ rung nhẹ. Một chuyển
động rất nhẹ, hầu như không thể thấy, và ngôi nhà vẫn lặng
ngắt.
Chương 2
Dill chia tay chúng tôi vào đầu tháng Chín, để trở về
Meridian. Chúng tôi tiễn nó lên chuyến xe buýt năm giờ và tôi
đau khổ vì vắng bóng nó cho đến khi nhớ ra còn một tuần nữa
là phải đi học. Tôi không bao giờ mong chờ bất cứ điều gì hơn
trong đời. Nhiều giờ trong mùa đông tôi ở trong ngôi nhà trên
cây, nhìn qua sân trường, theo dõi bọn trẻ bằng ống nhòm
phóng đại hai lần mà Jem cho tôi, nghiên cứu những trò chơi
của chúng, dõi theo chiếc áo khoác đỏ của Jem qua những
nhóm bạn luồn lách chơi trò bịt mắt bắt dê, bí mật chia sẻ
những vận rủi và những chiến thắng nho nhỏ của tụi nó. Tôi
thèm được nhập bọn với chúng.
Jem hạ cố dẫn tôi đến trường ngày đầu tiên, một công việc
do bố mẹ thường làm, nhưng bố Atticus nói Jem sẽ thích chỉ
cho tôi biết phòng học của tôi chỗ nào. Tôi nghĩ hẳn anh được
một ít tiền trong phi vụ này, vì khi chúng tôi chạy lóc cóc quẹo
góc phố ngang ngôi nhà Radley tôi nghe tiếng xủng xoẻng
khác thường trong túi của Jem. Khi chúng tôi đi chậm lại tại
rìa trường, Jem cẩn thận giải thích rằng trong giờ ở trường tôi
không được làm phiền anh ấy, tôi không được lại gần anh ấy
[10]
để yêu cầu diễn một đoạn trong Tazan and the Ant Men
,
làm anh bẽ mặt qua việc nhắc tới cuộc sống riêng tư của anh
ấy, hay lẽo đẽo theo sau anh vào giờ giải lao và buổi trưa. Tôi
phải chơi với bọn lớp một của tôi còn anh ấy chơi với bọn lớp
năm. Tóm lại, tôi phải để anh yên.
“Ý anh là tụi mình không chơi chung nữa hả?” Tôi hỏi.
“Ở nhà mình vẫn chơi chung,” anh nói, “nhưng mày biết
đó-trường học thì khác chứ.”
Chắc chắn như vậy rồi. Trước khi buổi sáng đầu tiên trôi
qua, cô Caroline Fisher, cô giáo của chúng tôi, lôi tôi lên trước
lớp và khẻ tay tôi bằng cây thước, rồi bắt tôi đứng ở góc phòng
đến tận trưa.
Cô Caroline chưa quá hai mươi mốt tuổi. Cô có mái tóc
màu nâu sáng, má hồng, và sơm móng tay màu đỏ thẫm. Cô
cũng mang giày cao gót và mặc váy sọc trắng đỏ. Cô trông
giống và có mùi một giọt bạc hà. Cô ở trọ bên kia đường cách
nhà chúng tôi một căn, trong phòng trên lầu của cô Maudie
Atkinson, và khi cô Maudie giới thiệu tôi với cô, Jem bối rối
trong nhiều ngày.
Cô Caroline viết tên cô bằng chữ in trên bảng và nói, “Câu
này nghĩa là: Tôi là cô Caroline Fisher. Tôi quê ở Bắc
Alabama, hạt Winston.” Cả lớp lầm bầm đầy lo lắng, liệu cô
có chứng tỏ mình mang những nét quái đản đặc trưng của
vùng đó không đây. (Khi Alabama ly khai khỏi liên bang ngày
11 tháng Giêng năm 1861, hạt Winston đã ly khai khỏi
Alabama, và mọi đứa trẻ ở hạt Maycomb đều biết vụ này.) Bắc
Alabama vẫn đầy những tập đoàn kinh doanh rượu, những tay
[11]
Big Mule
, các công ty...
Tên sách: Giết con chim nhại
Tác giả: Harper Lee
Người dịch: Huỳnh Kim Oanh & Phạm Viêm Hương
Thể loại: Văn học nước ngoài
Nhà xuất bản: NXB Văn học
Năm sản xuất: 7/2008
Đánh máy & sửa chính tả: nutuongcuop
Chuyển sang ebook: nutuongcuop
Ngày hoàn thành: 02/12/2008
http://www.thuvien-ebook.com
Mục lục
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Chương 17
Chương 18
Chương 19
Chương 20
Chương 21
Chương 22
Chương 23
Chương 24
Chương 25
Chương 26
Chương 27
Chương 28
Chương 29
Chương 30
Chương 31
Tặng ông Lee và Alice vì Tình yêu và sự trìu mến
Chương 1
Khi sắp mười ba tuổi, anh trai Jem của tôi bị gãy ngay
khuỷu tay. Khi lành lại, nỗi sợ không bao giờ có thể chơi bóng
được nữa của Jem đã dịu bớt, anh ít nghĩ ngợi về thương tật
của mình. Cánh tay trái của anh hơi ngắn hơn cánh tay phải;
khi đứng hoặc đi, mu bàn tay anh cứ thẳng góc với thân mình,
ngón cái song song với đùi. Anh hoàn toàn không quan tâm,
miễn là anh còn chuyền và lốp bóng được.
Sau nhiều năm tháng trôi qua đủ để giúp chúng tôi nhìn lại,
đôi khi chúng tôi bàn bạc về những sự kiện đưa đẩy đến tai
nạn này. Tôi vẫn cho rằng tất cả là do nhà Ewell, nhưng Jem,
lớn tôi bốn tuổi, lại bảo chuyện này đã bắt đầu từ trước đó rất
lâu. Anh nói chuyện đó bắt đầu vào mùa hè khi Dill đến chơi
với chúng tôi, lúc Dill lần đầu mớm cho chúng tôi ý tưởng kéo
được Bob Radley ra khỏi nhà.
Tôi nói nếu anh muốn có một cái nhìn bao quát về sự việc
này, thì thực sự nó bắt đầu với Andrew Jackson. Nếu tướng
[1]
Jackson không đẩy người Da đỏ Creek
lên thượng nguồn
thì Simon Finch sẽ không bao giờ chèo thuyền đến Alabama,
và liệu chúng tôi sẽ ở đâu nếu ông không làm việc đó? Chúng
tôi đã quá lớn không thể dàn xếp một cuộc tranh cãi bằng nắm
đấm, vì vậy chúng tôi hỏi ý kiến bố Atticus. Bố nói cả hai đứa
tôi đều đúng.
Là dân miền Nam, một số người trong gia tộc thấy xấu hổ
vì chúng tôi chẳng có tổ tiên nào được lưu danh ở phía bên này
[2]
hoặc bên kia trong trận Hasting
. Chúng tôi chỉ có mỗi
Simon Finch, một tay bào chế thuốc bẫy thú lấy lông gốc từ
Cornwall, người chỉ để cho thói keo kiệt vượt trội hơn so với
lòng mộ đạo của mình. Ở Anh, Simon tức tối trước việc bách
hại những người tự xưng là tín đồ phái Giám lý dưới tay các
đạo hữu cấp tiến hơn của họ và vì Simon cũng nhận mình là
tín đồ Giám Lý nên ông ta tìm đường vượt Đại Tây Dương
đến Philadelphia, sau đó đến Jamaica, rồi đến Mobile, và lên
đến Saint Stephens. Luôn nghĩ đến những phê phán của John
[3]
Wesley về thói lắm lời trong việc mua bán, Simon kiếm tiền
bằng việc hành nghề y, nhưng trong việc này ông ta không vui
vì sợ mình bị cám dỗ phải làm những điều mà ông biết rằng
không vì vinh quang của Chúa, như việc đeo vàng trên người
và mặc quần áo đắt tiền. Vì thế Simon, sau khi quên đi châm
ngôn của thầy giáo mình về việc sở hữu nô lệ, đã mua ba nô lệ
và với sự trợ giúp của họ ông lập một trang trại trên bờ sông
Alabama, cách Saint Stephens khoảng bốn mươi dặm về phía
thượng nguồn. Ông chỉ trở lại Saint Stephens một lần, để tìm
vợ, và ông đã cùng bà tạo dựng một dòng họ với nhiều con
gái. Simon sống rất thọ và chết trong giàu có.
Thông lệ của người trong gia tộc này là vẫn ở lại trang trại
của Simon, nó có tên là Finch's Landing, và kiếm sống bằng
nghề trồng bông vải. Trang trại này hoàn toàn tự túc: khá
khiêm tốn so với những đại nông trại xung quanh, nhưng
Landing vẫn sản xuất được mọi thứ để duy trì cuộc sống trừ
nước đá, bộ mỳ và những thứ y phục, vốn phải mua từ những
ghe thương hồ từ Mobile.
Simon nhìn sự náo loạn giữa miền Nam với miền Bắc với
nỗi giận dữ bất lực, vì nó khiến cho con cháu ông bị tước đoạt
hết mọi thứ trừ đất đai của chúng, nhưng truyền thống sống
bám vào đất vẫn được duy trì đến nhiều thập niên của thế kỷ
hai mươi, khi bố tôi, Atticus Finch, đến Montgomery đế học
luật, và em trai bố đến Boston học y. Chị Alexandra của bố là
người họ Finch vẫn ở lại Landing: bà cưới một ông chồng ít
nói, người dành phần lớn thời gian nằm trên chiếc võng cạnh
bờ sông mà tự hỏi những dây câu của mình đã dính cá hết
chưa.
Khi được nhận vào luật sư đoàn, bố tôi trở về Maycomb và
bắt đầu hành nghề. Maycomb, cách Finch's Landing mười hai
dặm về phía Đông, là trung tâm của hạt Maycomb. Văn phòng
của bố Atticus tại tòa án chẳng có gì nhiều hơn một cái giá
treo mũ, một ống nhổ, một bàn cờ đam và một cuốn luật
Alabama còn mới nguyên. Hai thân chủ đầu tiên của bố là hai
người cuối cùng bị treo cổ trong nhà tù hạt Maycomb. Bố
Atticus đã cố thuyết phục họ chấp nhận sự khoan hồng của
tiểu bang trong việc cho phép họ nhận tội giết người cấp độ
[4]
hai
và giữ được mạng sống, nhưng họ thuộc dòng tộc
Haverford, ở hạt Maycomb cái tên này đồng nghĩa với thằng
ngốc. Những tay Haverford này đã giết chết người thợ rèn giỏi
nhất của Maycomb trong một vụ hiểu lầm xuất phát từ việc bắt
giữ một con ngựa bị coi là sai trái, thật thiếu khôn ngoan khi
làm việc đó trước mặt ba nhân chứng, và cứ khăng khăng rằng
đồ-chó-đẻ-nếu-hắn-có-ý-đó là cách biện hộ đủ hiệu quả cho
bất cứ ai. Họ nhất quyết rằng mình không phạm tội giết người
cấp độ một, vì vậy bố Atticus không thể làm gì hơn cho thân
chủ trừ việc có mặt vào lúc họ lên đường, một vụ xử có lẽ là
khởi đầu cho nỗi chán ghét đối với ngạch luật sư hình sự của
bố.
Trong năm năm đầu ở Maycomb, bố Atticus thực hành tiết
kiệm hơn bất cứ thứ gì khác, trong nhiều năm sau đó bố đầu tư
thu nhập của mình vào việc học hành của em trai bố. John
Hale Finch nhỏ hơn bố mười tuổi và chọn học nghề y vào thời
điểm mà việc trồng bông vải không còn sinh lợi nữa; nhưng
[5]
sau khi giúp chú Jack khởi nghiệp, bố Atticus có được thu
nhập đáng kể từ nghề luật. Bố thích Maycomb, ông sinh ra và
lớn lên ở hạt Maycomb; ông biết rõ dân ở đây và họ cũng biết
bố, và do công việc làm ăn của Simon Finch, nên bố Atticus
có quan hệ họ hàng hoặc thông gia với hầu hết các gia đình ở
thị trấn này.
Maycomb là một thị trấn cổ, nhưng nó là một thị trấn cổ
chán ngắt khi lần đầu tiên tôi biết nó. Vào mùa mưa đường
phố trở nên lầy lội đỏ quạch; cỏ mọc trên hai lề đường, tòa án
ủ rũ ở quảng trường. Không hiểu sao hồi đó trời nóng hơn:
một con chó mực khổ sở trong ngày hè; mấy con lừa trơ
xương bị buộc vào những cỗ xe hai bánh lo đuổi ruồi trong
bóng râm nồng nực của những cây sồi trên quảng trường. Đến
chín giờ sáng những chiếc cổ cồn cứng của các ông rũ xuống.
Các bà tắm trước buổi trưa, rồi sau giấc ngủ ngắn lúc ba giờ,
và khi đêm xuống họ trông giống như những chiếc bánh bơ
mềm phủ mồ hôi và phấn rôm ngọt.
Hồi đó người ta di chuyển chậm chạp. Họ thơ thẩn qua
quảng trường, lê bước ra hoặc vào các cửa hàng quanh đó, rề
rà trong mọi chuyện. Một ngày hai mươi bốn giờ nhưng có vẻ
như dài hơn. Chẳng có gì vội vã, vì chẳng có nơi nào để đi,
[6]
không có gì để mua và không có tiền để mua , chẳng có gì
để thăm thú bên ngoài địa giới hạt Maycomb. Nhưng đó là
thời kỳ lạc quan mơ hồ của một số người: đến gần đây người
ta đã bảo với hạt Maycomb rằng nó chẳng có gì để sợ ngoài
[7]
chính nỗi sợ hãi .
Chúng tôi sống ở con phố chính của thị trấn-bố Atticus,
Jem và tôi, thêm Calpurnia đầu bếp của chúng tôi. Jem với tôi
thấy bố rất dễ chịu: ông chơi với chúng tôi, đọc cùng chúng
tôi, và đối đãi với chúng tôi với sự xa cách lịch sự.
Calpurnia lại khác. Bà toàn góc cạnh và xương xẩu; bà cận
thị; bà lé; bàn tay bà to bè như thanh giát giường và cứng gấp
đôi. Bà luôn xua tôi khỏi nhà bếp, hỏi tôi sao không cư xử
ngoan ngoãn được như Jem mặc dù bà biết anh ấy lớn hơn, và
gọi tôi về nhà khi tôi không muốn về. Những trận chiến của
chúng tôi thật hùng tráng và chênh lệch. Calpurnia luôn luôn
thắng, chủ yếu vì bố Atticus lúc nào cũng đứng về phía bà. Bà
đã ở với chúng tôi từ khi Jem chào đời, và trong những chừng
mực gì còn nhớ được thì tôi đều cảm thấy sự có mặt độc đoán
của bà.
Mẹ chúng tôi mất khi tôi lên hai, vì vậy tôi không hề cảm
thấy thiếu vắng bà. Bà là một người thuộc họ Graham gốc ở
Montgomery; bố Atticus gặp mẹ khi lần đầu bố được bầu vào
cơ quan lập pháp bang. Lúc đó bố đã trung niên, mẹ nhỏ hơn
bố mười lăm tuổi. Jem là kết quả của năm đầu họ lấy nhau;
bốn năm sau tôi chào đời, và hai năm sau mẹ tôi mất vì một
cơn đau tim. Họ nói bệnh này di truyền trong gia đình bà. Tôi
không nhớ mẹ, nhưng chắc Jem nhớ. Anh ấy nhớ mẹ rất rõ, và
đôi khi đang chơi giữa chừng anh ấy thở dài hồi lâu, sau đó bỏ
đi chơi một mình ở phía sau nhà xe. Khi anh ấy như vậy, tôi
biết khôn hồn thì đừng quấy rầy anh ấy.
Khi tôi gần được sáu tuổi và Jem xấp xỉ mười, ranh giới
cho kỳ nghỉ hè của chúng tôi (nằm trong tầm nghe được tiếng
gọi của Calpurnia) là nhà của bà Herry Lafayette Dubose cách
nhà tôi hai căn về phía Bắc và tòa nhà Radley cách nhà tôi ba
căn về phía Nam. Chúng tôi không bao giờ có ý muốn phá vỡ
các ranh giới đó. Tòa nhà Radley là nơi cư ngụ của một thực
thể lạ lẫm chỉ cần nghe miêu tả là đủ khiến chúng tôi ngoan
ngoãn trong nhiều ngày liên tục, bà Dubose thì chán chết đi
được.
Đó là mùa hè Dill đến với chúng tôi.
Một sáng sớm khi chúng tôi bắt đầu trò chơi ở sân sau, Jem
và tôi có nghe tiếng gì đó ở nhà bên cạnh, trong mảnh vườn
trồng bắp cải của cô Rachel Haverford. Chúng tôi đến bên
hàng rào dây kẽm để xem có phải một chú chó con không-con
chó săn chuột của cô Rachel đang sắp đẻ-thay vào đó chúng
tôi thấy một đứa bé đang nhìn mình. Ngồi ở đó, nó không cao
hơn những cây cải là mấy. Chúng tôi nhìn nó cho đến khi nó
lên tiếng:
“Chào”
“Chào”, Jem vui vẻ đáp.
“Tao là Charles Baker Harris”, nó nói. “Tao biết đọc đó”.
“Thì sao?” tôi nói.
“Tao nghĩ tui bay muốn biết tao có biết đọc hay không. Tụi
bay có thứ gì cần đọc thì tao đọc cho…”
“Mày mấy tuổi”, Jem hỏi, “bốn tuổi rưỡi hả?”
“Sắp bảy tuổi.”
“Vậy có gì bảnh đâu,” Jem nói, chĩa ngón trỏ về phía tôi.
“Con Scout kia biết đọc từ lúc mới đẻ, mà nó còn chưa tới
trường nữa kìa. Sắp bảy tuổi mà coi mày nhỏ xíu à.”
“Tao nhỏ con nhưng tao lớn rồi,” nó nói.
Jem hất tóc ra sau để nhìn rõ hơn. “Sao mày không qua đây,
Charles Baker Harris?” Anh ấy nói. “Cái tên nghe ngon dữ.”
“Tên tao đâu mắc cười gì hơn tên mày. Dì Rachel nói tên
mày là Jeremy Atticus Finch.”
Jem cau mặt. “Tao đủ lớn để khớp với tên của tao,” anh ấy
nói. “Tên mày còn dài hơn người mày nữa. Dám chắc là nó dài
hơn cỡ ba tấc.”
“Người ta gọi tao là Dill,” Dill nói, cựa quậy bên dưới hàng
rào.
“Tốt hơn là mày nhảy qua thay vì chui dưới hàng rào,” tôi
nói. “Mày ở đâu tới vậy?”
Dill quê ở Meridian, Mississippi, đang nghỉ hè ở chỗ dì nó,
cô Rachel, và từ nay trở đi cứ hè là nó về Maycomb. Gia đình
nó trước ở Maycomb, mẹ nó làm việc cho một tay thợ chụp
hình ở Meridian, đã đưa ảnh của nó đi dự một cuộc thi Bé
Xinh và giành được giải thưởng năm đô. Bà cho Dill số tiền
đó, nhờ thế nó đi xem phim được hai mươi lần.
“ Ở đây không có mục phim ảnh gì hết, trừ thỉnh thoảng có
chiếu phim về chúa Jesus trong tòa án,” Jem nói. “Có từng
xem thứ gì hay hay không?”
Dill đã xem Dracula, một phát hiện khiến Jem nhìn nó với
đôi mắt bắt đầu có vẻ nể nang. “Kể tụi tao nghe đi,” anh ấy
nói.
Dill là một đứa khác lạ. Nó mặc quần soóc bằng vải lanh
xanh cài nút vào áo sơ mi, tóc nó trắng như tuyết và ép sát vào
đầu như lông vịt; nó lớn hơn tôi một tuổi nhưng tôi cao hơn
nó. Khi nó kể cho chúng tôi nghe về câu chuyện cũ xì đó đôi
mắt xanh của nó hết sáng lên lại tối sầm; tiếng cười của nó bất
ngờ và vui vẻ; nó luôn tay giật chỗ tóc bò liếm ngay giữa trán.
Khi Dill kể rốt ráo hết phim Dracula, và Jem nói phim
nghe có vẻ hay hơn sách, tôi hỏi Dill ba nó đâu, “Không nghe
mày nói gì về ba mày hết.”
“Tao không có ba.”
“Ổng chết rồi hả?”
“Không ….”
“Vậy nếu ổng không chết tức là mày có ba, đúng không?”
Dill đỏ mặt và Jem bảo tôi im, một dấu hiệu cho thấy rõ
ràng Dill đã được nghiên cứu và xếp vào loại chấp nhận được.
Sau đó mùa hè trôi qua trong sự thỏa mãn bình thường. Sự
thỏa mãn bình thường nghĩa là: cải thiện ngôi nhà trên cây của
chúng tôi vốn nằm giữa hai cây xoan khổng lồ sinh đôi ở sân
sau, làm rộn mọi chuyện, lược qua danh sách những vở kịch
dựa trên tác phẩm của Oliver Optich, Vitor Appleton và Edgar
Rice Burroughs. Trong vụ này chúng tôi may mắn có Dill. Nó
đóng những vai trước đây tôi phải nhận – con khỉ đột trong vở
Tazan, ông Crabtree trong The Rover Boys, ông Damon trong
Tom Swift. Vì vậy chúng tôi dần xem Dill là một tay Merlin bỏ
[8]
túi , với một cái đầu đầy những kế hoạch ly kỳ, những khát
khao quái lạ, và những tưởng tượng kỳ quặc.
Nhưng vào cuối tháng Tám kho tiết mục trò chơi của chúng
tôi trở nên nhạt nhẽo vì đã chơi hoài không biết bao lần, và
chính lúc đó Dill đã mớm cho chúng tôi ý tưởng dụ Boo
Radley ra khỏi nhà.
Ngôi nhà Radley mê hoặc Dill. Bất chấp những cảnh báo và
giải thích của chúng tôi, ngôi nhà đó cứ thu hút nó như mặt
trăng hút con nước, nhưng hút nó không vượt qua cột đèn ở
góc phố, một khoảng cách an toàn tính từ cổng nhà Radley. Nó
sẽ đứng đó, ôm lấy cột đèn, chăm chú nhìn và băn khoăn.
Nhà Radley nhô hẳn ra đường cách nhà tôi một đoạn. Đi về
phía Nam, người ta thấy hàng hiên của nó; lề đường bẻ góc và
chạy dọc khu nhà. Ngôi nhà thấp, từng sơn màu trắng với hàng
hiên rộng phía trước và những cửa chớp màu xanh lá cây,
nhưng từ lâu đã chuyển sang màu xám xanh giống màu của
vuông sân quanh đó. Những miếng ván lớn mục rã vì mưa gió
rũ trên mái hiên; những cây sồi che khuất ánh mặt trời. Tàn
tích của những chiếc cọc nhọn làm hàng rào xiêu vẹo ở sân
trước – một cái sân “để quét” vốn không bao giờ được quét –
nơi cỏ cho gia súc và cỏ thuốc thỏ mọc lan tràn.
Bên trong ngôi nhà có một bóng ma quỷ quái. Người ta nói
hắn có thật, nhưng Jem và tôi chưa bao giờ thấy hắn. Người ta
nói hắn ra ngoài vào ban đêm khi trăng lặn, và nhìn lén qua
cửa sổ. Khi cây đỗ quyên khô của người ta đông cứng trong
một đợt rét, đó là do hắn hà hơi vào chúng. Mọi vụ trộm vặt ở
Maycomb đều là do hắn. Có lần thị trấn kinh hoàng vì hàng
loạt sự kiện ghê rợn về đêm: người ta tìm thấy gà và những thú
cưng trong nhà bị chặt khúc; dù thủ phạm là Addie điên, tên
này sau cũng đã tự trầm ở vũng xoáy Barker, nhưng người ta
vẫn nhìn vào nhà Radley, không hề muốn dẹp bỏ những nghi
ngờ ban đầu của họ. Một người Da đen sẽ không đi ngang nhà
Radley vào ban đêm, ông ta sẽ băng qua lề đường đối diện và
huýt sáo khi bước đi. Khuôn viên trường Maycomb giáp lưng
với khu đất nhà Radley; những cây hồ đào cao lớn trong sân
nuôi gà nhà Radley rụng đầy quả xuống sân trường. nhưng
những quả hạch nằm đó mà không đứa trẻ nào dám đụng đến:
những quả hồ đào nhà Radley sẽ giết bạn. Một quả bóng rơi
vào sân Radley và coi như mất và không ai buồn nêu ra thắc
mắc nào.
Nỗi bất hạnh của ngôi nhà đó bắt đầu nhiều năm trước khi
Jem với tôi ra đời. Người nhà Radley, tuy được chào đón ở bất
cứ nơi nào trong thị trấn, lại sống tách biệt, một sở thích không
thể tha thứ được ở Maycomb. Họ không đi nhà thờ, nơi giải trí
chủ yếu của Maycomb, mà thờ phụng tại nhà; bà Radley hiếm
khi qua bên kia đường uống cà phê giữa buổi sáng với hàng
xóm, và chắc chắn không bao giờ tham gia nhóm truyền giáo.
Ông Radley đi bộ xuống thị trấn lúc mười một giờ rưỡi sáng,
và trở về vào đúng mười hai giờ, đôi khi xách một túi giấy
nâu, mà láng giềng cho hàng tạp phẩm cho gia đình. Tôi
không biết ông già Radley kiếm sống bằng cách nào-Jem nói
ông ta “mua bông vải”, một mỹ từ lịch sự để chỉ việc không
làm gì cả-nhưng ông Radley và vợ ông ta sống ở đó với hai
con trai từ lâu lắm rồi.
Cửa sổ và cửa chính nhà Radley đóng kín vào những ngày
Chủ nhật; một điều nữa trái với cung cách của Maycomb: cửa
đóng chỉ có nghĩa là bệnh hay trời lạnh. Trong các ngày thì
Chủ nhật là ngày dành cho viếng thăm buổi chiều theo nghi
thức: các bà mặc áo nịt, đàn ông mặc áo khoác, trẻ con mang
giầy. Nhưng leo lên những bậc thềm trước nhà Radley và nói,
“xin chào” vào buổi chiều Chủ nhật là điều mà không một
người hàng xóm nào làm. Ngôi nhà Radley không có những
cửa lưới. Có lần tôi hỏi bố Atticus liệu nó đã từng có cái nào
không; bố Atticus nói có, nhưng trước khi tôi ra đời kia.
Theo lời hàng xóm đồn đại, khi đứa con nhỏ nhà Radley ở
tuổi thiếu niên, nó giao du với đám con nhà Cunningham gốc
ở Old Sarum, một dòng họ đông đúc và khó hiểu cư trú ở phía
Bắc của hạt này, và chúng lập thành một thứ gần như băng
nhóm, thứ Maycomb chưa từng có bao giờ. Chúng chẳng làm
gì nhiều, nhưng cũng đủ để dân thị trấn bàn luận và bị cảnh
báo công khai tại ba buổi giảng kinh: chúng lẩn quất quanh các
hiệu cắt tóc, đi xe buýt đến Abbottsville vào Chủ nhật và đi
xem phim; chúng dự các buổi khiêu vũ tại ổ cờ bạc bên bờ
sông của hạt, Dew-Drop Inn&Fishung Camp; chúng còn uống
cả rượu lậu. Không ai ở Maycomb có đủ dũng cảm để nói với
Radley rằng con trai ông ta giao du với bọn xấu cả.
Một đêm nọ, trong cơn phấn khích tột độ, bọn chúng chạy
lùi quanh quảng trường trên chiếc ô tô cũ mượn được, kháng
cự nỗ lực chặn bắt của viên tuần cảnh già của Maycomb, ông
Conner, và nhốt ông trong nhà xí của tòa án. Thị trấn nhất
quyết phải làm điều gì đó; ông Conner nói ông biết rõ từng
đứa một, và ông quyết chí và khẳng định chúng sẽ không yên
thân được với chuyện này, vì vậy bọn trai trẻ này bị đưa ra
trước tòa với cáo buộc về tội hành xử bừa bãi, phá rối trật tự,
đe dọa và hành hung, sử dụng ngôn ngữ lăng mạ và báng bổ
trước sự hiện diện và nghe thấy của một phụ nữ. Quan tòa hỏi
ông Conner tại sao ông bao gồm cả tội cuối cùng; ông Conner
nói rằng chúng chửi tục quá lớn đến độ ông chắc mọi quý bà ở
Maycomb đều nghe thấy. Quan tòa quyết định tống bọn quấy
rối này đến trường huấn luyện của tiểu bang, nơi thỉnh thoảng
bọn trai trẻ được gửi đến không vì lý do gì khác hơn là cung
cấp cho chúng thức ăn và chỗ ở tươm tất: nó không phải nhà
từ và cũng không phải là điều gì đáng xấu hổ. Nhưng ông
Radley lại nghĩ nó là vậy. Nếu quan tòa tha cho Arthur, ông
Radley xin đảm bảo chắc chắn rằng Arthur sẽ không gây thêm
rắc rối nào nữa. Biết rằng lời hứa của ông Radley là đinh đóng
cột, nên quan tòa đã hoan hỉ làm thế.
Những đứa đồng bọn thì vào trường huấn luyện và nhận
nền giáo dục trung học tốt nhất có được ở bang này; một đứa
trong bọn còn học tiếp lên trường cơ khí ở Auburn. Những
cánh cửa nhà Radley đóng kín suốt các ngày trong tuần lẫn
ngày Chủ nhật và người ta không thấy mặt thằng con ông
Radley suốt mười lăm năm.
Nhưng đến một ngày, mà Jem hầu như không nhớ được, có
vài người, nhưng không phải Jem, nghe tiếng nói và thấy mặt
Boo Radley. Anh ấy nói bố Atticus chẳng bao giờ nói gì nhiều
về nhà Radley: khi Jem hỏi bố thì câu trả lời duy nhất của bố
Atticus là bảo anh ấy hãy lo chuyện của mình và để cho nhà
Radley lo công việc của họ, họ có quyền đó; nhưng khi chuyện
này xảy ra Jem nói bố Atticus chỉ lắc đầu và kêu, “Mm, umm,
umm.”
Vì vậy Jem nhận hầu hết thông tin từ cô Stephanie
Crawford, một hàng xóm gắt gỏng, người nói mình biết toàn
bộ câu chuyện này. Theo cô Stephanie, Bob đang ngồi trong
phòng khách cắt một số mục trong tờ The Maycomb Tribune
để dán vào cuốn sưu tập báo của anh ta. Ba anh ta bước vào
phòng. Khi ông Radley đi ngang, Bob đâm kéo vào chân ba
mình, rồi rút ra, chùi nó vào quần, và tiếp tục công việc cắt
dán.
Bà Radley chạy ra đường gào lên rằng Arthur sắp giết cả
nhà họ, nhưng khi cảnh sát trưởng đến ông ta thấy Bob vẫn
ngồi trong phòng khách, cắt tờ Tribune. Lúc đó anh ta đã ba
mươi ba tuổi.
Cô Stephanie bảo ông Radley già nói không có người nào
trong nhà Radley phải vào nhà thương điên cả khi có người đề
nghị rằng một đợt an dưỡng ở Tuscaloosa có thể có ích cho
Bob. Bob không điên, nhiều lúc anh ta quá căng thẳng. Nhôt
anh ta lại thì được thôi, ông Radley thừa nhận, nhưng khẳng
định rằng không thể buộc cho Bob bất cứ tội gì: anh ta không
phải là tội phạm. Ông cảnh sát trưởng chẳng nỡ nhốt anh ta
vào tù cùng bọn da đen, vì vậy Bob bị nhốt trong tầng hầm của
tòa án.
Việc chuyển Bob từ tầng hầm về nhà chỉ lờ mờ trong ký ức
của Jem. Cô Stephanie Crawford nói một số người trong hội
đồng thị trấn đã bảo ông Radley rằng nếu ông không đem Bob
về, Bob sẽ chết vì nấm mốc do ẩm thấp. Ngoài ra Bob không
thể sống dựa vào tiền bạc của hạt mãi được.
Không ai biết ông Radley đã sử dụng hình thức răn đe nào
để không ai nhìn thấy Bob, nhưng Jem hình dung rằng ông
Radley hầu như thường xuyên xiềng anh ta vào giường. Bố
Atticus nói không, không phải kiểu đó, rằng có nhiều cách làm
cho người ta trở thành bóng ma.
Ký ức tôi trở nên sống động khi thấy bà Radley thỉnh
thoảng mở cửa trước, đi đến mé hàng hiên, tưới nước cho mấy
cây chuối hoa của bà. Nhưng mỗi ngày Jem và tôi đều thấy
ông Radley đi bộ xuống thị trấn rồi trở về. Người đàn ông gày
gò khô quắt, mắt không màu, không màu đến độ chúng không
phản chiếu ánh sáng, Xương gò má của ông ta nhọn và miệng
thì rộng, môi trên mỏng và môi dưới dày. Cô Stephanie
Crawford nói ông ta quá ngay thẳng đến độ ông ta xem lời
Chúa là luật lệ duy nhất của mình, và chúng tôi tin cô, bởi vì
dáng điệu của ông Radley lúc nào cũng thẳng đơ.
Ông không bao giờ nói chuyện với chúng tôi. Khi ông đi
ngang qua, chúng tôi thường nhìn xuống đất và nói, “Chào
ông”, và ông ho đáp lại. Con trai cả của ông Radley sống ở
Pensacola, anh ta về nhà vào dịp Giáng sinh, và anh ta là một
trong ít người chúng tôi từng thấy bước vào hay rời ngôi nhà
đó. Từ ngày ông Radley đưa Arthur về nhà, người ta nói ngôi
nhà đó đã chết.
Nhưng đến một hôm bố Atticus nói với chúng tôi bố sẽ phạt
nếu chúng tôi làm ồn trong sân và giao cho Calpurnia thực
hiện nhiệm vụ khi ông vắng mặt nếu bà nghe chúng tôi nói
tiếng nào. Ông Radley đang hấp hối.
Ông ấy khá thong thả trong việc này. Những băng ngựa gỗ
của thợ mộc chặn hai đầu đường của khu đất nhà Radley, rơm
được lót trên lề đường, giao thông được chuyển hướng sang
đường nhanh phía sau. Bác sĩ Reynolds đậu xe ngay trước nhà
tôi và đi bộ đến nhà Radley mỗi khi ông ta đến thăm bệnh.
Jem và tôi chơi quanh quẩn trong sân suốt nhiều ngày. Cuối
cùng những băng gỗ được mang đi, và chúng tôi đứng trước
hiên nhìn theo khi ông Radley làm chuyến hành trình cuối
cùng của ông ngang qua nhà tôi.
“Đi rồi một kẻ bần tiện nhất mà Chúa từng thổi hơi thở
vào,” Calpurnia lẩm bẩm, và bà phun nước bọt ra sân với vẻ
trầm tư. Chúng tôi nhìn bà đầy ngạc nhiên, vì hiếm khi
Calpurnia bình luận về cung cách của người da trắng.
Hàng xóm nghĩ khi ông Radley nằm xuống Bob sẽ xuất
hiện, nhưng mọi người đã lầm: anh trai Bob từ Pensacola trở
về và thế chỗ ông Radley. Khác biệt duy nhất giữa anh ta và
người cha là tuổi tác. Jem nói ông Nathan Radley cũng “mua
bông vải.” Tuy nhiên Nathan có đáp lại chúng tôi khi chúng tôi
chào buổi sáng, và đôi khi chúng tôi thấy anh ta từ thị trấn ra
về với tờ tạp chí trên tay.
Chúng tôi càng nói nhiều với Dill về nhà Radley, nó càng
muốn biết, thật đứng ôm cột điện càng lâu nó càng thắc mắc.
“Không biết hắn ta làm gì trong đó”, nó lẩm bẩm. “Cứ là
hắn ta vừa thò đầu ra khỏi cửa ấy.
Jem nói, “Hắn ta đi ra ngoài, chắc chắn rồi, khi mà trời tối
thui. Cô Stephanie Crawford nói có lần cô tỉnh dậy lúc nửa
đêm và thấy hắn nhìn cô qua cửa số…nơi đầu của hắn giống
như cái sọ người nhìn cô. Mày có bao giờ thức giấc nửa đêm
rồi nghe thấy tiếng hắn không, Dill? Hắn đi giống vậy nè….”
Jem lê bàn chân anh trên sỏi. “Mày nghĩ sao khi cô Rachel lại
khoá cửa kỹ thế ban đêm? Nhiều buổi sáng tao còn thấy dấu
vết của hắn ở sân sau, và có đêm tao nghe thấy hắn cào cửa
lưới sau nhà, nhưng khi bố Atticus ra tới đó thì hắn đã đi mất.
“Không biết hắn như thế nào sao?” Dill hỏi:
Jem đưa ra mô tả hợp lý về Bob: Bob cao khoảng mét chín,
đoán chừng qua những dấu vết của hắn; hắn ăn thịt sóc sống
và bất cứ con mèo nào hắn bắt được, đó là lý do tại sao hai bàn
tay hắn đầy máu-nếu mày ăn sống thú vật, mày sẽ không bao
giờ rửa sạch máu được. Mặt hắn có nguyên một vết sẹo lồi
chạy ngang qua; răng hắn không những vàng khè mà còn bị
sâu nữa; mắt hắn thô lố; miệng lúc nào cũng chảy nước dãi.
“Tụi mình thử dụ hắn ra ngoài đi,” Dill nói. “Tao muốn
thấy hắn ra sao.”
Jem nói nếu Dill muốn bị mất mạng, thì nó chỉ cần đi tới và
gõ cửa trước.
Cuộc đột kích đầu tiên của bọn tôi xảy ra bởi vì Dill cá với
[9]
Jem cuốn The Gray Ghost
ăn hai cuốn truyện Tom Swift
rằng Jem sẽ không dám đi quá cổng nhà Radley. Cả đời mình,
Jem chưa từng từ chối một thách thức nào.
Jem nghĩ về chuyện đó ba ngày. Tôi nghĩ rằng anh ấy yêu
danh dự hơn cái mạng mình, vì Dill công kích liên tục khiến
anh kiệt sức dễ dàng. “Mày sợ rồi”, ngày đầu Dill nói. “Tao
không sợ, chỉ kính trọng thôi,” Jem nói. Ngày hôm sau Dill
nói, “Mày sợ muốn chết đến độ không dám đặt ngón chân cái
vào sân trước.” Jem nói anh ấy tin là mình không sợ, mỗi ngày
anh ấy đều đi học ngang qua nhà Radley.
“Lần nào cũng chạy thục mạng,” tôi nói.
Nhưng Dill khích được anh ấy vào ngày thứ ba, khi nó nói
với Jem rằng dân Meridian chắc chắn không sợ hãi như dân
Maycomb, rằng nó chưa từng thấy dân nào nhát như dân
Maycomb.
Điều này đủ làm cho Jem phải đi đến góc đường, ở đó anh
dừng lại và dựa vào cột đèn, nhìn cánh cổng đong đưa như
khùng điên trên bản lề tự chế.
“Tao hy vọng cái đầu mày tự hiểu ra rằng hắn sẽ giết từng
đứa bọn mình đó, Dill Harris,” Jem nói, khi chúng tôi tới nhập
bọn với anh. “Đừng trách tao khi hắn móc mắt mày nghen.
Hãy nhớ là mày khơi mào vụ này đó.”
“Mày vẫn còn sợ,” Dill kiên nhẫn lầm bầm.
Jem muốn Dill biết rõ ràng rằng anh ấy chẳng sợ bất cứ thứ
gì. “Chỉ có điều tao không nghĩ ra cách dụ hắn ra khỏi nhà hắn
mà không bắt được mình thôi.” Ngoài ra Jem còn nghĩ đến cô
em nhỏ của mình nữa.
Khi anh ấy nói vậy, tôi biết ngay anh ấy sợ. Jem cũng phải
nghĩ tới em gái khi tôi thách anh ấy nhảy từ nóc nhà xuống.
“Nếu tao chết thì mày sống ra sao?” Anh hỏi. Rồi anh nhảy,
rơi xuống đất an toàn, và ý thức trách nhiệm đã biến khỏi anh
ấy cho đến khi anh đối mặt với nhà Radley.
“Mày né vụ thách thức này sao?” Dill hỏi. “Nếu vậy
mày….”
“Dill, mày phải nghĩ về mấy chuyện này,” Jem nói. “Để tao
suy nghĩ một chút… nó giống như việc làm cho một con rùa
bò ra…”
“Làm cách nào?” Dill hỏi.
“Đốt cây diêm hơ dưới bụng nó.”
Tôi bảo Jem nếu anh đốt nhà Radley tôi sẽ mách bố
Atticus.
Dill nói đốt diêm hơ dưới bụng rùa là độc ác.
“Không độc ác, chỉ là thuyết phục nó-không giống như việc
mày đốt lửa thui nó đâu,” Jem làu bàu.
“Sao mày biết đốt diêm không làm nó đau?”
“Bọn rùa không có cảm giác, đồ ngốc” Jem nói.
“Bộ mày từng là rùa hả?”
“Trời đất, Dill để tao nghĩ coi.. tụi mình có thể làm hắn
hoảng….”
Jem đứng suy nghĩ quá lâu đến độ Dill nhượng bộ một
chút, “Tao sẽ không nói là mày chạy vụ này và tao sẽ đổi cho
mày cuốn The Gray Ghost chỉ cần mày dám đến đó rờ vào
ngôi nhà.”
Jem sáng rỡ. “Rờ vào ngôi nhà, vậy thôi hả?”
Dill gật đầu.
“Chắc chắn chỉ vậy thôi hả? Tao không muốn mày đòi thêm
chuyện gì khác khi tao quay lại.”
“Ừ, chỉ nhiêu đó thôi,” Dill nói. “Chắc chắn hắn sẽ chạy ra
đuổi khi thấy mày trong sân, lúc đó tao với Scout sẽ nhào vô,
đè hắn xuống cho tới khi mình nói được với hắn là mình
không tính hại gì hắn.”
Chúng tôi rời góc phố, băng qua con đường nhỏ trước nhà
Radley, và dừng ngay cổng.
“Tới luôn đi,” Dill nói, “Scout với tao ở ngay sau lưng
mày.”
“Tao đi nè,” Jem nói, “đừng có thúc.”
Anh đi đến góc sân, rồi lùi lại nghiên cứu địa thế như thể
quyết định tìm cách tốt nhất để vào trong, nhíu mày và gãi
đầu.
Rồi tôi chế nhạo anh ấy.
Jem đẩy tung cách cổng và đi nhanh đến hông nhà, vỗ vào
nó và chạy trở ra vượt qua chỗ chúng tôi, không chờ xác nhận
xem cuộc xâm nhập của anh có thành công hay không. Dill và
tôi chạy theo sát gót anh. An toàn ở hàng hiên nhà mình, thở
hổn hển, rầu rĩ và buồn bã.
Ngôi nhà cũ kỹ vẫn như thế, rầu rĩ và buồn bã, nhưng khi
nhìn dọc theo con đường, chúng tôi tưởng như mình thấy một
tấm rèm cửa bên trong nhúc nhích. Khẽ rung nhẹ. Một chuyển
động rất nhẹ, hầu như không thể thấy, và ngôi nhà vẫn lặng
ngắt.
Chương 2
Dill chia tay chúng tôi vào đầu tháng Chín, để trở về
Meridian. Chúng tôi tiễn nó lên chuyến xe buýt năm giờ và tôi
đau khổ vì vắng bóng nó cho đến khi nhớ ra còn một tuần nữa
là phải đi học. Tôi không bao giờ mong chờ bất cứ điều gì hơn
trong đời. Nhiều giờ trong mùa đông tôi ở trong ngôi nhà trên
cây, nhìn qua sân trường, theo dõi bọn trẻ bằng ống nhòm
phóng đại hai lần mà Jem cho tôi, nghiên cứu những trò chơi
của chúng, dõi theo chiếc áo khoác đỏ của Jem qua những
nhóm bạn luồn lách chơi trò bịt mắt bắt dê, bí mật chia sẻ
những vận rủi và những chiến thắng nho nhỏ của tụi nó. Tôi
thèm được nhập bọn với chúng.
Jem hạ cố dẫn tôi đến trường ngày đầu tiên, một công việc
do bố mẹ thường làm, nhưng bố Atticus nói Jem sẽ thích chỉ
cho tôi biết phòng học của tôi chỗ nào. Tôi nghĩ hẳn anh được
một ít tiền trong phi vụ này, vì khi chúng tôi chạy lóc cóc quẹo
góc phố ngang ngôi nhà Radley tôi nghe tiếng xủng xoẻng
khác thường trong túi của Jem. Khi chúng tôi đi chậm lại tại
rìa trường, Jem cẩn thận giải thích rằng trong giờ ở trường tôi
không được làm phiền anh ấy, tôi không được lại gần anh ấy
[10]
để yêu cầu diễn một đoạn trong Tazan and the Ant Men
,
làm anh bẽ mặt qua việc nhắc tới cuộc sống riêng tư của anh
ấy, hay lẽo đẽo theo sau anh vào giờ giải lao và buổi trưa. Tôi
phải chơi với bọn lớp một của tôi còn anh ấy chơi với bọn lớp
năm. Tóm lại, tôi phải để anh yên.
“Ý anh là tụi mình không chơi chung nữa hả?” Tôi hỏi.
“Ở nhà mình vẫn chơi chung,” anh nói, “nhưng mày biết
đó-trường học thì khác chứ.”
Chắc chắn như vậy rồi. Trước khi buổi sáng đầu tiên trôi
qua, cô Caroline Fisher, cô giáo của chúng tôi, lôi tôi lên trước
lớp và khẻ tay tôi bằng cây thước, rồi bắt tôi đứng ở góc phòng
đến tận trưa.
Cô Caroline chưa quá hai mươi mốt tuổi. Cô có mái tóc
màu nâu sáng, má hồng, và sơm móng tay màu đỏ thẫm. Cô
cũng mang giày cao gót và mặc váy sọc trắng đỏ. Cô trông
giống và có mùi một giọt bạc hà. Cô ở trọ bên kia đường cách
nhà chúng tôi một căn, trong phòng trên lầu của cô Maudie
Atkinson, và khi cô Maudie giới thiệu tôi với cô, Jem bối rối
trong nhiều ngày.
Cô Caroline viết tên cô bằng chữ in trên bảng và nói, “Câu
này nghĩa là: Tôi là cô Caroline Fisher. Tôi quê ở Bắc
Alabama, hạt Winston.” Cả lớp lầm bầm đầy lo lắng, liệu cô
có chứng tỏ mình mang những nét quái đản đặc trưng của
vùng đó không đây. (Khi Alabama ly khai khỏi liên bang ngày
11 tháng Giêng năm 1861, hạt Winston đã ly khai khỏi
Alabama, và mọi đứa trẻ ở hạt Maycomb đều biết vụ này.) Bắc
Alabama vẫn đầy những tập đoàn kinh doanh rượu, những tay
[11]
Big Mule
, các công ty...
 
Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn. (Barack Obama)





