Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng Sản Việt Nam
Mật mã Da-Vinci

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 09h:50' 18-11-2024
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 09h:50' 18-11-2024
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
GIỚI THIỆU
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn tới người bạn - đồng thời là nhà biên tập của tôi,
Jason Kaufman, vì sự chăm chỉ làm việc trong suốt dự án này và vì sự thấu hiểu thực
sự những gì mà cuốn sách này đề cập đến. Và cũng xin gửi lời cảm ơn đến Heide
Lange -người bảo vệ không mệt mỏi cho Mật mã Da Vinci, một người đại diện tuyệt
vời, và một người bạn đáng tin cậy.
Tôi không thể thể hiện hết sự biết ơn của tôi đối với đội ngũ nhân viên hiếm có tại
Doubleday, vì sự hào hiệp, tận tụy và chỉ dẫn tuyệt vời của họ. Đặc biệt cảm ơn Bill
Thomas và Steve Rubin, những người đã tin tưởng vào cuốn sách này ngay từ đầu.
Tôi cũng gửi lời cảm ơn tới những người cốt cán ban đầu trong số những người ủng
hộ của nhà xuất bản đứng đầu là Michael Palgon, Suzanne Herz, Janelle Moburg,
Jackie Everly, và Adrienne Sparks, tới những nhân viên thông minh của đội bán hàng
của Doubleday, và tới Michael Windsor vì cái bìa gây ngạc nhiên.
Vì sự hỗ trợ nhiệt tình trong công việc tìm tòi của cuốn sách, tôi cũng xin gửi lời cảm
ơn tới Bảo tàng Louvre, Bộ Văn hóa Pháp, Dự án Cutenberg, Thư viện quốc gia, Thư
viện tổ chức Mộ đạo Phòng nghiên cứu tranh và Trung tâm tư liệu của Bảo tàng
Louvre, Thời báo thế giới Thiên Chúa giáo, Đài quan sát hoàng gia Ở Greenwich, Tổ
chức ghi âm Luân Đôn, Phòng sưu tập tài liệu của Tu viện Westminster, John Pike và
Liên đoàn các nhà khoa học Mỹ, và 5 thành viên cua Opus Dei (3 người đang tham
gia, 2 người là thành viên cũ) những người đã tường thuật lại những câu chuyện của
họ, gồm cả những tích cực và tiêu cực, liên quan đến những trải nghiệm của họ trong
Opus Dei.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến hiệu sách đường Water vì đã chú ý sưu tập nhiều
cuốn sách nghiên cứu của tôi, đến cha tôi Richard Brown -giáo viên và là nhà viết
sách toán học -vì sự giúp đỡ của ông về thuyết cân xứng thiêng liêng và dãy số
Fibonacci, Stan Planton, Sylve Baudeloque, Peter McGuigan, Francis McInerney,
Margie Wachtel, Andre Vernet, Ken Kelleher Ở Anchorball Web Media, Cara Sottak,
Karyn Popham, Esther Sung, Miriam Abramowitz, William Tunstall-Pedoe, và
Crinffin Wooden Brown.
Và cuối cùng, trong cuốn tiểu thuyết có liên quan sâu sắc tới tính nữ được tôn sùng,
tôi sẽ là người bất cẩn nếu tôi không nhắc đến 2 người phụ nữ đặc biệt trong cuộc đời
tôi. Đầu tiên là mẹ tôi, Connie Brown -người chép kinh, hộ lý, nhạc sĩ, và mẫu hình
tượng. Và vợ tôi, Blythe -sử gia nghệ thuật, họa sĩ, biên tập viên và không một chút
nghi ngờ rằng cô ấy là người phụ nữ tài năng kỳ lạ nhất mà tôi đã từng biết.
NHỮNG SỰ VIỆC CÓ THẬT
Tu viện Sion 1 - một hội kín ở châu Âu được thành lập năm 1099 - là một tổ chức có
thật.
Năm 1975, Thư viện Quốc gia Pháp ở Paris phát hiện thấy những văn bản trên giấy
da, được gọi là Les Dossiers Secrects (Hồ sơ bí mật) xác nhận một số thành viên của
Tu viện Sion, trong đó có Ngài Isaac Newton, Botticelli, Victor Hugo và Leonardo da
Vinci.
Giám mục đoàn Vatican, được gọi là Opus Dei (Tác phẩm của Thượng Đế), là một
giáo phái Thiên Chúa sùng tín sâu sắc và dã là một dề tài tranh cãi gần đây do những
tin về việc tẩy não, cưỡng bách và một tục lệ gọi là "hành xác". Opus Dei vừa hoàn
thành xây dựng một tổng hành dinh trị giá 47 triệu đô la ở số 243 Đại lộ Lexington,
New York.
Mọi sự mô tả các tác phẩm nghệ thuật, kiến trúc, tài liệu và lễ thức bí mật trong tiểu
thuyết này đều xác thực.
MỞ ĐẦU
Bảo tàng Louvre
10g 46' tối
Jacques Saunière, người phụ trách nổi tiếng của Bảo tàng Louvre, loạng choạng qua
cửa tò vò có mái vòm trong Hành Lang Lớn của Bảo tàng. Ông lao tới bức tranh gần
nhất ông có thể nhìn thấy, một bức Caravaggio. Nắm lấy vành khung dát vàng, ông
già bảy mươi sáu tuổi nhấc bức kiệt tác kéo về phía mình cho đến khi nó bật tung
khỏi tường, và Saunière ngã ngật người dưới tấm toan.
Như ông đã tính trước, một cánh cổng sắt đổ đánh rầm ngay gần đó, chặn lối vào dãy
hành lang. Sàn gỗ rung lên. Đằng xa, chuông báo động bắt đầu ré lên.
Ông phụ trách bảo tàng nằm yên một lúc, thở hổn hển, nhận định tình hình. Mình vẫn
còn sống. Ông trườn ra từ phía dưới bức tranh và nhìn trân trân vào khoảng trống
hoác xem có nơi nào ẩn trốn được.
Một giọng nói cất lên, gần đến ớn lạnh: "Không được động đậy".
Trong tư thế bò, ông phụ trách bảo tàng sững người, từ từ quay đầu lại.
Chỉ cách ông khoảng năm mét, bên ngoài cánh cổng chặn lối, cái bóng khổng lồ của
kẻ tấn công chằm chằm nhìn qua song sắt. Hắn to cao, nước da trắng trợt như ma và
mái tóc bạch kim thưa. Tròng mắt hồng với đồng tử đỏ sậm. Gã bạch tạng rút từ áo
khoác ra một khẩu súng lục và chĩa nòng súng qua chấn song thẳng vào ông phụ
trách bảo tàng: "Đáng lẽ vừa nãy, ông không nên chạy". Giọng hắn không dễ gì xác
định được là người vùng nào: "Giờ thì nói cho tôi biết nó ở đâu".
"Tôi đã nói với ông rồi", ông phụ trách bảo tàng lắp bắp, quỳ chơ vơ trên sàn Hành
Lang Lớn. "Tôi không biết ông nói về chuyện gì nữa".
"Ông nói dối?". Hắn nhìn ông chằm chằm, bất động hoàn toàn trừ tia sáng lóe lên
trong dôi mắt ma quỷ. "Ông và các đạo hữu của ông sở hữu thứ gì đó không phải của
mình".
Ông phụ trách bảo tàng cảm thấy sợ thót người. Làm sao hắn có thể biết điều này?
"Tối nay! Châu sẽ về Hợp Phố. Nói tôi biết nó được giấu ở đâu thì ông sẽ sống". Hắn
chĩa súng vào đầu ông. "Đó có phải là một bí mật bõ cho ông chết vì nó không?".
Saunière nghẹt thở.
Hắn nghiêng đầu, nhắm qua nòng súng.
Saunière giơ tay lên che chắn: "Khoan đã". Ông nói chậm rãi. "Tôi sẽ nói cho ông
những gì ông cần biết". Người phụ trách bảo tàng nói những lời tiếp theo một cách cẩn
trọng. Điều ông nói là một lời nói dối mà ông đã ôn tập nhiều lần và lần nào ông cũng
cầu sao sẽ không bao giờ phải dùng đến nó.
Khi người phụ trách bảo tàng nói xong, kẻ tấn công ông tủm tỉm cười đắc ý: "Phải. Đó
chính xác là những gì mấy người kia đã nói với tôi".
Saunière giậl bắn người. Mấy người kia?
"Tôi cũng dã tìm thấy bọn họ", tên to con chế giễu "cả ba người. Họ khẳng định
những gì ông vừa nói".
Không thể thế được! Nhân thân thật của người phụ trách bảo tàng, của ba pháp quan 2
cũng thiêng liêng gần như điều bí mật cổ xưa mà họ bảo vệ. Giờ đây, Saunière hiểu ra
rằng những cùng với nhân thâncủa ông, theo một thủ tục nghiêm khắc, đã nói dối hệt
như ông trước khi họ chết. Đó là một phần của nghi thức.
Kẻ tấn công lại ngắm súng: "Khi ông chết đi, tôi sẽ là người duy nhất biết sự thật".
Sự thật. Trong giây lát, người phụ trách bảo tàng chợt hiểu ra sự kinh khủng thực sự
của tình thế. ếu mình chết, sự thật sẽ biến mất mãi mãi. Theo bản năng, ông cuống
cuồng bò tìm chỗ trốn.
Súng nổ, và Saunière cảm thấy bỏng rát khi viên đạn găm vào bụng. Ông ngã về phía
trước… vật lộn với cái đau. Từ từ, Saunière lật ngửa người, ngoái nhìn kẻ tấn công
qua song sắt. Tên này đang ngắm phát súng kết liễu vào đầu Saunière.
Saunière nhắm mắt lại, những ý nghĩ của ông như một cơn bão lốc lẫn lộn cả sợ hãi
và tiếc nuối.
Tiếng "cạch" của ổ đạn rỗng vang vọng trong hành lang. Ông phụ trách bảo tàng mở
choàng mắt.
Tên kia liếc nhìn khẩu súng, vẻ thích thú. Hắn toan nạp kẹp đạn thứ hai, nhưng rồi
dường như suy tính lại, hắn cười khẩy bình thản nhìn bụng Saunière: "Công việc của
tôi ở đây đã hoàn tất".
Người phụ trách bảo tàng nhìn xuống và thấy vết đạn trên áo sơmi lanh trắng của
mình. Một vòng tròn máu viền quanh vết đạn bên dưới xương ức khoảng dăm phân.
Trúng bụng mình..
Tệ thay, viên đạn đã không trúng tim ông. Là cựu chiến binh của la Guerre d Algerre
3, trước đây, ông đã từng chứng kiến cái kiểu chết kéo dài khủng khiếp này. Trong
vòng mười lăm phút, ông sẽ sống cho đến khi axit trong dạ dày thấm vào khoang
ngực và từ từ đầu độc ông từ bên trong.
"Đau đớn là tốt, thưa quý ông", hắn nói.
Rồi bỏ đi.
Giờ đây khi chỉ còn lại một mình, Jacques Saunière quay sang nhìn trân trối vào cánh
cổng sắt. Ông đã mắc kẹt, và các cửa không thể được mở lại ít nhất trong vòng hai
mươi phút.
Đến khi có ai đó đến được chỗ ông, thì ông đã chết. Ngay cả như thế, thì nỗi sợ hãi
giờ đây đang siết chặt tim ông còn lớn hơn nhiều so với nỗi sợ về cái chết của chính
bản thân ông.
Mình phải truyền lại bí mật này.
Chệnh choạng đứng dậy, ông tưởng tượng ra cảnh ba giáo hữu của mình bị sát hại.
Ông nghĩ về các thế hệ trước họ… về sứ mệnh mà tất cả bọn họ đã được ủy thác.
Một chuỗi kiến thức liên tục không đứt đoạn.
Đùng một cái, giờ đây, bất chấp mọi phòng ngừa… bất chấp mọi cơ cấu an toàn…
Jacques Saunière là mắt xích duy nhất còn lại là người bảo vệ duy nhất của một trong
những bí mật có quyền năng nhất từng được lưu giữ.
Run rẩy, ông cố đứng lên.
Ta phải tìm cách nào đó…
Ông bị kẹt trong Hành Lang Lớn, và chỉ có một người duy nhất trên thế giới này ông
có thể trao lại ngọn đuốc. Saunière nhìn lên những bức tường phòng giam lộng lẫy
của mình. Một bộ sưu tập gồm những bức tranh nổi tiếng nhất thế giới như đang cúi
xuống mỉm cười với ông tựa những người bạn cũ.
Nhăn nhó vì đau đớn, ông huy động hết sức lực và khả năng của mình. Cái nhiệm vụ
cực kỳ nghiêm trọng trước mắt ông - ông biết - sẽ đòi hỏi mỗi phút giây còn lại của
đời ông.
CHƯƠNG 1
Robert Langdon từ từ tỉnh giấc. Điện thoại reo trong bóng tối- tiếng chuông leng keng
nghe lạ lẫm. Ông dò dẫm tìm ngọn đèn cạnh giường và bật lên. Nheo mắt nhìn xung
quanh ông nhận thấy đó là một phòng ngủ kiểu Phục Hưng sang trọng với đồ đạc
theo phong cách thời Louis XVI với những tranh vẽ thẳng lên tường, và một chiếc
giường gỗ gụ đồ sộ bốn cột.
Mình đang ở chỗ quái quỷ nào thế này?
Chiếc áo tắm mắc trên cột giường mang dòng chữ: Hotel Ritz Paris.
Màn sương tan dần.
Langdon nhấc ống nghe: "Hello?".
"Ông Langdon phải không ạ?", một giọng đàn ông vang lên. "Tôi hy vọng là không
đánh thức ông chứ ạ?".
Ngạc nhiên, Langdon nhìn đồng hồ cạnh giường. 0 giờ 32' sáng. Ông mới ngủ được
một tiếng mà cảm thấy như lâu lắm.
"Tôi là người trực khách sạn, thưa ông. Tôi xin lỗi vì sự đường đột này, nhưng có một
vị khách khăng khăng đòi gặp ông, nói là có việc khẩn cấp".
Langdon vẫn cảm thấy lơ mơ. Một vị khách? Tia mắt ông tập trung vào một tờ bướm
bị vò nhàu trên bàn cạnh giường.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỸ TẠI PARIS
Trân trọng giới thiệu
MỘT TỐI GẶP GỠ VỚI ROBERT LANGDON
GIÁO SƯ KHOA KÝ TƯỢNG TÔN GIÁO, ĐẠI HỌC HARVARD
Langdon hầm hừ. Buổi thuyết giảng tối nay - một bài giảng về hệ ký tượng vô tôn
giáo ẩn chứa trong các phiến đá của Nhà thờ lớn Chartres, có minh họa bằng phim
đèn chiếu - chắc đã làm xù lông một vài vị bảo thủ trong đám thính giả. Rất có thể là
một học giả nghiên cứu tôn giáo nào đó đã bám theo ông về tận khách sạn để đòi
tranh luận.
"Tôi xin lỗi", Langdon nói, "nhưng tôi rất mệt và…".
"Mais monsieur" 4 người trực khách sạn nằn nì, hạ thấp giọng xuống thành một tiếng
thì thào khẩn thiết, "vị khách này là người rất quan trọng".
Langdon hơi nghi ngờ. Các cuốn sách của ông về tranh tôn giáo và ký tượng thờ cúng
đã làm ông nổi danh trong giới nghệ thuật khiến mọi người miễn cưỡng phải công
nhận ông và năm ngoái danh tiếng của Langdon đã tăng lên gấp trăm lần sau khi ông
tham gia vào một sự kiện được công chúng biết đến rộng rãi ở Vatican. Từ đó, các nhà
sử học và chuyên gia nghệ thuật tự cao tự đại nườm nượp kéo đến nhà ông không
ngớt.
"Xin ông vui lòng", Langdon nói, cố gắng hết sức để giữ lịch sự "ghi lại tên và số điện
thoại của vị khách đó, và nói với ông ta rằng tôi sẽ cố gắng gọi lại cho ông ta trước
khi tôi rời Paris vào thứ ba. Cảm ơn ông". Ông gác máy trước khi người trực khách
sạn kịp phản đối.
Lúc này Langdon đã ngồi dậy, ông cau mày nhìn cuốn Sổ tay liên hệ với khách có bìa
ghi những lới huênh hoang: "Hãy ngủ như một hài nhi ở Kinh đô ánh sáng. Hãy liên
hệ với khách sạn Ritz Paris". Ông quay đầu và nhìn một cách mệt mỏi vào tấm gương
soi cả người ở đầu kia căn phòng. Người đàn ông đang nhìn ông là một người xa lạ tóc tai rối bù và mệt mỏi.
Anh bạn cần một kỳ nghỉ đấy, Robert.
Năm làm việc vừa qua đã làm ông tiêu hao sức lực nặng nề, nhưng ông không khoái
nhìn thấy bằng chứng của điều đó trong gương. Đôi mắt màu xanh thường ngày sắc
sảo đêm nay có vẻ lờ đờ và mệt mỏi. Một lớp râu đen lởm chởm phủ kín quai hàm
khỏe và cái cằm chẻ. Quanh thái dương, những sợi hoa râm đang tăng lên, thâm nhập
sâu hơn vào mái tóc đen dày. Mặc dù các đồng nghiệp nữ một mực nói rằng tóc bạc
chỉ làm tôn thêm sức quyến rũ bác học của ông, nhưng Langdon thừa biết là đâu phải
thế.
Giá Boston Magazine nhìn thấy mình lúc này.
Tháng trước, Langdon rất bối rối khi tờ BostonMagazine xếp ông vào danh sách mười
người đàn ông hấp dẫn nhất thành phố - một vinh dự đáng ngờ khiến ông trở thành
mục tiêu trêu chọc không dứt của các đồng nghiệp ở trường Harvard. Tối nay, ở cách
xa đất nước ba ngàn dặm, sự đề cao đó vẫn trở lại ám ảnh ông ngay trong buổi thuyết
giảng ông vừa thực hiện.
"Thưa quý ông quý bà…", người giới thiệu tuyên bố trước thính phòng đầy ắp của
Cung Dauphine trường Đại học Mỹ ở Paris. "Khách mời tối nay của chúng ta chắc tôi
không cần giới thiệu. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách: Hệ ký hiệu của các giáo phái
bí mật, Nghệ thuật của dòng Chúa khai sáng, Ngôn ngữ tượng hình thất truyền, và khi
tôi nói ông đã viết cuốn Khoa nghiên cứu thánh tượng và hình ảnh tôn giáo, là nói
đúng theo nghĩa đen. Nhiều người trong số các bạn đang dùng những giáo trình của
ông trên lớp".
Các sinh viên trong đám đông gật đầu nhiệt liệt tán thưởng.
"Tối nay tôi đã định giới thiệu ông bằng cách chia sẻ với các bạn lý lịch đầy ấn tượng
của ông. Tuy nhiên…", cô ta tinh nghịch nhìn Langdon, lúc này ông đã ngồi trên sân
khấu, "một khán giả vừa đưa cho tôi một lời gìới thiệu… có thể nói là… hấp dẫn hơn
nhiều".
Cô ta giơ lên một số Boston Magazin.
Langdon co rúm người lại. Cô ta kiếm đâu ra cái của nợ này?
Người giới thiệu bắt đầu đọc những đoạn trích chọn lọc từ bài báo sáo rỗng kia và
Langdon cảm thấy mình càng lúc càng lún sâu thêm trong ghế. Ba mươi giây sau, đám
đông nhăn nhở cười và người phụ nữ kia không hề tỏ dấu hiệu muốn dừng lại:
"Và việc ông Langdon từ chối công bố vai trò đặc biệt của ông trong cuộc họp kín
bầu Giáo hoàng ở Vatican năm ngoái chắc chắn sẽ ghi thêm điểm cho ông trên hấpdẫn-kế của chúng ta".
Người giới thiệu kích động đám đông: "Các bạn có muốn nghe thêm không?".
Đám đông vỗ tay tán thưởng.
Ai đó hãy ngăn cô ta lại, Langdon thầm cầu xin khi cô ta lại đọc tiếp bài báo.
"Dù Giáo sư Langdon có thể không được xem là người đẹp trai tuyệt vời như một vài
người được bầu chọn trẻ hơn, nhưng vị giáo sư ngoài bốn mươi tuổi này có cái gì đó
ngoài phong độ học giả của ông. Vẻ ngoài quyến rũ của ông được tôn thêm bởi giọng
nói trầm và âm nam trung hiếm có, điều mà các sinh viên nữ miêu tả là "ngọt như mía
lùi".
Cả phòng cười phá lên.
Langdon cố gượng cười vụng về. Ông biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo - lại một tràng
những câu lố bịch kiểu "Harrison Ford trong chiếc áo tuýt hiệu Harris" - và bởi vì tối
nay ông mặc áo tuýt hiệu Harris và áo cao cổ hiệu Burberry, nên ông quyết định hành
động.
"Cảm ơn, Monique". Langdon nói, vội vã đứng lên và đảy cô ta ra khỏi bục diễn đàn,
"Boston Magazine quả có năng khiếu hư cấu". Ông quay về phía cử tọa với một tiếng
thở dài bối rối.
"Và nếu tôi tìm ra ai trong số các bạn đã cung cấp bài báo đó, tôi sẽ bảo tổng lãnh sự
trục xuất các bạn".
Đám đông cười rộ.
"Vậy thưa các bạn, như các bạn đã biết, tối nay tôi tới đây để nói về quyền năng của
biểu tượng…".
Chuông điện thoại trong phòng khách sạn của Langdon một lần nữa lại phá tan im
lặng.
Càu nhàu, bán tín bán nghi, ông nhấc máy: "Vâng?".
Quả nhiên, lại là người trực khách sạn: "Ông Langdon, một lần nữa xin lỗi ông. Tôi
gọi để thông báo với ông rằng vị khách của ông bây giờ đang trên đường đến phòng
ông. Tôi nghĩ là nên báo trước cho ông".
Langdon lúc này đã tỉnh hắn: "Ông cho phép ai đó đến phòng của tôi?".
"Tôi xin lỗi, thưa ông, nhưng một người như vậy…tôi không dám mạo quyền ngăn
lại!".
"Chính xác thì ông ta là ai?".
Nhưng người trực khách sạn đã gác máy.
Gần như ngay lập tức, một nắm tay nặng nề đập cửa phòng Langdon thình thình.
Phân vân, Langdon tụt khỏi giường, cảm thấy những ngón chân nhấn sâu trên tấm
thảm. Ông mặc áo choàng của khách sạn và đi tới cửa: "Ai?".
"Ông Langdon? Tôi cần nói chuyện với ông". Tiếng Anh của người này trọ trẹ - một
giọng sủa gắt, hách dịch. "Tôi là trung uý Jérôme Collet. Direction 5 DCP.
Langdon dừng lại. Cục cảnh sát Pháp. Đại loại như FBI của Mỹ.
Vẫn để nguyên dây xích an toàn, Langdon hé cửa ra vài phân. Gương mặt đối diện
ông mỏng và nhợt nhạt. Người đàn ông gầy khác thường này mặc một bộ đồng phục
màu xanh chính quy.
"Tôi có thể vào được không?", viên cảnh sát hỏi.
Langdon do dự, cảm thấy không thoải mái khi đôi mắt xám của người lạ mặt nhìn ông
chăm chú: "Chuyện này là thế nào?".
"Capitaine 6 của tôi cần đến sự giám định của ông trong một vấn đề riêng tư".
"Ngay bây giờ?". Langdon hỏi. "Đã quá nửa đêm rồi".
"Ông có một buổi hẹn gặp mặt với ông phụ trách bảo tàng Louvre tối nay, đúng
không?".
Langdon chợt cảm thấy bồn chồn. Ông và ông phụ trách bảo tàng đáng kính Jacques
Saunière đã sắp xếp chương trình gặp nhau uống chút gì sau buổi thuyết giảng tối nay
của ông, nhưng Saunière đã không đến. "Vâng. Làm thế nào mà ông biết chuyện
đó?".
"Chúng tôi thấy tên ông trong sổ ghi công việc hàng ngày của ông ấy".
"Chắc không có gì bất ổn chứ?".
Viên cảnh sát buông một tiếng thở dài dễ sợ và luồn một tấm ảnh chụp lấy ngay
Polaroid qua khe cửa hé mở.
Khi Langdon thấy tấm ảnh, toàn thân ông cứng sững.
"Tấm ảnh này được chụp cách đây chưa đầy một tiếng. Trong bảo tàng Louvre".
Khi Langdon nhìn kỹ hình ảnh kì quái đó, sự ghê tởm và choáng váng ban đầu
nhường chỗ cho một cơn giận trào lên đột ngột: "Ai có thể làm chuyện này?".
"Chúng tôi hy vọng ông có thể giúp chúng tôi trả lời chính câu hỏi đó, bằng kiến thức
của ông về khoa ký tượng học và việc ông định gặp ông ấy".
Langdon trân trân nhìn tấm ảnh, sự kinh tởm giờ đây hoà cùng nỗi sợ hãi. Hình ảnh
khủng khiếp và quái lạ đó kèm theo một cảm giác bất an về một điều đã thấy ở đâu
đó. Hơn một năm trước, Langdon nhận được tấm ảnh một xác chết và một lời đề nghị
giúp đỡ tương tự. Hai mươi tư giờ sau, ông suýt mất mạng trong thành phố Vatican.
Bức ảnh này hoàn toàn khác, tuy nhiên có một cái gì quen thuộc trong kịch bản khiến
ông lo lo.
Viên cảnh sát nhìn đồng hồ: "Capitane của tôi đang chờ, thưa ông".
Langdon chỉ nghe thấy loáng thoáng. Mắt ông vẫn dán vào bức ảnh. "Cái biểu tượng
này và cách đặt thi thể ông ấy thật kỳ lạ…".
"Vị trí?" Viên cảnh sát hỏi.
Langdon gật đầu, cảm thấy ớn lạnh khi ông ngẩng lên:
"Tôi không thể tưởng tượng là ai có thể làm việc này đối với người khác".
Viên cảnh sát có vẻ nghiêm nghị: "Ông không hiểu sao, ông Langdon. Những gì ông
nhìn thấy trong bức ảnh này…", anh ta dừng lại, "Ông Saunière đã tự làm điều đó với
chính mình".
-------------------------------1 Sion (hay Zion) là ngọn đồi thánh ở Jerusalem cổ cũng dùng để gọi cả Jérusalem.
Về sau, tử này được mở rộng nghĩa để chỉ: chính thể thần quyền Hebrơ, Giáo hội Cơđốc, nước của Chúa. . Chúng tôi để nguyên không dịch vì ở dây có thể hiểu theo mọi
nghĩa đó
2 Tiếng Pháp trong nguyên bản: sénécheux (số nhiều của sénéchal). Sénéchal ban
đầu, chỉ chức quan trong triều đình chuyên giới thiệu các món ăn, sau này, chỉ chức
quan ở tỉnh với chức năng tương đương như pháp quan (Các chú thích trong bản dịch
lần này đều của người hiệu đính)
3 Tiếng Pháp trong nguyên bản: chiến tranh Algerie.
4 Tiếng Pháp trong nguyên bản: Nhưng thưa ông.
5 Tiếng Pháp trong nguyên bản: Cục Cảnh sát tư pháp trung ương.
6 Tiếng Pháp trong nguyên bản: đại úy.
CHƯƠNG 2
Cách có một dặm, tên bạch tạng to con có tên Silas tập tễnh qua cổng trước của tòa
nhà bằng đá xám sang trọng ở phố La Bruyère. Chiếc dây lưng hành xác bằng vải
canh có ngạnh mà hắn quấn quanh bắp đùi cứa vào thịt hắn, nhưng tâm hồn hắn lại
đang ca hát với niềm thỏa mãn với việc phụng sự Chúa.
Đau đớn là tốt.
Đôi mắt đỏ ngàu của hắn rà khắp sảnh khi hắn vào nhà. Vắng tanh. Hắn lặng lẽ lên
cầu thang, không muốn đánh thức ai trong số bạn đồng môn. Cửa phòng ngủ của hắn
mở, việc khóa cửa ở đây bị cấm. Hắn vào phòng, đóng cửa lại sau lưng.
Căn phòng rất đơn giản- sàn gỗ cứng, một cái tủ áo bằng gỗ thông, một cái chiếu vải
bạt ở trong góc dùng làm giường ngủ.
Hắn là khách ở đây trong tuần này, nhưng nhiều năm nay, hắn có ân phước được ở
một thánh đường tương tự ở New York City.
Chúa cho ta chỗ ở và lẽ sống cho cuộc đời ta.
Cuối cùng, tối nay, Silas cũng cảm thấy bắt đầu đễn đáp được món nợ đó. Hối hả chạy
đến tủ áo, hắn tìm chiếc điện thoại di động giấu dưới ngăn đáy và bấm số gọi.
"Hử?" Một giọng đàn ông trả lời.
"Trình Thầy, con đã trở về".
"Nói đi", giọng nói kia ra lệnh, có vẻ hài lòng khi nghe hắn nói.
"Cả bốn đều đã chết. Ba pháp quan… và cả Đại sứ".
Giọng nói ngừng lại trong chốc lát, như để cầu nguyện: "Vậy ta chắc ngươi đã lấy
được thông tin?".
"Cả bốn đều nói giống nhau. Riêng rẽ từng người".
"Và ngươi tin chúng?".
"Họ nói y hệt nhau nên không thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên".
Một nhịp thở phấn khích: "Tuyệt. Hội kín này nổi tiếng là kiên định bảo vệ bí mật, ta
đã lo chúng nêu cao tinh thần ấy".
"Cái chết kề cổ là một động cơ mạnh mẽ buộc họ phải nói ra".
"Vậy thì, học trò của ta, hãy nói những gì ta cần phải biết".
Silas biết những thông tin hắn lượm đưọc từ những nạn nhân của hắn sẽ là một cú sốc:
"Thưa Thầy, cả bốn đều khẳng định sự tồn tại của viên đá đỉnh vòm… viên đá đỉnh
vòm trong truyền thuyết".
Hăn nghe thấy tiếng hít sâu bên kia đầu dây và có thể cảm thấy sự phấn khích của
Thầy: "Viên đá đỉnh vòm. Đúng như chúng ta đã ngờ ngợ".
Theo truyền thuyết, hội kín này đã tạo ra một bản đồ bằng đá - một viên đá đỉnh vòm
- và khắc vào đó bảng chỉ dẫn tới vị trí cuối cùng của bí mật lớn nhất của tổ chức…
thông tin này có quyền lực lớn đến mức sự bảo vệ nó chính là lý do tồn tại của hội.
"Khi chúng ta có được viên đá đỉnh vòm". Thầy Giáo nói, "thì chỉ còn cách bí mật đó
một bước".
"Chúng ta đang ở gần hơn Thầy nghĩ đấy ạ. Viên đá đỉnh vòm đó ở đây, tại Paris này".
"Tại Paris? Thật không thể tin được. Vậy thì quá dễ".
Silas lần lượt kể lại những sự kiện hồi đầu buổi tối… cả bốn nạn nhân của hắn, ít phút
trước khi chết, đã cố gắng tuyệt vọng như thế nào để hòng giữ cái mạng sống vô đạo
lý của họ bằng cách nói ra bí mật. Mỗi người đều khai với Silas cùng một điều y hệt
nhau - rằng viên đá đỉnh vòm đã được giấu khéo léo ở một vị trí trong một nhà thờ cổ
của Paris- Nhà thờ Saint- Sulpice.
"Bên trong một ngôi nhà của Chúa", Thầy Giáo la lên, "Chúng giễu chúng ta làm
sao!".
"Như chúng đã làm thế từ nhiều thế kỷ nay".
Thầy Giáo im lặng như để niềm đắc thắng của giây phút này tràn ngập mình. Cuối
cùng, ông ta nói: "Con đã làm một việc lớn phụng sự Chúa. Chúng ta đã chờ đợi điều
này nhiều thế kỷ. Con phải lấy lại viên đá đó cho ta. Ngay lập tức. Đêm nay.
"Con biết số tiền thưởng rồi đấy".
Silas biết số tiền thưởng nhiều không đếm xuể, tuy nhiên điều Thầy Giáo ra lệnh có
vẻ là bất khả thi. "Nhưng nhà thờ đó là một pháo đài, nhất là vào ban đêm. Con sẽ
vào bằng cách nào?".
Với giọng tự tin của một người có thế lực lớn, Thầy Giáo giảng giải những việc phải
làm.
Khi Silas gác máy, da hắn râm ran đợi.
Một giờ, hắn tự bao, thầm cảm ơn Thầy đã cho hắn thời gian để thực hiện sự sám hối
cần thiết trước khi bước vào một ngôi nhà của Chúa. Mình phải gột rửa linh hồn khỏi
những tội lỗi của ngày hôm nay. Những tội lỗi hắn phạm phải trong ngày hôm nay có
mục đích thiêng liêng. Người ta đã phạm những hành động chiến tranh trong nhiều
thế kỷ để chống lại kẻ thù của Chúa.
Sự tha thứ đã được đảm bảo.
Mặc dù thế, Silas biết sự miễn xá đòi hỏi hy sinh.
Kéo rèm che, hắn cời quần áo và quỳ xuống giữa phòng.
Nhìn xuống, hắn kiểm tra chiếc dây lưng hành xác cột quanh bắp đùi. Tất cả những
môn đồ chân chính theo Đạo đều mang vật này- một dây da có găm những ngạnh kim
loại sắc cứa vào thịt như một nhắc nhở thường xuyên về khổ đau của Chúa. Sự đau
đớn gây ra bởi vật này cũng giúp họ chống lại những dục vọng về xác thịt.
Mặc dù Silas đã đeo vật này lâu hơn yêu cầu hai tiếng, hắn biết hôm nay không phải
là một ngày bình thường. Nắm lấy chiếc khóa. hắn xiết chặt nó lại thêm mộl nấc nữa,
nhăn mặt khi những ngạnh sắc đâm sâu hơn vào da thịt. Thở ra từ từ, hắn khoan
khoái tiếp nhận lễ thức thanh lọc bằng đau đớn.
Đau đớn là tốt. Silas thì thầm, nhắc lại những lời thiêng liêng của Cha Josemaria
Escrivá - Người Thầy của mọi Thầy. Dù Escrivá đã chết năm 1975, minh triết của ông
vẫn sống mãi, những lời của ông vẫn được hàng nghìn tôi tớ trung thành của Chúa
trên toàn thế giới nhắc tới khi họ quỳ gối trên sàn để thực hành cái thông lệ thiêng
liêng gọi là "tự hành xác".
Silas chuyển sự chú ý đến sợi dây thừng to thắt nút cuộn gọn gàng đặt trên sàn bên
cạnh. Kỷ luật. Những nút thắt bết máu khô.
Khao khát được thấy tác dụng gột rửa của nỗi đau đớn của chính mình. Silas đọc
nhanh một lới cầu nguyện. Sau đó, nắm chặt một đầu sợi dây, hắn nhắm mắt và vung
sợi dây qua vai, cảm nhận những nút thắt quất mạnh vào lưng. Hắn lại giật nó qua vai,
quất mạnh vào thịt hắn. Giật đi, giật lại! cứ thế hắn quất hoài.
Castigo corpus meum 1
Cuối cùng, hắn cảm thấy máu bắt đầu chảy.
-------------------------------1 Tiếng La-tinh: Trừng phạt thân thể tôi, tự hành xác.
CHƯƠNG 3
Không khí khô hanh tháng tư táp qua cửa xe để mở cửa chiếc Citroen ZX khi nó theo
hướng Nam qua Nhà hát ôpêra và Quảng trường Vendôme. Ngồi ở ghế cạnh ghế tài
xế, Langdon cảm thấy thành phố vùn vụt qua trong khi ông cố soạn lại ý nghĩ của
mình cho rành rọt tỏ tường. Sau khi tắm và cạo râu ù một cái, nom ông đã tương đối
bảnh, nhưng trong lòng vẫn không nguôi lo lắng. Những hình ảnh đáng sợ về thi thể
của ông phụ trách bảo tàng vẫn chốt lại trong tâm trí ông.
Jacques Saunière đã chết.
Langdon không khỏi cảm thấy sâu sắc sự mất mát to lớn với cái chết của người phụ
trách bảo tàng. Mặc dù Saumère có tiếng là ưa biệt lập, nhưng sự công nhận đối với
lòng tận tụy vì nghệ thuật của ông đã khiến ông được kính yêu. Những cuốn sách của
ông về những mật mã bí mật ẩn chứa trong những bức họa của Poussin và Teniers
nằm trong số những giáo trình ưa thích của Langdon.
Cuộc gặp mặt tối nay là điều mà Langdon rất mong đợi, và ông đã rất thất vọng khi
ông phụ trách bảo tàng không xuất hiện.
Một lần nữa hình ảnh thi thể của người phụ trách bảo tàng vụt hiện lên trong tâm trí
ông. Jacques Saunière đã làm điều đó với chính mình sao? Langdon quay đầu và nhìn
qua cửa xe, cố xua hình ảnh đó ra khỏi tâm trí.
Bên ngoài, thành phố đang ngơi nghỉ - những người bán hàng rong đang đẩy những
chiếc xe chở hạnh đào ướp đường, các bồi bàn mang bao rác ra vỉa hè, một đôi tình
nhân ấp ủ nhau để giữ ấm trong gió nhẹ hòa quyện với hương hoa nhài.
Chiếc Citroen uy nghi đi giữa hỗn độn, tiếng còi hai âm chối tai sẻ đôi dòng xe cộ như
một lưỡi dao.
"Capitaine rất hài lòng khi biết ông vẫn còn ở Paris tối nay", viên cảnh sát nói, lần đầu
tiên mở lời kể từ lúc họ rời khách sạn. "Một sự trùng hợp may mắn".
Langdon tuyệt nhiên không hề cảm thấy may mắn, và sự trùng hợp là một khái niệm
mà ông không hoàn toàn tin tưởng.
Là một người dành cả đời để khảo sát tính tương liên tàng ẩn giữa những biểu tượng
và ý thức hệ khác hẩn nhau, Langdon xem thế giới như một mạng lưới bện xoắn
những lịch sử và sự kiện một cách sâu sắc. Những mối liên hệ có thể là vô hình, ông
thường hay giảng vậy cho các lớp khoa ký tượng học tại trường Harvard, nhưng chúng
luôn ở đó, lấp ngay dưới bề mặt "Tôi đoán". Langdon nói, "rằng Trường Đại học Mỹ ở
Paris đã nói cho các ông biết chỗ tôi đang ở".
Người lái xe lắc đầu: "Interpol".
Interpol (Cảnh sát quốc tế), Langdon nghĩ thầm. Tất nhiên rồi. ông đã quên mất rằng
yêu cầu có vẻ vô hại của tất cả các khách sạn châu Âu đòi xem hộ chiếu khi nhận
phòng còn quan trọng hơn một thủ tục kỳ quái - nó là luật. Vào bất kỳ buổi tối nào,
trên toàn châu Âu, các quan chức Interpol có thể định vị chính xác ai đang ngủ ở đâu.
Việc tìm ra Langdon ở khách sạn Ritz chắc chắn chỉ mất năm giây.
Khi chiếc Citroen tăng tốc độ hướng về phía Nam thành phố, mặt nghiêng sáng rực
của tháp Eifíel hiện ra, đâm thẳng lên trời ở phía bên phải. Thấy nó, Langdon nghĩ tới
Vittoria, chợt nhớ lời hứa hẹn vui giữa hai người một năm trước rằng cứ sáu tháng một
lần, họ sẽ gặp lại nhau tại một địa điểm lãng mạn khác nhau trên thế giới. Tháp Eiffel,
Langdon nghĩ, có thể cũng nằm trong danh sách của họ. Buồn thay, lần cuối cùng ông
hôn Vittoria là ở một sân bay náo nhiệt tại Roma cách đây hơn một năm.
"Ông đã trèo lên bụng nó chưa?", viên cảnh sát liếc mắt hỏi.
Langdon ngước lên, chắc chắn là mình 1. "Xin lỗi, tôi nghe chưa rõ?".
"Đẹp tuyệt vời phải không?" Viên cảnh sát hất hàm qua kính chắn gió về phía tháp
Eiffel. "Ông đã từng leo lên đó chưa?".
Langdon đảo mắt: "Chưa, tôi chưa từng trèo lên tháp".
"Đó là biểu tượng của nước Pháp. Tôi nghĩ nó thật hoàn hảo".
Langdon lơ đãng gật đầu. Các nhà ký tượng học thường nhận xét rằng Pháp - một đất
nước nổi tiếng về thói tự đắc với cái chất đàn ông của mình, về thói giăng hoa và về
những lãnh tụ tướng ngũ đoản như Napoléon và Pepin Lùn - ắt không thể chọn một
biểu tượng quốc gia nào thích hợp hơn một cái dương vật cao cả ngàn mét.
Khi họ tới ngã tư phố Rivoli, đèn giao thông bật đỏ, nhưng chiếc Citroen không đi
chậm lại. Viên cảnh sát nhấn ga cho chiếc xe nhỏ vọt qua ngã tư và tăng tốc đi vào
khu vực nhiều cây cối của phố Castiglion, lối vào phía Bắc của Vườn Tuileries nổi
tiếng - một thứ Central Park của Paris. Hầu hết khách du lịch đều dịch nhầm cụm từ
Jardil des tuileries là có liên quan đến cảnh hàng nghìn bông hoa tulip nở rộ ở đây,
nhưng thực tế Tuileries liên quan đến một vài điều ít lãng mạn hơn nhiều.
Công viên này từng là một cái hố mênh mông, rất ô nhiễm mà từ nó, các nhà thầu
khoán ở Paris đã đào đất sét để sản xuất những viên ngói đỏ nổi tiếng của thành phố,
gọi là tuiles.
Khi vào trong công viên trống vắng, viên cảnh sát với tay xuống dưới bảng điều
khiển, tắt cái còi đang rú ầm ĩ. Langdon thở phào, thưởng thức sự im lặng đột ngột.
Bên ngoài chiếc xe, ánh sáng nhạt của những ngọn đèn pha halôgien lướt trên con
đường rải sỏi vụn, tiếng lốp xe nghiến lạo xạo thành một nhịp ru ngủ. Langdon luôn
coi khu vườn này như một nơi linh thiêng. Đây là khu vườn mà 2) đã thể nghiệm khối
hình và màu sắc, và thực sự truyền cảm hứng cho sự ra đời của trào lưu ấn tượng chủ
nghĩa. Tối nay, tuy nhiên, chỗ này lại mang một hào quang khác thường của điềm gở.
...
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn tới người bạn - đồng thời là nhà biên tập của tôi,
Jason Kaufman, vì sự chăm chỉ làm việc trong suốt dự án này và vì sự thấu hiểu thực
sự những gì mà cuốn sách này đề cập đến. Và cũng xin gửi lời cảm ơn đến Heide
Lange -người bảo vệ không mệt mỏi cho Mật mã Da Vinci, một người đại diện tuyệt
vời, và một người bạn đáng tin cậy.
Tôi không thể thể hiện hết sự biết ơn của tôi đối với đội ngũ nhân viên hiếm có tại
Doubleday, vì sự hào hiệp, tận tụy và chỉ dẫn tuyệt vời của họ. Đặc biệt cảm ơn Bill
Thomas và Steve Rubin, những người đã tin tưởng vào cuốn sách này ngay từ đầu.
Tôi cũng gửi lời cảm ơn tới những người cốt cán ban đầu trong số những người ủng
hộ của nhà xuất bản đứng đầu là Michael Palgon, Suzanne Herz, Janelle Moburg,
Jackie Everly, và Adrienne Sparks, tới những nhân viên thông minh của đội bán hàng
của Doubleday, và tới Michael Windsor vì cái bìa gây ngạc nhiên.
Vì sự hỗ trợ nhiệt tình trong công việc tìm tòi của cuốn sách, tôi cũng xin gửi lời cảm
ơn tới Bảo tàng Louvre, Bộ Văn hóa Pháp, Dự án Cutenberg, Thư viện quốc gia, Thư
viện tổ chức Mộ đạo Phòng nghiên cứu tranh và Trung tâm tư liệu của Bảo tàng
Louvre, Thời báo thế giới Thiên Chúa giáo, Đài quan sát hoàng gia Ở Greenwich, Tổ
chức ghi âm Luân Đôn, Phòng sưu tập tài liệu của Tu viện Westminster, John Pike và
Liên đoàn các nhà khoa học Mỹ, và 5 thành viên cua Opus Dei (3 người đang tham
gia, 2 người là thành viên cũ) những người đã tường thuật lại những câu chuyện của
họ, gồm cả những tích cực và tiêu cực, liên quan đến những trải nghiệm của họ trong
Opus Dei.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến hiệu sách đường Water vì đã chú ý sưu tập nhiều
cuốn sách nghiên cứu của tôi, đến cha tôi Richard Brown -giáo viên và là nhà viết
sách toán học -vì sự giúp đỡ của ông về thuyết cân xứng thiêng liêng và dãy số
Fibonacci, Stan Planton, Sylve Baudeloque, Peter McGuigan, Francis McInerney,
Margie Wachtel, Andre Vernet, Ken Kelleher Ở Anchorball Web Media, Cara Sottak,
Karyn Popham, Esther Sung, Miriam Abramowitz, William Tunstall-Pedoe, và
Crinffin Wooden Brown.
Và cuối cùng, trong cuốn tiểu thuyết có liên quan sâu sắc tới tính nữ được tôn sùng,
tôi sẽ là người bất cẩn nếu tôi không nhắc đến 2 người phụ nữ đặc biệt trong cuộc đời
tôi. Đầu tiên là mẹ tôi, Connie Brown -người chép kinh, hộ lý, nhạc sĩ, và mẫu hình
tượng. Và vợ tôi, Blythe -sử gia nghệ thuật, họa sĩ, biên tập viên và không một chút
nghi ngờ rằng cô ấy là người phụ nữ tài năng kỳ lạ nhất mà tôi đã từng biết.
NHỮNG SỰ VIỆC CÓ THẬT
Tu viện Sion 1 - một hội kín ở châu Âu được thành lập năm 1099 - là một tổ chức có
thật.
Năm 1975, Thư viện Quốc gia Pháp ở Paris phát hiện thấy những văn bản trên giấy
da, được gọi là Les Dossiers Secrects (Hồ sơ bí mật) xác nhận một số thành viên của
Tu viện Sion, trong đó có Ngài Isaac Newton, Botticelli, Victor Hugo và Leonardo da
Vinci.
Giám mục đoàn Vatican, được gọi là Opus Dei (Tác phẩm của Thượng Đế), là một
giáo phái Thiên Chúa sùng tín sâu sắc và dã là một dề tài tranh cãi gần đây do những
tin về việc tẩy não, cưỡng bách và một tục lệ gọi là "hành xác". Opus Dei vừa hoàn
thành xây dựng một tổng hành dinh trị giá 47 triệu đô la ở số 243 Đại lộ Lexington,
New York.
Mọi sự mô tả các tác phẩm nghệ thuật, kiến trúc, tài liệu và lễ thức bí mật trong tiểu
thuyết này đều xác thực.
MỞ ĐẦU
Bảo tàng Louvre
10g 46' tối
Jacques Saunière, người phụ trách nổi tiếng của Bảo tàng Louvre, loạng choạng qua
cửa tò vò có mái vòm trong Hành Lang Lớn của Bảo tàng. Ông lao tới bức tranh gần
nhất ông có thể nhìn thấy, một bức Caravaggio. Nắm lấy vành khung dát vàng, ông
già bảy mươi sáu tuổi nhấc bức kiệt tác kéo về phía mình cho đến khi nó bật tung
khỏi tường, và Saunière ngã ngật người dưới tấm toan.
Như ông đã tính trước, một cánh cổng sắt đổ đánh rầm ngay gần đó, chặn lối vào dãy
hành lang. Sàn gỗ rung lên. Đằng xa, chuông báo động bắt đầu ré lên.
Ông phụ trách bảo tàng nằm yên một lúc, thở hổn hển, nhận định tình hình. Mình vẫn
còn sống. Ông trườn ra từ phía dưới bức tranh và nhìn trân trân vào khoảng trống
hoác xem có nơi nào ẩn trốn được.
Một giọng nói cất lên, gần đến ớn lạnh: "Không được động đậy".
Trong tư thế bò, ông phụ trách bảo tàng sững người, từ từ quay đầu lại.
Chỉ cách ông khoảng năm mét, bên ngoài cánh cổng chặn lối, cái bóng khổng lồ của
kẻ tấn công chằm chằm nhìn qua song sắt. Hắn to cao, nước da trắng trợt như ma và
mái tóc bạch kim thưa. Tròng mắt hồng với đồng tử đỏ sậm. Gã bạch tạng rút từ áo
khoác ra một khẩu súng lục và chĩa nòng súng qua chấn song thẳng vào ông phụ
trách bảo tàng: "Đáng lẽ vừa nãy, ông không nên chạy". Giọng hắn không dễ gì xác
định được là người vùng nào: "Giờ thì nói cho tôi biết nó ở đâu".
"Tôi đã nói với ông rồi", ông phụ trách bảo tàng lắp bắp, quỳ chơ vơ trên sàn Hành
Lang Lớn. "Tôi không biết ông nói về chuyện gì nữa".
"Ông nói dối?". Hắn nhìn ông chằm chằm, bất động hoàn toàn trừ tia sáng lóe lên
trong dôi mắt ma quỷ. "Ông và các đạo hữu của ông sở hữu thứ gì đó không phải của
mình".
Ông phụ trách bảo tàng cảm thấy sợ thót người. Làm sao hắn có thể biết điều này?
"Tối nay! Châu sẽ về Hợp Phố. Nói tôi biết nó được giấu ở đâu thì ông sẽ sống". Hắn
chĩa súng vào đầu ông. "Đó có phải là một bí mật bõ cho ông chết vì nó không?".
Saunière nghẹt thở.
Hắn nghiêng đầu, nhắm qua nòng súng.
Saunière giơ tay lên che chắn: "Khoan đã". Ông nói chậm rãi. "Tôi sẽ nói cho ông
những gì ông cần biết". Người phụ trách bảo tàng nói những lời tiếp theo một cách cẩn
trọng. Điều ông nói là một lời nói dối mà ông đã ôn tập nhiều lần và lần nào ông cũng
cầu sao sẽ không bao giờ phải dùng đến nó.
Khi người phụ trách bảo tàng nói xong, kẻ tấn công ông tủm tỉm cười đắc ý: "Phải. Đó
chính xác là những gì mấy người kia đã nói với tôi".
Saunière giậl bắn người. Mấy người kia?
"Tôi cũng dã tìm thấy bọn họ", tên to con chế giễu "cả ba người. Họ khẳng định
những gì ông vừa nói".
Không thể thế được! Nhân thân thật của người phụ trách bảo tàng, của ba pháp quan 2
cũng thiêng liêng gần như điều bí mật cổ xưa mà họ bảo vệ. Giờ đây, Saunière hiểu ra
rằng những cùng với nhân thâncủa ông, theo một thủ tục nghiêm khắc, đã nói dối hệt
như ông trước khi họ chết. Đó là một phần của nghi thức.
Kẻ tấn công lại ngắm súng: "Khi ông chết đi, tôi sẽ là người duy nhất biết sự thật".
Sự thật. Trong giây lát, người phụ trách bảo tàng chợt hiểu ra sự kinh khủng thực sự
của tình thế. ếu mình chết, sự thật sẽ biến mất mãi mãi. Theo bản năng, ông cuống
cuồng bò tìm chỗ trốn.
Súng nổ, và Saunière cảm thấy bỏng rát khi viên đạn găm vào bụng. Ông ngã về phía
trước… vật lộn với cái đau. Từ từ, Saunière lật ngửa người, ngoái nhìn kẻ tấn công
qua song sắt. Tên này đang ngắm phát súng kết liễu vào đầu Saunière.
Saunière nhắm mắt lại, những ý nghĩ của ông như một cơn bão lốc lẫn lộn cả sợ hãi
và tiếc nuối.
Tiếng "cạch" của ổ đạn rỗng vang vọng trong hành lang. Ông phụ trách bảo tàng mở
choàng mắt.
Tên kia liếc nhìn khẩu súng, vẻ thích thú. Hắn toan nạp kẹp đạn thứ hai, nhưng rồi
dường như suy tính lại, hắn cười khẩy bình thản nhìn bụng Saunière: "Công việc của
tôi ở đây đã hoàn tất".
Người phụ trách bảo tàng nhìn xuống và thấy vết đạn trên áo sơmi lanh trắng của
mình. Một vòng tròn máu viền quanh vết đạn bên dưới xương ức khoảng dăm phân.
Trúng bụng mình..
Tệ thay, viên đạn đã không trúng tim ông. Là cựu chiến binh của la Guerre d Algerre
3, trước đây, ông đã từng chứng kiến cái kiểu chết kéo dài khủng khiếp này. Trong
vòng mười lăm phút, ông sẽ sống cho đến khi axit trong dạ dày thấm vào khoang
ngực và từ từ đầu độc ông từ bên trong.
"Đau đớn là tốt, thưa quý ông", hắn nói.
Rồi bỏ đi.
Giờ đây khi chỉ còn lại một mình, Jacques Saunière quay sang nhìn trân trối vào cánh
cổng sắt. Ông đã mắc kẹt, và các cửa không thể được mở lại ít nhất trong vòng hai
mươi phút.
Đến khi có ai đó đến được chỗ ông, thì ông đã chết. Ngay cả như thế, thì nỗi sợ hãi
giờ đây đang siết chặt tim ông còn lớn hơn nhiều so với nỗi sợ về cái chết của chính
bản thân ông.
Mình phải truyền lại bí mật này.
Chệnh choạng đứng dậy, ông tưởng tượng ra cảnh ba giáo hữu của mình bị sát hại.
Ông nghĩ về các thế hệ trước họ… về sứ mệnh mà tất cả bọn họ đã được ủy thác.
Một chuỗi kiến thức liên tục không đứt đoạn.
Đùng một cái, giờ đây, bất chấp mọi phòng ngừa… bất chấp mọi cơ cấu an toàn…
Jacques Saunière là mắt xích duy nhất còn lại là người bảo vệ duy nhất của một trong
những bí mật có quyền năng nhất từng được lưu giữ.
Run rẩy, ông cố đứng lên.
Ta phải tìm cách nào đó…
Ông bị kẹt trong Hành Lang Lớn, và chỉ có một người duy nhất trên thế giới này ông
có thể trao lại ngọn đuốc. Saunière nhìn lên những bức tường phòng giam lộng lẫy
của mình. Một bộ sưu tập gồm những bức tranh nổi tiếng nhất thế giới như đang cúi
xuống mỉm cười với ông tựa những người bạn cũ.
Nhăn nhó vì đau đớn, ông huy động hết sức lực và khả năng của mình. Cái nhiệm vụ
cực kỳ nghiêm trọng trước mắt ông - ông biết - sẽ đòi hỏi mỗi phút giây còn lại của
đời ông.
CHƯƠNG 1
Robert Langdon từ từ tỉnh giấc. Điện thoại reo trong bóng tối- tiếng chuông leng keng
nghe lạ lẫm. Ông dò dẫm tìm ngọn đèn cạnh giường và bật lên. Nheo mắt nhìn xung
quanh ông nhận thấy đó là một phòng ngủ kiểu Phục Hưng sang trọng với đồ đạc
theo phong cách thời Louis XVI với những tranh vẽ thẳng lên tường, và một chiếc
giường gỗ gụ đồ sộ bốn cột.
Mình đang ở chỗ quái quỷ nào thế này?
Chiếc áo tắm mắc trên cột giường mang dòng chữ: Hotel Ritz Paris.
Màn sương tan dần.
Langdon nhấc ống nghe: "Hello?".
"Ông Langdon phải không ạ?", một giọng đàn ông vang lên. "Tôi hy vọng là không
đánh thức ông chứ ạ?".
Ngạc nhiên, Langdon nhìn đồng hồ cạnh giường. 0 giờ 32' sáng. Ông mới ngủ được
một tiếng mà cảm thấy như lâu lắm.
"Tôi là người trực khách sạn, thưa ông. Tôi xin lỗi vì sự đường đột này, nhưng có một
vị khách khăng khăng đòi gặp ông, nói là có việc khẩn cấp".
Langdon vẫn cảm thấy lơ mơ. Một vị khách? Tia mắt ông tập trung vào một tờ bướm
bị vò nhàu trên bàn cạnh giường.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỸ TẠI PARIS
Trân trọng giới thiệu
MỘT TỐI GẶP GỠ VỚI ROBERT LANGDON
GIÁO SƯ KHOA KÝ TƯỢNG TÔN GIÁO, ĐẠI HỌC HARVARD
Langdon hầm hừ. Buổi thuyết giảng tối nay - một bài giảng về hệ ký tượng vô tôn
giáo ẩn chứa trong các phiến đá của Nhà thờ lớn Chartres, có minh họa bằng phim
đèn chiếu - chắc đã làm xù lông một vài vị bảo thủ trong đám thính giả. Rất có thể là
một học giả nghiên cứu tôn giáo nào đó đã bám theo ông về tận khách sạn để đòi
tranh luận.
"Tôi xin lỗi", Langdon nói, "nhưng tôi rất mệt và…".
"Mais monsieur" 4 người trực khách sạn nằn nì, hạ thấp giọng xuống thành một tiếng
thì thào khẩn thiết, "vị khách này là người rất quan trọng".
Langdon hơi nghi ngờ. Các cuốn sách của ông về tranh tôn giáo và ký tượng thờ cúng
đã làm ông nổi danh trong giới nghệ thuật khiến mọi người miễn cưỡng phải công
nhận ông và năm ngoái danh tiếng của Langdon đã tăng lên gấp trăm lần sau khi ông
tham gia vào một sự kiện được công chúng biết đến rộng rãi ở Vatican. Từ đó, các nhà
sử học và chuyên gia nghệ thuật tự cao tự đại nườm nượp kéo đến nhà ông không
ngớt.
"Xin ông vui lòng", Langdon nói, cố gắng hết sức để giữ lịch sự "ghi lại tên và số điện
thoại của vị khách đó, và nói với ông ta rằng tôi sẽ cố gắng gọi lại cho ông ta trước
khi tôi rời Paris vào thứ ba. Cảm ơn ông". Ông gác máy trước khi người trực khách
sạn kịp phản đối.
Lúc này Langdon đã ngồi dậy, ông cau mày nhìn cuốn Sổ tay liên hệ với khách có bìa
ghi những lới huênh hoang: "Hãy ngủ như một hài nhi ở Kinh đô ánh sáng. Hãy liên
hệ với khách sạn Ritz Paris". Ông quay đầu và nhìn một cách mệt mỏi vào tấm gương
soi cả người ở đầu kia căn phòng. Người đàn ông đang nhìn ông là một người xa lạ tóc tai rối bù và mệt mỏi.
Anh bạn cần một kỳ nghỉ đấy, Robert.
Năm làm việc vừa qua đã làm ông tiêu hao sức lực nặng nề, nhưng ông không khoái
nhìn thấy bằng chứng của điều đó trong gương. Đôi mắt màu xanh thường ngày sắc
sảo đêm nay có vẻ lờ đờ và mệt mỏi. Một lớp râu đen lởm chởm phủ kín quai hàm
khỏe và cái cằm chẻ. Quanh thái dương, những sợi hoa râm đang tăng lên, thâm nhập
sâu hơn vào mái tóc đen dày. Mặc dù các đồng nghiệp nữ một mực nói rằng tóc bạc
chỉ làm tôn thêm sức quyến rũ bác học của ông, nhưng Langdon thừa biết là đâu phải
thế.
Giá Boston Magazine nhìn thấy mình lúc này.
Tháng trước, Langdon rất bối rối khi tờ BostonMagazine xếp ông vào danh sách mười
người đàn ông hấp dẫn nhất thành phố - một vinh dự đáng ngờ khiến ông trở thành
mục tiêu trêu chọc không dứt của các đồng nghiệp ở trường Harvard. Tối nay, ở cách
xa đất nước ba ngàn dặm, sự đề cao đó vẫn trở lại ám ảnh ông ngay trong buổi thuyết
giảng ông vừa thực hiện.
"Thưa quý ông quý bà…", người giới thiệu tuyên bố trước thính phòng đầy ắp của
Cung Dauphine trường Đại học Mỹ ở Paris. "Khách mời tối nay của chúng ta chắc tôi
không cần giới thiệu. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách: Hệ ký hiệu của các giáo phái
bí mật, Nghệ thuật của dòng Chúa khai sáng, Ngôn ngữ tượng hình thất truyền, và khi
tôi nói ông đã viết cuốn Khoa nghiên cứu thánh tượng và hình ảnh tôn giáo, là nói
đúng theo nghĩa đen. Nhiều người trong số các bạn đang dùng những giáo trình của
ông trên lớp".
Các sinh viên trong đám đông gật đầu nhiệt liệt tán thưởng.
"Tối nay tôi đã định giới thiệu ông bằng cách chia sẻ với các bạn lý lịch đầy ấn tượng
của ông. Tuy nhiên…", cô ta tinh nghịch nhìn Langdon, lúc này ông đã ngồi trên sân
khấu, "một khán giả vừa đưa cho tôi một lời gìới thiệu… có thể nói là… hấp dẫn hơn
nhiều".
Cô ta giơ lên một số Boston Magazin.
Langdon co rúm người lại. Cô ta kiếm đâu ra cái của nợ này?
Người giới thiệu bắt đầu đọc những đoạn trích chọn lọc từ bài báo sáo rỗng kia và
Langdon cảm thấy mình càng lúc càng lún sâu thêm trong ghế. Ba mươi giây sau, đám
đông nhăn nhở cười và người phụ nữ kia không hề tỏ dấu hiệu muốn dừng lại:
"Và việc ông Langdon từ chối công bố vai trò đặc biệt của ông trong cuộc họp kín
bầu Giáo hoàng ở Vatican năm ngoái chắc chắn sẽ ghi thêm điểm cho ông trên hấpdẫn-kế của chúng ta".
Người giới thiệu kích động đám đông: "Các bạn có muốn nghe thêm không?".
Đám đông vỗ tay tán thưởng.
Ai đó hãy ngăn cô ta lại, Langdon thầm cầu xin khi cô ta lại đọc tiếp bài báo.
"Dù Giáo sư Langdon có thể không được xem là người đẹp trai tuyệt vời như một vài
người được bầu chọn trẻ hơn, nhưng vị giáo sư ngoài bốn mươi tuổi này có cái gì đó
ngoài phong độ học giả của ông. Vẻ ngoài quyến rũ của ông được tôn thêm bởi giọng
nói trầm và âm nam trung hiếm có, điều mà các sinh viên nữ miêu tả là "ngọt như mía
lùi".
Cả phòng cười phá lên.
Langdon cố gượng cười vụng về. Ông biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo - lại một tràng
những câu lố bịch kiểu "Harrison Ford trong chiếc áo tuýt hiệu Harris" - và bởi vì tối
nay ông mặc áo tuýt hiệu Harris và áo cao cổ hiệu Burberry, nên ông quyết định hành
động.
"Cảm ơn, Monique". Langdon nói, vội vã đứng lên và đảy cô ta ra khỏi bục diễn đàn,
"Boston Magazine quả có năng khiếu hư cấu". Ông quay về phía cử tọa với một tiếng
thở dài bối rối.
"Và nếu tôi tìm ra ai trong số các bạn đã cung cấp bài báo đó, tôi sẽ bảo tổng lãnh sự
trục xuất các bạn".
Đám đông cười rộ.
"Vậy thưa các bạn, như các bạn đã biết, tối nay tôi tới đây để nói về quyền năng của
biểu tượng…".
Chuông điện thoại trong phòng khách sạn của Langdon một lần nữa lại phá tan im
lặng.
Càu nhàu, bán tín bán nghi, ông nhấc máy: "Vâng?".
Quả nhiên, lại là người trực khách sạn: "Ông Langdon, một lần nữa xin lỗi ông. Tôi
gọi để thông báo với ông rằng vị khách của ông bây giờ đang trên đường đến phòng
ông. Tôi nghĩ là nên báo trước cho ông".
Langdon lúc này đã tỉnh hắn: "Ông cho phép ai đó đến phòng của tôi?".
"Tôi xin lỗi, thưa ông, nhưng một người như vậy…tôi không dám mạo quyền ngăn
lại!".
"Chính xác thì ông ta là ai?".
Nhưng người trực khách sạn đã gác máy.
Gần như ngay lập tức, một nắm tay nặng nề đập cửa phòng Langdon thình thình.
Phân vân, Langdon tụt khỏi giường, cảm thấy những ngón chân nhấn sâu trên tấm
thảm. Ông mặc áo choàng của khách sạn và đi tới cửa: "Ai?".
"Ông Langdon? Tôi cần nói chuyện với ông". Tiếng Anh của người này trọ trẹ - một
giọng sủa gắt, hách dịch. "Tôi là trung uý Jérôme Collet. Direction 5 DCP.
Langdon dừng lại. Cục cảnh sát Pháp. Đại loại như FBI của Mỹ.
Vẫn để nguyên dây xích an toàn, Langdon hé cửa ra vài phân. Gương mặt đối diện
ông mỏng và nhợt nhạt. Người đàn ông gầy khác thường này mặc một bộ đồng phục
màu xanh chính quy.
"Tôi có thể vào được không?", viên cảnh sát hỏi.
Langdon do dự, cảm thấy không thoải mái khi đôi mắt xám của người lạ mặt nhìn ông
chăm chú: "Chuyện này là thế nào?".
"Capitaine 6 của tôi cần đến sự giám định của ông trong một vấn đề riêng tư".
"Ngay bây giờ?". Langdon hỏi. "Đã quá nửa đêm rồi".
"Ông có một buổi hẹn gặp mặt với ông phụ trách bảo tàng Louvre tối nay, đúng
không?".
Langdon chợt cảm thấy bồn chồn. Ông và ông phụ trách bảo tàng đáng kính Jacques
Saunière đã sắp xếp chương trình gặp nhau uống chút gì sau buổi thuyết giảng tối nay
của ông, nhưng Saunière đã không đến. "Vâng. Làm thế nào mà ông biết chuyện
đó?".
"Chúng tôi thấy tên ông trong sổ ghi công việc hàng ngày của ông ấy".
"Chắc không có gì bất ổn chứ?".
Viên cảnh sát buông một tiếng thở dài dễ sợ và luồn một tấm ảnh chụp lấy ngay
Polaroid qua khe cửa hé mở.
Khi Langdon thấy tấm ảnh, toàn thân ông cứng sững.
"Tấm ảnh này được chụp cách đây chưa đầy một tiếng. Trong bảo tàng Louvre".
Khi Langdon nhìn kỹ hình ảnh kì quái đó, sự ghê tởm và choáng váng ban đầu
nhường chỗ cho một cơn giận trào lên đột ngột: "Ai có thể làm chuyện này?".
"Chúng tôi hy vọng ông có thể giúp chúng tôi trả lời chính câu hỏi đó, bằng kiến thức
của ông về khoa ký tượng học và việc ông định gặp ông ấy".
Langdon trân trân nhìn tấm ảnh, sự kinh tởm giờ đây hoà cùng nỗi sợ hãi. Hình ảnh
khủng khiếp và quái lạ đó kèm theo một cảm giác bất an về một điều đã thấy ở đâu
đó. Hơn một năm trước, Langdon nhận được tấm ảnh một xác chết và một lời đề nghị
giúp đỡ tương tự. Hai mươi tư giờ sau, ông suýt mất mạng trong thành phố Vatican.
Bức ảnh này hoàn toàn khác, tuy nhiên có một cái gì quen thuộc trong kịch bản khiến
ông lo lo.
Viên cảnh sát nhìn đồng hồ: "Capitane của tôi đang chờ, thưa ông".
Langdon chỉ nghe thấy loáng thoáng. Mắt ông vẫn dán vào bức ảnh. "Cái biểu tượng
này và cách đặt thi thể ông ấy thật kỳ lạ…".
"Vị trí?" Viên cảnh sát hỏi.
Langdon gật đầu, cảm thấy ớn lạnh khi ông ngẩng lên:
"Tôi không thể tưởng tượng là ai có thể làm việc này đối với người khác".
Viên cảnh sát có vẻ nghiêm nghị: "Ông không hiểu sao, ông Langdon. Những gì ông
nhìn thấy trong bức ảnh này…", anh ta dừng lại, "Ông Saunière đã tự làm điều đó với
chính mình".
-------------------------------1 Sion (hay Zion) là ngọn đồi thánh ở Jerusalem cổ cũng dùng để gọi cả Jérusalem.
Về sau, tử này được mở rộng nghĩa để chỉ: chính thể thần quyền Hebrơ, Giáo hội Cơđốc, nước của Chúa. . Chúng tôi để nguyên không dịch vì ở dây có thể hiểu theo mọi
nghĩa đó
2 Tiếng Pháp trong nguyên bản: sénécheux (số nhiều của sénéchal). Sénéchal ban
đầu, chỉ chức quan trong triều đình chuyên giới thiệu các món ăn, sau này, chỉ chức
quan ở tỉnh với chức năng tương đương như pháp quan (Các chú thích trong bản dịch
lần này đều của người hiệu đính)
3 Tiếng Pháp trong nguyên bản: chiến tranh Algerie.
4 Tiếng Pháp trong nguyên bản: Nhưng thưa ông.
5 Tiếng Pháp trong nguyên bản: Cục Cảnh sát tư pháp trung ương.
6 Tiếng Pháp trong nguyên bản: đại úy.
CHƯƠNG 2
Cách có một dặm, tên bạch tạng to con có tên Silas tập tễnh qua cổng trước của tòa
nhà bằng đá xám sang trọng ở phố La Bruyère. Chiếc dây lưng hành xác bằng vải
canh có ngạnh mà hắn quấn quanh bắp đùi cứa vào thịt hắn, nhưng tâm hồn hắn lại
đang ca hát với niềm thỏa mãn với việc phụng sự Chúa.
Đau đớn là tốt.
Đôi mắt đỏ ngàu của hắn rà khắp sảnh khi hắn vào nhà. Vắng tanh. Hắn lặng lẽ lên
cầu thang, không muốn đánh thức ai trong số bạn đồng môn. Cửa phòng ngủ của hắn
mở, việc khóa cửa ở đây bị cấm. Hắn vào phòng, đóng cửa lại sau lưng.
Căn phòng rất đơn giản- sàn gỗ cứng, một cái tủ áo bằng gỗ thông, một cái chiếu vải
bạt ở trong góc dùng làm giường ngủ.
Hắn là khách ở đây trong tuần này, nhưng nhiều năm nay, hắn có ân phước được ở
một thánh đường tương tự ở New York City.
Chúa cho ta chỗ ở và lẽ sống cho cuộc đời ta.
Cuối cùng, tối nay, Silas cũng cảm thấy bắt đầu đễn đáp được món nợ đó. Hối hả chạy
đến tủ áo, hắn tìm chiếc điện thoại di động giấu dưới ngăn đáy và bấm số gọi.
"Hử?" Một giọng đàn ông trả lời.
"Trình Thầy, con đã trở về".
"Nói đi", giọng nói kia ra lệnh, có vẻ hài lòng khi nghe hắn nói.
"Cả bốn đều đã chết. Ba pháp quan… và cả Đại sứ".
Giọng nói ngừng lại trong chốc lát, như để cầu nguyện: "Vậy ta chắc ngươi đã lấy
được thông tin?".
"Cả bốn đều nói giống nhau. Riêng rẽ từng người".
"Và ngươi tin chúng?".
"Họ nói y hệt nhau nên không thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên".
Một nhịp thở phấn khích: "Tuyệt. Hội kín này nổi tiếng là kiên định bảo vệ bí mật, ta
đã lo chúng nêu cao tinh thần ấy".
"Cái chết kề cổ là một động cơ mạnh mẽ buộc họ phải nói ra".
"Vậy thì, học trò của ta, hãy nói những gì ta cần phải biết".
Silas biết những thông tin hắn lượm đưọc từ những nạn nhân của hắn sẽ là một cú sốc:
"Thưa Thầy, cả bốn đều khẳng định sự tồn tại của viên đá đỉnh vòm… viên đá đỉnh
vòm trong truyền thuyết".
Hăn nghe thấy tiếng hít sâu bên kia đầu dây và có thể cảm thấy sự phấn khích của
Thầy: "Viên đá đỉnh vòm. Đúng như chúng ta đã ngờ ngợ".
Theo truyền thuyết, hội kín này đã tạo ra một bản đồ bằng đá - một viên đá đỉnh vòm
- và khắc vào đó bảng chỉ dẫn tới vị trí cuối cùng của bí mật lớn nhất của tổ chức…
thông tin này có quyền lực lớn đến mức sự bảo vệ nó chính là lý do tồn tại của hội.
"Khi chúng ta có được viên đá đỉnh vòm". Thầy Giáo nói, "thì chỉ còn cách bí mật đó
một bước".
"Chúng ta đang ở gần hơn Thầy nghĩ đấy ạ. Viên đá đỉnh vòm đó ở đây, tại Paris này".
"Tại Paris? Thật không thể tin được. Vậy thì quá dễ".
Silas lần lượt kể lại những sự kiện hồi đầu buổi tối… cả bốn nạn nhân của hắn, ít phút
trước khi chết, đã cố gắng tuyệt vọng như thế nào để hòng giữ cái mạng sống vô đạo
lý của họ bằng cách nói ra bí mật. Mỗi người đều khai với Silas cùng một điều y hệt
nhau - rằng viên đá đỉnh vòm đã được giấu khéo léo ở một vị trí trong một nhà thờ cổ
của Paris- Nhà thờ Saint- Sulpice.
"Bên trong một ngôi nhà của Chúa", Thầy Giáo la lên, "Chúng giễu chúng ta làm
sao!".
"Như chúng đã làm thế từ nhiều thế kỷ nay".
Thầy Giáo im lặng như để niềm đắc thắng của giây phút này tràn ngập mình. Cuối
cùng, ông ta nói: "Con đã làm một việc lớn phụng sự Chúa. Chúng ta đã chờ đợi điều
này nhiều thế kỷ. Con phải lấy lại viên đá đó cho ta. Ngay lập tức. Đêm nay.
"Con biết số tiền thưởng rồi đấy".
Silas biết số tiền thưởng nhiều không đếm xuể, tuy nhiên điều Thầy Giáo ra lệnh có
vẻ là bất khả thi. "Nhưng nhà thờ đó là một pháo đài, nhất là vào ban đêm. Con sẽ
vào bằng cách nào?".
Với giọng tự tin của một người có thế lực lớn, Thầy Giáo giảng giải những việc phải
làm.
Khi Silas gác máy, da hắn râm ran đợi.
Một giờ, hắn tự bao, thầm cảm ơn Thầy đã cho hắn thời gian để thực hiện sự sám hối
cần thiết trước khi bước vào một ngôi nhà của Chúa. Mình phải gột rửa linh hồn khỏi
những tội lỗi của ngày hôm nay. Những tội lỗi hắn phạm phải trong ngày hôm nay có
mục đích thiêng liêng. Người ta đã phạm những hành động chiến tranh trong nhiều
thế kỷ để chống lại kẻ thù của Chúa.
Sự tha thứ đã được đảm bảo.
Mặc dù thế, Silas biết sự miễn xá đòi hỏi hy sinh.
Kéo rèm che, hắn cời quần áo và quỳ xuống giữa phòng.
Nhìn xuống, hắn kiểm tra chiếc dây lưng hành xác cột quanh bắp đùi. Tất cả những
môn đồ chân chính theo Đạo đều mang vật này- một dây da có găm những ngạnh kim
loại sắc cứa vào thịt như một nhắc nhở thường xuyên về khổ đau của Chúa. Sự đau
đớn gây ra bởi vật này cũng giúp họ chống lại những dục vọng về xác thịt.
Mặc dù Silas đã đeo vật này lâu hơn yêu cầu hai tiếng, hắn biết hôm nay không phải
là một ngày bình thường. Nắm lấy chiếc khóa. hắn xiết chặt nó lại thêm mộl nấc nữa,
nhăn mặt khi những ngạnh sắc đâm sâu hơn vào da thịt. Thở ra từ từ, hắn khoan
khoái tiếp nhận lễ thức thanh lọc bằng đau đớn.
Đau đớn là tốt. Silas thì thầm, nhắc lại những lời thiêng liêng của Cha Josemaria
Escrivá - Người Thầy của mọi Thầy. Dù Escrivá đã chết năm 1975, minh triết của ông
vẫn sống mãi, những lời của ông vẫn được hàng nghìn tôi tớ trung thành của Chúa
trên toàn thế giới nhắc tới khi họ quỳ gối trên sàn để thực hành cái thông lệ thiêng
liêng gọi là "tự hành xác".
Silas chuyển sự chú ý đến sợi dây thừng to thắt nút cuộn gọn gàng đặt trên sàn bên
cạnh. Kỷ luật. Những nút thắt bết máu khô.
Khao khát được thấy tác dụng gột rửa của nỗi đau đớn của chính mình. Silas đọc
nhanh một lới cầu nguyện. Sau đó, nắm chặt một đầu sợi dây, hắn nhắm mắt và vung
sợi dây qua vai, cảm nhận những nút thắt quất mạnh vào lưng. Hắn lại giật nó qua vai,
quất mạnh vào thịt hắn. Giật đi, giật lại! cứ thế hắn quất hoài.
Castigo corpus meum 1
Cuối cùng, hắn cảm thấy máu bắt đầu chảy.
-------------------------------1 Tiếng La-tinh: Trừng phạt thân thể tôi, tự hành xác.
CHƯƠNG 3
Không khí khô hanh tháng tư táp qua cửa xe để mở cửa chiếc Citroen ZX khi nó theo
hướng Nam qua Nhà hát ôpêra và Quảng trường Vendôme. Ngồi ở ghế cạnh ghế tài
xế, Langdon cảm thấy thành phố vùn vụt qua trong khi ông cố soạn lại ý nghĩ của
mình cho rành rọt tỏ tường. Sau khi tắm và cạo râu ù một cái, nom ông đã tương đối
bảnh, nhưng trong lòng vẫn không nguôi lo lắng. Những hình ảnh đáng sợ về thi thể
của ông phụ trách bảo tàng vẫn chốt lại trong tâm trí ông.
Jacques Saunière đã chết.
Langdon không khỏi cảm thấy sâu sắc sự mất mát to lớn với cái chết của người phụ
trách bảo tàng. Mặc dù Saumère có tiếng là ưa biệt lập, nhưng sự công nhận đối với
lòng tận tụy vì nghệ thuật của ông đã khiến ông được kính yêu. Những cuốn sách của
ông về những mật mã bí mật ẩn chứa trong những bức họa của Poussin và Teniers
nằm trong số những giáo trình ưa thích của Langdon.
Cuộc gặp mặt tối nay là điều mà Langdon rất mong đợi, và ông đã rất thất vọng khi
ông phụ trách bảo tàng không xuất hiện.
Một lần nữa hình ảnh thi thể của người phụ trách bảo tàng vụt hiện lên trong tâm trí
ông. Jacques Saunière đã làm điều đó với chính mình sao? Langdon quay đầu và nhìn
qua cửa xe, cố xua hình ảnh đó ra khỏi tâm trí.
Bên ngoài, thành phố đang ngơi nghỉ - những người bán hàng rong đang đẩy những
chiếc xe chở hạnh đào ướp đường, các bồi bàn mang bao rác ra vỉa hè, một đôi tình
nhân ấp ủ nhau để giữ ấm trong gió nhẹ hòa quyện với hương hoa nhài.
Chiếc Citroen uy nghi đi giữa hỗn độn, tiếng còi hai âm chối tai sẻ đôi dòng xe cộ như
một lưỡi dao.
"Capitaine rất hài lòng khi biết ông vẫn còn ở Paris tối nay", viên cảnh sát nói, lần đầu
tiên mở lời kể từ lúc họ rời khách sạn. "Một sự trùng hợp may mắn".
Langdon tuyệt nhiên không hề cảm thấy may mắn, và sự trùng hợp là một khái niệm
mà ông không hoàn toàn tin tưởng.
Là một người dành cả đời để khảo sát tính tương liên tàng ẩn giữa những biểu tượng
và ý thức hệ khác hẩn nhau, Langdon xem thế giới như một mạng lưới bện xoắn
những lịch sử và sự kiện một cách sâu sắc. Những mối liên hệ có thể là vô hình, ông
thường hay giảng vậy cho các lớp khoa ký tượng học tại trường Harvard, nhưng chúng
luôn ở đó, lấp ngay dưới bề mặt "Tôi đoán". Langdon nói, "rằng Trường Đại học Mỹ ở
Paris đã nói cho các ông biết chỗ tôi đang ở".
Người lái xe lắc đầu: "Interpol".
Interpol (Cảnh sát quốc tế), Langdon nghĩ thầm. Tất nhiên rồi. ông đã quên mất rằng
yêu cầu có vẻ vô hại của tất cả các khách sạn châu Âu đòi xem hộ chiếu khi nhận
phòng còn quan trọng hơn một thủ tục kỳ quái - nó là luật. Vào bất kỳ buổi tối nào,
trên toàn châu Âu, các quan chức Interpol có thể định vị chính xác ai đang ngủ ở đâu.
Việc tìm ra Langdon ở khách sạn Ritz chắc chắn chỉ mất năm giây.
Khi chiếc Citroen tăng tốc độ hướng về phía Nam thành phố, mặt nghiêng sáng rực
của tháp Eifíel hiện ra, đâm thẳng lên trời ở phía bên phải. Thấy nó, Langdon nghĩ tới
Vittoria, chợt nhớ lời hứa hẹn vui giữa hai người một năm trước rằng cứ sáu tháng một
lần, họ sẽ gặp lại nhau tại một địa điểm lãng mạn khác nhau trên thế giới. Tháp Eiffel,
Langdon nghĩ, có thể cũng nằm trong danh sách của họ. Buồn thay, lần cuối cùng ông
hôn Vittoria là ở một sân bay náo nhiệt tại Roma cách đây hơn một năm.
"Ông đã trèo lên bụng nó chưa?", viên cảnh sát liếc mắt hỏi.
Langdon ngước lên, chắc chắn là mình 1. "Xin lỗi, tôi nghe chưa rõ?".
"Đẹp tuyệt vời phải không?" Viên cảnh sát hất hàm qua kính chắn gió về phía tháp
Eiffel. "Ông đã từng leo lên đó chưa?".
Langdon đảo mắt: "Chưa, tôi chưa từng trèo lên tháp".
"Đó là biểu tượng của nước Pháp. Tôi nghĩ nó thật hoàn hảo".
Langdon lơ đãng gật đầu. Các nhà ký tượng học thường nhận xét rằng Pháp - một đất
nước nổi tiếng về thói tự đắc với cái chất đàn ông của mình, về thói giăng hoa và về
những lãnh tụ tướng ngũ đoản như Napoléon và Pepin Lùn - ắt không thể chọn một
biểu tượng quốc gia nào thích hợp hơn một cái dương vật cao cả ngàn mét.
Khi họ tới ngã tư phố Rivoli, đèn giao thông bật đỏ, nhưng chiếc Citroen không đi
chậm lại. Viên cảnh sát nhấn ga cho chiếc xe nhỏ vọt qua ngã tư và tăng tốc đi vào
khu vực nhiều cây cối của phố Castiglion, lối vào phía Bắc của Vườn Tuileries nổi
tiếng - một thứ Central Park của Paris. Hầu hết khách du lịch đều dịch nhầm cụm từ
Jardil des tuileries là có liên quan đến cảnh hàng nghìn bông hoa tulip nở rộ ở đây,
nhưng thực tế Tuileries liên quan đến một vài điều ít lãng mạn hơn nhiều.
Công viên này từng là một cái hố mênh mông, rất ô nhiễm mà từ nó, các nhà thầu
khoán ở Paris đã đào đất sét để sản xuất những viên ngói đỏ nổi tiếng của thành phố,
gọi là tuiles.
Khi vào trong công viên trống vắng, viên cảnh sát với tay xuống dưới bảng điều
khiển, tắt cái còi đang rú ầm ĩ. Langdon thở phào, thưởng thức sự im lặng đột ngột.
Bên ngoài chiếc xe, ánh sáng nhạt của những ngọn đèn pha halôgien lướt trên con
đường rải sỏi vụn, tiếng lốp xe nghiến lạo xạo thành một nhịp ru ngủ. Langdon luôn
coi khu vườn này như một nơi linh thiêng. Đây là khu vườn mà 2) đã thể nghiệm khối
hình và màu sắc, và thực sự truyền cảm hứng cho sự ra đời của trào lưu ấn tượng chủ
nghĩa. Tối nay, tuy nhiên, chỗ này lại mang một hào quang khác thường của điềm gở.
...
 
Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn. (Barack Obama)





