Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng Sản Việt Nam
Napoleon Đại Đế - Andrew Roberts

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:14' 07-03-2024
Dung lượng: 21.8 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:14' 07-03-2024
Dung lượng: 21.8 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
LỜI GIỚI THIỆU
C on người đặc biệt lỗi lạc ấy và thời đại của ông đã là
chủ đề của hàng nghìn cuốn sách trong suốt hai thế kỷ qua, và
có lẽ sẽ còn được nghiên cứu tiếp trong nhiều thế kỷ sau nữa.
Nhưng mãi đến bây giờ, khi những cánh cửa đã mở ra, giúp ta
bước ra thế giới và dễ dàng tiếp cận các công trình nghiên cứu
khác nhau của nhiều nước, nhiều sử gia nổi tiếng, nhiều góc
nhìn, chúng ta mới có cơ hội được đọc nhiều như thế về
Napoleon. Tuy nhiên, những cuốn sách dịch ra tiếng Việt về
ông cũng như về thời hậu Cách mạng Pháp ở ta vẫn chỉ đếm
trên đầu ngón tay, và cuốn tiểu sử về ông của Eugene Tarlé
bỗng dưng trở thành một tác phẩm để đời và được coi như
sách gối đầu giường của nhiều thế hệ độc giả Việt. Trên thực
tế, sau khi được tiếp xúc với nhiều nguồn sử liệu khác nhau
bằng ngôn ngữ gốc, được viết ra ở nhiều thời kì khác nhau, tôi
cho rằng đấy không phải là một cuốn sách xuất sắc và sở dĩ nó
được dịch ra và phát hành rộng rãi, một phần vì thể hiện
những góc nhìn kiểu Marx-Lenin về hiện tượng Napoleon.
Đấy không phải là một hiện tượng dễ lý giải. Những góc
nhìn trên các quan điểm chính trị khác nhau về ông luôn cho
các kết quả về những Napoleon khác nhau, dù tựu trung một
điểm là đều thừa nhận ông vĩ đại. Các điểm mốc chính của
cuộc đời ông đôi khi được các sử gia coi như những cái mắc
áo để treo lên đó các quan điểm của họ. Có không ít sử gia có
những cái nhìn khác với Tarlé. Cũng có những nhà nghiên cứu
chỉ đề cập rất sâu đến một khía cạnh nào đó trong sự nghiệp
chiến chinh của vị Hoàng đế Pháp, thậm chí không ngần ngại
đưa ra các chỉ trích nặng nề và do đó, chịu nhiều phản ứng tiêu
cực từ những người hâm mộ Napoleon. Sử gia Alan Schom
người Mỹ là một ví dụ tiêu biểu. Ông đưa ra không ít các lập
luận về sự thiếu phương hướng và ngông cuồng của Napoleon
trong cuộc viễn chinh ở Ai Cập, chỉ ra sự điên rồ và không khả
thi của cuộc xâm lược nước Anh với việc lập nên trại lính
khổng lồ Boulogne. Ông cũng chỉ ra những cơ hội hiếm hoi
mà Napoleon đã không nắm lấy nhằm đem lại một nền hòa
bình lâu dài cho châu Âu sau khi đập tan Liên minh quân sự
thứ ba vào năm 1805 ở trận Austerlitz. Đối với Schom,
Napoleon là một thiên tài ghét hòa bình, sùng bái cá nhân và
chủ trương xây dựng một nước Pháp hùng cường làm trung
tâm của thế giới Phương Tây bằng công cụ là Đại quân của
ông.
Hầu hết các nghiên cứu về Napoleon đều dựa vào các ghi
chép của những người đương thời với Napoleon, và những ghi
chép ấy, tùy theo các quan điểm yêu hay ghét về Napoleon, mà
tác động lên các sử gia sau đó. Không ít sử gia có cái nhìn
tương tự Alan Schom. Nhưng cuốn sách mà chúng ta sắp đọc
ở đây lại không đi theo hướng đó và cũng không đi vào chi tiết
phân tích một vài vấn đề về các giá trị mà Napoleon đã tạo ra
trong thời đại của ông như cách mà sử gia lỗi lạc Georges
Lefebvre đã làm. Andrew Roberts, trong cuốn tiểu sử rất đồ sộ
mà các bạn sắp đọc sau đây, không đi theo các hướng đó, mà
chủ yếu đi sâu mô tả một cách chi tiết các hoàn cảnh của thời
Cách mạng Pháp đã đưa Napoleon lên đỉnh quyền lực, cách
mà ông đã giành lấy nó bằng đại bác và lưỡi lê, và củng cố
quyền lực bằng chiến tranh, đầu tiên với những người Jacobin,
sau đó là dẹp loạn Vandée, và cuối cùng đem chiến tranh ra
ngoài biên giới nước Pháp để trở thành chúa tể của châu Âu
lục địa trong một cuộc chiến mù quáng chống lại nước Anh
nhằm thiết lập một trật tự thế giới do Paris điều khiển. Cuốn
sách có rất nhiều chi tiết tôi chưa từng được đọc ở rất nhiều
các tác phẩm nổi tiếng khác về Napoleon, thậm chí có những
góc đánh giá mới về vị Hoàng đế Pháp thông qua các cuốn hồi
kí của người đương thời mà tôi từng được đọc. Tác giả cũng
nhìn nhận Napoleon một cách khách quan hơn, khi đánh giá
ông trước hết không phải là một vĩ nhân, mà là một con người.
Thực ra, Napoleon là gì với chúng ta? Đối với những nhà
sử học, đấy là một kho tàng đáng giá về nghệ thuật chiến
tranh, về lịch sử châu Âu thời hậu Cách mạng Pháp và tiền đề
cho các cuộc cách mạng tư sản sẽ làm rung chuyển nước Pháp
và châu Âu giữa thế kỷ. Đối với nhiều nhà nghiên cứu các
phong trào nông dân và tư sản ở các nước bị quân đội
Napoleon tràn qua và xâm chiếm, dù ban đầu với bất cứ lý do
nào, thì Napoleon hoặc là người đem tư tưởng của Cách mạng
vào đất nước họ, hoặc là kẻ xâm lược. Đối với những nhà
nghiên cứu nghệ thuật, Napoleon là chất xúc tác để thổi bùng
lên chủ nghĩa lãng mạn trong thơ ca và âm nhạc thời đại ấy.
Đối với không ít quốc gia, như Italy, ông lại là một nhà giải
phóng, người chiến đấu chống lại chế độ phong kiến và châm
ngòi cho tư tưởng thống nhất nước Ý, lúc ấy bị chia năm xẻ
bảy, mà phải hơn nửa thế kỷ sau, sự nghiệp ấy mới hoàn thành.
Nhưng ở Pháp, ông là một người hùng thực sự, dù có những
năm tháng mà người Pháp sợ hãi những cuộc trưng binh, căm
thù những cuộc chiến tranh không ngớt để đem thân thể người
Pháp thành phân bón rải rác trên khắp các cánh đồng châu Âu,
do những cuộc chiến lớn nhỏ đã khiến vào năm 1815, năm
cuối cùng của những biến động lớn lao đã định hình châu Âu
thế kỷ ấy, có những làng sạch bóng đàn ông tuổi từ 15 đến 70.
Paris hiện đại được dựng xây trên nền tảng những ý tưởng của
ông, những cải cách lớn về quân sự và hành chính từ thời đó
đến giờ vẫn được áp dụng từ thời Napoleon, những hoài niệm
về một nước Pháp trên đỉnh cao châu lục và thế giới vẫn luôn
hiện hữu mỗi khi nước Pháp rơi vào khủng hoảng, và ở đảo
Corse, nơi Napoleon đã sinh ra, ông là một tượng đài, một vĩ
nhân.
Tôi đã qua thăm nhà ông ở Ajaccio, thủ phủ đảo Corse.
Căn nhà to và rộng nằm trong một con ngõ nhỏ bây giờ ăn
theo hình tượng của vị Hoàng đế. Trên cửa sổ, những bức
tường, những tên quán ăn, nhà hàng, quán cà phê… đâu đâu
cũng thấy Napoleon. Ngôi nhà với một khu vườn nhỏ mà ở đó
có bức tượng Napoleon ở tuổi thiếu niên như lọt thỏm trong
một thế giới thần tượng Napoleon bằng cách kiếm tiền nhờ tên
tuổi của ông. Trong ngôi nhà đã được trở thành Bảo tàng cấp
quốc gia ấy vẫn còn rất nhiều kỉ vật gắn liền với Napoleon và
gia đình ông, trong đó có chiếc giường mà ông đã nằm lại vào
năm 1799 và chiếc mặt nạ sáp in hình khuôn mặt ông sau khi
mất trên đảo Saint Helena năm 1821. Chiếc giường ấy chính là
nơi mà Napoleon đặt lưng lần cuối trên đảo Corse và ông
không bao giờ trở lại đây nữa. Napoleon yêu đảo Corse, và
hòn đảo này yêu ông, ngày đó đã thế, bây giờ vẫn thế và mãi
sau này có lẽ tình yêu ấy vẫn không đổi. Nhưng Corse quá bé
đối với ông, và ông muốn ra thế giới. Trong hành trình ấy,
Napoleon thậm chí đã từ cách phiên âm họ tên ông theo tiếng
Corse bản địa để trở thành một người Pháp chính hiệu. Để rồi
đến cuối đời, khi đã sa cơ, ông nhìn lại bản thân mình và thừa
nhận rằng, ông luôn là một người con xứ đảo Corse, người đến
khi chết trở thành ông vua không ngai trên một hòn đảo khác,
và vẫn ngóng về quê hương mình.
Trong những tháng ngày ngắn ngủi bị đầy trên đảo Elba, vị
Hoàng đế luôn từ biệt thự của mình ngóng về hòn đảo quê
hương, vốn chỉ cách đó chừng chục hải lý. Con người đã chinh
chiến trên khắp châu Âu, đã sang tận Trung Đông, đã đạp lên
xác chết của hàng triệu người để xây nên những vinh quang
cho nước Pháp và bản thân mình, đã không thể về nơi chôn
rau cắt rốn những năm cuối đời, và chết ở một nơi cách xa
nước Pháp cả vạn dặm, trong cô độc và có thể đã bị hãm hại
bởi tay của một thế lực nào đó chúng ta chưa thể vạch mặt sau
gần 200 năm. Những câu chuyện, những cuốn sách, các công
trình nghiên cứu lớn về Napoleon và thời đại của ông chắc
chắn sẽ còn tiếp tục được viết ra nữa, xung quanh cuộc sống
và cái chết của một con người đã nằm lại hai thế kỷ trước. Tên
tuổi của ông vẫn còn được nhắc tới, thậm chí tranh cãi, vào lúc
này. Napoleon Đại đế là cuốn tiểu sử công phu và đồ sộ nhất
cho tới nay được dịch cho các độc giả Việt Nam, những người
ít có cơ hội được tiếp cận với nhiều công trình nghiên cứu lớn
về Napoleon, đặc biệt là bằng ngôn ngữ gốc. Và hy vọng rồi
đây, sẽ có thêm nhiều cuốn sách như thế này về ông, thời đại
ông và Cách mạng Pháp tiếp tục được giới thiệu cho bạn đọc.
Nhiều năm trước, ở ngoại ô Brussels, Bỉ, đứng trước Đỉnh
sư tử, một ngọn đồi lớn được đắp lên ở nơi mà quân đội Anh
và liên minh đã đứng trong trận Waterloo, tôi tự hỏi: “Điều gì
sẽ xảy ra nếu đạo quân Phổ của Blucher không tới kịp buổi
chiều hôm ấy, và làm thay đổi kết cục của trận đánh?” Chắc
chắn chiến tranh sẽ lại tiếp tục, hàng triệu người khác sẽ ngã
xuống, Wellington không thể trở thành một người hùng và
bình minh của châu Âu, một châu Âu mới mẻ đang hình thành,
với những tư tưởng của Cách mạng Pháp và sự thúc đẩy các tư
tưởng ấy từ chính Napoleon, cũng như những quan hệ đã thay
đổi về phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất để chuẩn bị cho một thời kì mới của công nghiệp, của
các mối quan hệ giữa các nước lớn trong một thế kỷ hòa bình,
trước khi trật tự ấy bị phá vỡ bởi Thế chiến Thứ nhất sẽ không
mở ra. Thời đại của Napoleon, với chiến tranh liên miên, phải
chấm dứt. Một chiến thắng ở Waterloo có thể là một trở lực
cho sự hình thành của một châu Âu mới, với những yếu tố mới
đã chín muồi cho một cuộc thay đổi lớn lao không thể cưỡng
được, mà chỉ hòa bình mới làm nền tảng cho nó diễn ra.
Những tượng đài kỉ niệm thời Napoleon ở châu Âu như thế
nhiều lắm. Có cái lớn, có cái nhỏ, cái chỉ dăm ba dòng chữ
hoặc những bia mộ. Trong những năm tháng sống ở châu Âu,
với một đam mê nghiên cứu về Napoleon, tôi đã lần lượt qua
rất nhiều chiến trường xưa của ông và các đài tưởng niệm, đã
đến mộ ông trong Điện Invalides và cũng đã thăm nơi ông ở
tại đảo Elba, nơi ông đã bị cầm tù gần một năm trước khi trốn
về Pháp cho thời kì 100 ngày. Nhưng tôi ấn tượng nhất là đài
tưởng niệm trận Wagram ở ngoại ô Vienna, Áo. Nước Áo thua
trận ấy năm 1809, nên đài tưởng niệm rất nhỏ, nằm khiêm tốn
ở một giao lộ trong thị trấn. Tượng đài có hai người lính, một
người cố giữ cho lá cờ Áo vẫn bay, người kia ngã ngồi dưới
chân, có lẽ vừa trúng một phát đạn chí mạng. Nó chính là một
biểu tượng ý nghĩa của thời đại ấy. Chiến thắng và chiến bại
chỉ là những khía cạnh khác nhau của một thời kì vĩ đại mà
hàng chục triệu người đã ngã xuống trong các cuộc xung đột
giữa các luồng tư tưởng và phương thức sản xuất khác nhau.
Napoleon chỉ là một nhân vật chính của thời đại ấy, một
người đã tạo nên lịch sử châu Âu thời đó, và trớ trêu thay,
cũng là một nạn nhân. Của chính ông.
Hà Nội, tháng 7 năm 2017
Nhà báo Trương Anh Ngọc
LỜI NGƯỜI DỊCH
Bạn đọc thân mến,
Cuốn sách quý bạn đang cầm trên tay thuật lại những biến
cố xảy ra cách đây đã 200 năm ở châu Âu, với những đặc
trưng về ngôn ngữ, văn hóa, chính trị, quân sự, xã hội rất khác
với văn hóa, ngôn ngữ Việt Nam, chính vì vậy trong nhiều
trường hợp, người dịch buộc phải chọn một giải pháp tạm coi
là hợp lý hơn cả để vừa giúp ngôn ngữ của bản dịch dễ hiểu,
dễ tiếp cận với bạn đọc Việt Nam, vừa trung thành với tinh
thần của văn bản gốc. Một số trường hợp hay gặp nhất trong
bản dịch, chúng tôi xin phép được tóm lược dưới đây:
Về các tước hiệu quý tộc châu Âu, trong phần lớn trường
hợp chúng tôi vẫn giữ cách chuyển ngữ truyền thống là khớp
tương đương một số tước hiệu quý tộc châu Âu với các bậc
phong quý tộc Trung Hoa mà lâu nay các dịch giả Việt Nam
vẫn dùng (Duke: công tước, Marquis: hầu tước, Count: bá
tước, Viscount: tử tước, Baron: nam tước, Archiduke hay
Grand Duke: đại công tước), tuy nhiên, với tước hiệu “prince”,
do từ này mang nhiều sắc thái khác nhau nên tùy trường hợp
chúng tôi đã cố gắng chuyển dịch sang tiếng Việt cho phù hợp
với hoàn cảnh (Ví dụ: những trường hợp là con trai các vị vua,
hoàng đế sẽ được dịch là “hoàng tử”, một số quý tộc Nga được
dịch thành “công tước”, hay thống chế Poniatowski là cháu
vua Ba Lan cuối cùng được gọi là “hoàng thân”…). Các danh
xưng “Sir” và “Lord” của các quý tộc Anh được thống nhất
chuyển ngữ thành “Ngài” và “Huân tước.”
Về quân đội các quốc gia châu Âu thời Napoleon, tên gọi
của các loại quân khá phức tạp. Phần lớn trường hợp, chúng
tôi cố gắng chuyển ngữ sang tiếng Việt với những tên gọi đã
quen thuộc như “khinh binh”, “khinh kỵ binh”, “lính thủ
pháo”, v.v… Trong một số trường hợp để giúp bạn đọc dễ theo
dõi, chúng tôi có bổ sung chú thích khi một số loại đơn vị
quân đặc thù được nhắc tới. Một khó khăn nữa trong chuyển
ngữ là các đơn vị cấp “bán lữ đoàn”, và “trung đoàn” trong
quân đội châu Âu thời đó trong bản gốc không nêu rõ quy mô
đơn vị mà chỉ nêu số hiệu (Ví dụ: 57th Line là “bán lữ đoàn bộ
binh 57”), chúng tôi đã nỗ lực tra cứu số hiệu của các đơn vị
này trong các nguồn thông tin lịch sử về thời Napoleon để
chuyển dịch cho hợp lý, nhưng trong nhiều trường hợp cũng
không tìm được thông tin.
Về địa danh, về cơ bản chúng tôi giữ nguyên cách viết địa
danh trong bản gốc, trừ một số tên địa danh, chủ yếu ở Pháp,
mà cách gọi Pháp đã quen với người Việt được chúng tôi
chuyển sang tên gọi Pháp (Ví dụ: Corse thay vì Corsica, Lyon
thay vì Lyons…).
Về tên riêng, một số trường hợp những nhân vật lịch sử đã
quen thuộc với người Việt trong bản gốc có tên hay họ được
viết Anh hóa, chúng tôi xin mạn phép giữ nguyên tên này cho
nhất quán với toàn hệ thống các tên đang được dùng thời hiện
đại, kèm theo chú thích tên tiếng Việt của lần xuất hiện đầu
tiên (cho bạn đọc nắm rõ hơn). Chẳng hạn, vua Phổ Frederick
William được chú thích Friedrich Wilhelm trong lần xuất hiện
đầu tiên, Sa hoàng Paul I được chú thích Pavel I trong lần xuất
hiện đầu tiên, v.v…
Về tên các cuốn sách, tờ báo, bài luận, tác phẩm văn, thơ,
nhạc… trong trường hợp bản tiếng Anh có nêu tựa gốc, chúng
tôi giữ lại tựa gốc và in nghiêng kèm theo tựa đã dịch sang
tiếng Việt, còn các trường hợp khác đều được dịch hoàn toàn
sang tiếng Việt để bạn đọc tiện theo dõi. Trong trường hợp bạn
đọc muốn tìm tài liệu gốc, có thể dễ dàng tham khảo phần chú
thích ở cuối sách. Trong ấn bản tiếng Việt này, tất cả các chú
thích đặt ở chân trang đều là của tác giả, còn lại là chú thích
của dịch giả (ND) và biên tập viên (BT).
Về tên các huân huy chương, tổ chức, chúng tôi dịch sang
tiếng Việt theo cách gọi trong bản tiếng Anh hoặc theo tên gốc
của huân huy chương, tổ chức được nêu trong bản tiếng Anh.
Chẳng hạn, Ordre de la Légion d'Honneur, huân chương cao
quý nhất thời Napoleon, được dịch theo đúng tên gọi gốc là
Huân chương Binh đoàn Danh dự (trong khi ở Việt Nam vẫn
quen gọi là Bắc đẩu Bội tinh).
Việc chuyển ngữ một cuốn sách đồ sộ, có nội dung phong
phú, phức tạp như Napoleon Đại đế là công việc khó khăn, và
chắc chắn sẽ còn những điểm chưa hoàn thiện. Trên đây chỉ là
một số nhỏ trong rất nhiều khía cạnh của bản dịch mà người
dịch nói riêng cũng như tập thể nhóm dịch – hiệu đính – biên
tập nói chung của Napoleon Đại đế rất hy vọng nhận được
phản hồi từ bạn đọc như những đánh giá, kiểm chứng khách
quan, toàn diện nhất để giúp chúng tôi bổ khuyết các thiếu sót
không khỏi vẫn còn hiện hữu trong bản dịch lần đầu, làm cơ
sở cho chúng tôi có được những bản dịch hoàn thiện hơn trong
những lần tái bản tiếp theo. Vì những đóng góp hết sức quý
báu mà chúng tôi tin chắc sẽ nhận được từ các quý bạn đọc,
mong các quý bạn đọc hãy nhận từ chúng tôi lời cảm ơn chân
thành nhất.
Chúng tôi hy vọng về tổng thể ấn bản tiếng Việt này đem
lại được cho bạn đọc một trải nghiệm thú vị khi lần giở các
trang sách để đồng hành với một trong những nhân vật kỳ lạ
nhất trong lịch sử loài người, người đã “cho chúng ta thấy
những gì một con người nhỏ bé như chúng ta có thể đạt được
trong một thời gian ngắn ngủi như thế.”
Trân trọng.
LỜI CẢM ƠN
S au khi dành thời gian cho việc nghiên cứu và viết cuốn
sách này còn dài hơn cả thời gian mà chính Napoleon đã trải
qua ở St Helena và Elba cộng lại, tôi đã tập hợp được một số
lượng lớn đến mức bối rối những người tôi mong muốn cảm
ơn vì sự hào phóng trước sau như một, tính cách dễ mến, thời
gian và sự giúp đỡ của họ. Những người này bao gồm: Tổng
thống Nicolas Sarkozy vì những hiểu biết sâu sắc của ông về
cách nhìn nhận Napoleon ở Pháp ngày nay; David Cameron và
Rodney Melville vì đã cho phép tôi tìm hiểu thư tín của
Napoleon tại Chequers;(*) Xavier Darcos tại Viện Hàn lâm
Pháp và Tổng Hàn lâm viện Pháp quốc vì những lần giới thiệu
tại Paris; Mervyn King vì các suy nghĩ của ông về các món nợ
tài chính của Pháp và Anh trong Chiến tranh Napoleon; Carole
Aupoix vì đã cho tôi xem một con rận giống như những con
vật ký sinh đã gieo rắc bệnh sốt chấy rận từng tàn phá các đạo
quân của Napoleon tại Nga; Đại công tước Otto von Habsburg
đã quá cố vì những quan điểm của ông về cuộc hôn nhân
“không môn đăng hộ đối” của Marie Louise với Napoleon;
phu nhân Mary Berry vì đã cho tôi xem những chiếc ghế được
sử dụng tại Hội nghị Vienna; Jayne Wrightsman vì đã cho tôi
xem bộ sưu tập gáy sách thời Napoleon của bà; Robert Pirie vì
sự động viên của ông; phu nhân Alexandra Dacre đã quá cố vì
những hồi ức của bà về Hoàng hậu Eugénie; Dusan Frybort tại
Austerlitz vì đã cho tôi bắn thử khẩu súng hỏa mai thời
Napoleon của ông; cô Evan Lattimer vì đã cho phép tôi xem
mẫu vật được cho là “gân” của Napoleon; Charles-Henry và
Jean-Pascal Tranié, Jerry và Jane Del Missier vì lòng hiếu
khách tuyệt vời của họ tại hồ Geneva; Nicholas Steed vì
những báo cáo của ông về Napoleon ở Malta; vợ chồng Bá
tước Carnarvon vì đã cho tôi xem chiếc ghế bành của
Napoleon lấy từ Fontainebleau và chiếc bàn viết từ Tuileries;
Robin Birley vì sự hào phóng lớn lao của ông; nữ Bá tước
Rosebery vì đã cho tôi thấy thư viện di động của Hoàng đế;
Tiến sĩ Henry Kissinger vì những suy nghĩ của ông về Hội
nghị Vienna; Giáo sư Charles Esdaile vì đã mời tôi tới hội thảo
tuyệt vời mang tên “Napoleon tại đỉnh cao của ông” tại Đại
học Liverpool năm 2007; Deborah Edlmann, Rurik Ingram,
các em họ Philip và Sandra Engelen vì đã đón tôi tại Cape
Town trên cuộc hành trình tới St Helena của tôi (khiến tôi mất
hai tuần; chủ yếu trên tàu của Royal Mail); Zac Gertler vì lòng
hiếu khách và sự hào phóng của ông tại Tel Aviv; Caroline
Dalmeny vì đã cho tôi mượn một món tóc của Napoleon, món
tóc đó đã luôn hiện diện trên bàn viết của tôi, tạo cảm hứng
cho tôi; và Baudoin Port tại BNP Paribas vì đã cho phép tôi tới
thăm căn phòng nơi Napoleon và Josephine từng kết hôn. Tôi
cũng muốn gửi lời xin lỗi chân thành nhất tới Jérôme Tréca và
đội ngũ nhân viên tại cung điện Fontainebleau vì đã kích hoạt
chuông chống trộm trong phòng đặt ngai của Napoleon không
dưới ba lần.
Một sử gia quân sự không tới thăm các chiến trường cũng
giống như một thám tử chẳng bận tâm tới thăm hiện trường tội
ác. Trong quá trình nghiên cứu cho cuốn sách này, tôi đã tới
thăm 53 trong số 60 bãi chiến trường của Napoleon, phần lớn
với sự tháp tùng của sử gia quân sự lỗi lạc John Lee. Một
trong những niềm vui lớn nhất trong việc viết cuốn sách này là
được cùng John bước đi trên mặt đất ở Montenotte, Mondovi,
Lodi, Mantua, Arcole, Castiglione, Rivoli, Rovereto, Dego,
Marengo, Ulm, Austerlitz, Jena, Eylau, Friedland, Abensberg,
Landshut, Eggmühl, Ratisbon, Aspern-Essling, Wagram,
Maloysroslavets, Lützen, Bautzen, Dresden, Leipzig,
Reichenbach, Brienne, La Rothière,
Champaubert,
Montmirail, Château-Thierry, Vauchamps, Montereau,
Craonne, Lâon, Reims, Arcis-sur-Arbe, và St-Dizier. Những
lời khuyên và hiểu biết sâu sắc của John trong vô vàn email
trao đổi giữa chúng tôi quả thực là vô tiền khoáng hậu, những
ghi chú về các trận đánh trong các chiến dịch của Napoleon đã
chứng tỏ hoàn toàn vô giá, và tình bạn của ông là một niềm
vui. Tôi không thể cảm ơn đủ với ông cũng như Celia, vợ ông,
người đã rất thường xuyên sắp xếp để ông cùng tới thăm các
chiến trường với tôi.
Trong số 69 kho lưu trữ, thư viện, bảo tàng, và viện nghiên
cứu mà tôi đã tới thăm ở 15 quốc gia trong quá trình nghiên
cứu của mình, tôi đã luôn gặp sự giúp đỡ hữu ích và tình bạn,
và tôi muốn đặc biệt cảm ơn:
Pháp: Sacha Topalovich và Florence Tarneaud tại Tàng thư
Quốc gia, Paris; Y. Bamratta và Laurence Le Bras tại các cơ sở
của Thư viện Quốc gia lần lượt tại Tolbiac và Richelieu; Anne
George-Liskenne tại Trung tâm Tàng thư Ngoại giao, La
Courneuve; Claude Ponnou và Thisio Bernard tại Cục Lịch sử
Quốc phòng, Vincennes; Sylvie Biet và Danièle Chartier tại
Thư viện Thiers; Gérard Leyris tại Bảo tàng Carnavalet; Ngài
Peter Westmacott, Đại sứ Anh tại Paris, và quản gia của ông,
Ben Newtek, vì đã chỉ dẫn cho tôi thăm ngôi nhà của Pauline
Borghese tại Paris, ngày nay là Sứ quán Anh; Susanne
Wasum-Rainer, Đại sứ Đức tại Paris, vì đã chỉ dẫn tôi đi thăm
nơi ở của bà, dinh thự de Beauharnais, món quà tuyệt vời bà
tặng con trai Eugène của mình; Léonore Losserand tại StJoseph-des-Carmes; David Demangeot, người quản lý cung
điện cũ St Cloud; Aurore Lacoste de Laval tại Học viện Quân
sự; Christopher Palmer, Bí thư thứ nhất Sứ quán Mỹ tại Paris,
và bà Robin Smith, Giám đốc Trung tâm Marshall tại dinh thự
Talleyrand; Angélique Duc tại bảo tàng Napoleon ở Briennele-Château; Fanny de Jubecourt tại điện Invalides và bảo tàng
Quân đội; Tiến sĩ Thierry Lentz và Giáo sư Peter Hicks vì đã
đón tiếp tôi nhiệt tình đến vậy tại Quỹ Napoleon tuyệt vời;
Alain Pougetoux tại lâu đài Malmaison; Xavier Cayon tại Hội
đồng Quốc gia ở Palais-Royal (trước đây là Viện Tư pháp); bà
Marianne Lambert tại lâu đài Maison-Laffitte của Thống chế
Lannes; ông bà Benoit d'Abonville; Quentin Aymonier tại
pháo đài Joux Ở Jura; con trai Henry và con gái Cassia của tôi
vì đã đi cùng tôi tới Corse; đội ngũ nhân viên tại điện và bảo
tàng Binh đoàn Danh dự, Paris; bảo tàng Sở cảnh sát Paris;
trường học của Binh đoàn Danh dự tại St-Denis; Panthéon,
bảo tàng Fesch và bảo tàng Quốc gia dinh thự Bonaparte tại
Ajaccio, Corse.
Nga: Alexander Suhanov và Elvira Chulanova tại bảo tàng
Quốc gia Borodino vì đã dẫn tôi đi thăm chiến trường
Borodino; Oleg Aleksandrov của Three Whales Tours vì đã
đưa tôi tới chiến trường Maloyaroslavets; Maciej Morawski tại
City Events vì đã đưa tôi tới chiến trường Eylaud và Friedland
tại vùng lãnh thổ Kaliningrad thuộc Nga; Konstantin Nazarov
tại bảo tàng Lịch sử Quân sự Maloyaroslavets; Aiexandr
Panchenko tại bảo tàng Lịch sử Bagrationovsk ở chiến trường
Eylaud; Valery Shabanov và Vladimir Ukievich Katz tại Tàng
thư Lịch sử Quân sự Nhà nước tại Moscow, và Marina
Zboevskaya tại bảo tàng Toàn cảnh Borodino tại Moscow.
Belarus: Giáo sư Igor Groutso vì đã chỉ dẫn cho tôi chiến
trường tại sông Berezina, và Rakhovich Natalya Stephanovna
tại bảo tàng Hỗn hợp Borisov.
Israel: Tiến sĩ Eado Hecht vì đã dẫn tôi đi thăm các chiến
trường tại Kakun, Jaffa và núi Thabor, và Tiến sĩ Alon
Keblanoff vì đã dẫn tôi tới thăm vị trí cuộc vây hãm Acre;
Giáo sư Azar Gat tại Đại học Tel Aviv, và Liat Margolit tại bảo
tàng Khảo cổ Tel Dor.
St Helena: Michel Dancoisne-Martineau, Lãnh sự danh dự
Pháp và người phụ trách bảo tồn vô cùng mẫn cán tại
Longwood vì những ngày vô cùng thoải mái của tôi tại đó;
Aron Legg vì đã dẫn tôi tới thăm Mount Pleasant, Dianas
Peak, Prosperous Bay, The Briars, Sandy Bay và Jamestown,
và Andrew Wells, cựu Tổng thư ký của St Helena.
Bỉ: Ian Fletcher và Đại tá John Hughes-Wilson, người đã
dẫn tôi tới thăm Waterloo; Benoît Histace, Giám đốc bảo tàng
Trận Ligny, người đã dẫn tôi đi quanh chiến trường tại Ligny,
và Bá tước François cùng nữ bá tước Susanne Cornet
d'Elizius, chủ nhân của La Haie Sainte.
Anh: Lucy McCann tại thư viện Rhodes House, Oxford;
Leigh McKiernan tại phòng đọc Các bộ Sưu tập đặc biệt ở thư
viện Bodleian, Oxford; Giáo sư Nick Mayhew tại phòng Tiền
xu Heberden ở bảo tàng Ashmolean, Oxford; Josephine Oxley
tại Apsley House; Paul Roberts tại bảo tàng Anh; Katy
Canales và Pim Dodd tại bảo tàng Quân đội Quốc gia; Hilary
Burton và John Rochester tại bệnh viện Hoàng gia, Chelsea;
Richard Daniels tại Học viện Thông tin liên lạc London;
Richard Tennant tại ủy ban Lịch sử Quân sự Anh, và đội ngũ
nhân viên bảo tàng Hải quân Hoàng gia tại Porthsmouth, bảo
tàng Anh và bảo tàng London.
Italy: Lario Zerbini tại bảo tàng Rivoli; con gái tôi Cassia
vì đã đi cùng tôi tới Elba; Nello Anselmi tại Santuario della
Madonna del Monte Ở Marciana, Elba; Elisabetta Lalatta tại
Quỹ Serbelloni Ở Palazzo Serbelloni của Milan; Ricardo
Bianceli tại Palazzo Ducale ở Mantua, và đội ngũ nhân viên
Bảo tàng Napoleon tại Rome, bảo tàng Marengo tại Spinetta
Marengo, biệt thự Reale tại Monza, và biệt thự San Martino,
Elba.
Cộng hòa Séc: Simona Lipovska tại bảo tàng Đài Kỷ niệm
Hòa bình và Jana Slukova tại lâu đài Slavkov ở Austerlitz.
Áo: Helmut Tiller tại các bảo tàng Aspern và Essling;
Rupert Derbic tại bảo tàng Wagram; và đội ngũ nhân viên
cung điện Schönbrunn và bảo tàng Heeresgeschichtliches tại
Vienna.
Bồ Đào Nha: Mark Crathorne và Luiz Saldanha Lopes vì
đã dẫn tôi đi thăm các pháo đài 40, 41, 42, 95 của phòng tuyến
Torres Vedras; và đội ngũ nhân viên bảo tàng Quân sự tại
Lisbon.
Đức: Đội ngũ nhân viên Bảo tàng Quân đội Bavaria tại
Ingolstadt, Bảo tàng 1806 tại Jena Cospeda, Bảo tàng Torhaus
tại Markleeberg trên chiến trường Leipzig.
Mỹ: Jay Barksdale tại phòng Allen và Elizabeth Denlinger
tại phòng Pforzheimer của thư viện Công cộng New York;
Declan Kiely tại thư viện Pierpont Morgan; Kathryn James tại
thư viện Beinecke và Steve Ross tại thư viện Kỷ niệm Sterling
ở Yale; Elaine Engst và Laurent Ferri tại Sưu tập Bản thảo của
thư viện Carl A. Kroch ở Đại học Cornell; gia đình Merrill,
những người đã hào phóng tài trợ cho việc làm giáo sư thỉnh
giảng của tôi tại Cornell; Giáo sư Barry và Tiến sĩ Marcia
Strauss tại Cornell về sự hiếu khách vui vẻ của họ cũng như
các sinh viên của tôi, những người đã đưa ra những lý do của
riêng mình cho việc vì sao Napoleon tấn công Nga; Giáo sư
Rafe Blaufarb, Giám đốc Học viện về Napoleon và Cách mạng
Pháp, vì đã làm cho thời gian lưu lại bang Florida của tôi thật
thoải mái; Eric Robinson tại thư viện Hiệp hội Lịch sử New
York; Katie McCormick tại thư viện Robert Manning Strozier
thuộc Các Bộ sưu tập Đặc biệt của Đại học bang Florida;
Elisabeth Fairman tại Trung tâm Nghệ thuật Anh ở Yale; Tiến
sĩ Robert Pickering, phụ trách bảo tàng Gilcrease tại Tulsa,
Oklahoma, và Tiến sĩ William J. Lademan, Giám đốc phòng
Tập trận tại phòng Thí nghiệm Tác chiến của Thủy quân lục
chiến.
Thụy Điển: Aviva Cohen-Silber vì đã dẫn tôi thăm khu
phòng Bernadotte tại cung điện Hoàng gia ở Stockholm.
Thụy Sĩ: Paola Gianoli Tuena tại lâu đài Le Coppet bên hồ
Geneva.
Canada: Bruce McNiven vì đã dẫn tôi đi thăm các phòng
trưng bày về Napoleon tại bảo tàng Mỹ thuật Montreal.
Tôi cũng muốn cảm ơn Josh Sutton, Charlie Mitchell,
Katie Russell, và đặc biệt là Gilles Vauclair không biết mệt
mỏi vì những nghiên cứu lịch sử của họ, cũng như Julie di
Filippo vì phần dịch tiếng Đức, Beata Widulinska về phần dịch
tiếng Ba Lan, Timothy Chapman về phần dịch tiếng Tây Ban
Nha, Eado Hecht về dịch tiếng Hebrew, Tiến sĩ Galina
Babkova về dịch tiếng Nga, và Annaliese Ellidge-Weaver,
Helena Fosh, Maxine Harfield-Neyrand, Gilles Vauclair và
Carole Aupoix về dịch tiếng Pháp. Maxine đã đặc biệt ủng hộ
và hữu ích trong quá trình len lỏi qua những ngõ ngách đôi lúc
thật bí hiểm của năm viện nghiên cứu tại Paris.
Cuốn sách này được viết trong khi tôi đang quay một bộ
phim tài liệu truyền hình nhiều tập của BBC về Napoleon, và
tôi muốn cảm ơn David Notman-Watt, Simon Shaps, David
Barrie, Anna Dangoor, Patrick Duval, và Tony Burke vì đã
làm cho toàn bộ quá trình này thật thú vị và kích thích suy
nghĩ.
Vì cái chết của Napoleon đã trở nên bị tranh cãi quá nhiều
– một cách không cần thiết theo quan điểm của tôi, nên tôi đã
tìm kiếm tư vấn y học của chuyên gia về cái chết của Hoàng
đế từ Tiến sĩ Tim Barrie, Giáo sư Ira Jacobsen tại Cornell, Tiến
sĩ Albert Knapp, Tiến sĩ Robert Krasner, Tiến sĩ Archana Vats,
Tiến sĩ James Le Fanu, Tiến sĩ Pamela Yablon, Tiến sĩ Guy
O'Keefe, và Tiến sĩ Michael Crumplin, tôi xin gửi tới họ lời
cảm ơn của mình. Tôi cũng muốn cảm ơn Tiến sĩ Frank
Reznek vì những chẩn đoán của ông về những vấn đề nha
khoa của Napoleon tại St Helena.
Tôi muốn cảm ơn Helena Fosh, Sudhir Hazareesingh, John
Lee, Stephen Parker, Jurgen Sacht, và Gilles Vauclair vì đã đọc
bản thảo của tôi cũng như vì những đề xuất vô giá của họ để
cải thiện nó.
Người đại diện Georgina Capel của tôi tại Capel & Land
và những người phụ trách xuất bản Stuart Proffitt và Joy de
Menil tại Penguin đã là hình mẫu hoàn hảo về sự hiệu quả,
tính chuyên nghiệp và sự cuốn hút như thường lệ, cũng như
các biên tập viên Peter James và Charlotte Ridings. Công sức
cần mẫn mà Stuart và Joy dành cho cuốn sách đã cải thiện nó
lên rất nhiều, và tôi thực sự không thể nào cảm ơn họ cho đủ
về điều đó. Tôi cũng rất biết ơn Richard Duguid, Imogen
Scott, và Lisa Simmonds của Penguin.
Người vợ tuyệt vời Susan Gilchrist của tôi đã xem xét
những lưỡi dao máy chém cùng tôi, đếm xương sọ của các tu
sĩ bị tàn sát dưới hầm của nhà thờ nơi Josephine đã bị giam
cầm, cùng đi xe với tôi dọc theo Tuyến đường Napoleon, và đi
tới Giáo đường Hồi giáo Al-Azhar tại Cairo với tôi, không
phải chỉ vì sự thú vị về kiến trúc và văn hóa nội tại của nó, mà
vì đây là nơi cuộc bạo động năm 1798 bắt đầu và kết thúc. Tôi
không thể viết được cuốn sách này nếu không có tình yêu và
sự ủng hộ luôn thường trực của cô; cô là Josephine, Marie
Louise, và Marie Walewska kết hợp làm một của tôi.
Cuốn sách này được dành tặng các em Ashley Gurdon,
Matthew, và Eliot Roberts của tôi vì đã phải chịu đựng người
anh cái gì cũng biết của họ lâu đến thế và theo cách dễ chịu
đến thế.
• • •
ANDREW ROBERTS
Số 2, phố Augereau, Paris
www.andrew-roberts.net
LỜI NÓI ĐẦU
V ào tháng Mười năm 1944, khi Hà Lan vừa được giải
phóng khỏi ách Quốc xã, sử gia Hà Lan vĩ đại Pieter Geyl
hoàn tất một trong những cuốn sách độc đáo nhất trong số
nhiều chục nghìn cuốn sách về Napoleon đã xuất hiện trong
215 năm vừa qua. Sự độc đáo của nó không nằm ở bản thân
cách nhìn nhận Napoleon của Geyl (dù cuốn sách đương nhiên
thể hiện rõ những gì tác giả nghĩ về ông) mà ở cách nó thuật
lại cách nhìn nhận của những người khác, cũng như ở cách nó
lần theo những giai đoạn khác nhau về tiếng tăm của Napoleon
từ năm 1815 cho tới thời đại của chính tác giả. Vì Napoleon là
một nhân vật đồ sộ đến vậy trên sân khấu chính trị cũng như
lịch sử trong suốt thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, vừa được lãng
mạn hóa vừa bị bôi xấu tới mức độ cao, những quan điểm
được Geyl chắt lọc ra thường đối lập trực diện với nhau (một
điều không đáng ngạc nhiên) và nhìn c...
C on người đặc biệt lỗi lạc ấy và thời đại của ông đã là
chủ đề của hàng nghìn cuốn sách trong suốt hai thế kỷ qua, và
có lẽ sẽ còn được nghiên cứu tiếp trong nhiều thế kỷ sau nữa.
Nhưng mãi đến bây giờ, khi những cánh cửa đã mở ra, giúp ta
bước ra thế giới và dễ dàng tiếp cận các công trình nghiên cứu
khác nhau của nhiều nước, nhiều sử gia nổi tiếng, nhiều góc
nhìn, chúng ta mới có cơ hội được đọc nhiều như thế về
Napoleon. Tuy nhiên, những cuốn sách dịch ra tiếng Việt về
ông cũng như về thời hậu Cách mạng Pháp ở ta vẫn chỉ đếm
trên đầu ngón tay, và cuốn tiểu sử về ông của Eugene Tarlé
bỗng dưng trở thành một tác phẩm để đời và được coi như
sách gối đầu giường của nhiều thế hệ độc giả Việt. Trên thực
tế, sau khi được tiếp xúc với nhiều nguồn sử liệu khác nhau
bằng ngôn ngữ gốc, được viết ra ở nhiều thời kì khác nhau, tôi
cho rằng đấy không phải là một cuốn sách xuất sắc và sở dĩ nó
được dịch ra và phát hành rộng rãi, một phần vì thể hiện
những góc nhìn kiểu Marx-Lenin về hiện tượng Napoleon.
Đấy không phải là một hiện tượng dễ lý giải. Những góc
nhìn trên các quan điểm chính trị khác nhau về ông luôn cho
các kết quả về những Napoleon khác nhau, dù tựu trung một
điểm là đều thừa nhận ông vĩ đại. Các điểm mốc chính của
cuộc đời ông đôi khi được các sử gia coi như những cái mắc
áo để treo lên đó các quan điểm của họ. Có không ít sử gia có
những cái nhìn khác với Tarlé. Cũng có những nhà nghiên cứu
chỉ đề cập rất sâu đến một khía cạnh nào đó trong sự nghiệp
chiến chinh của vị Hoàng đế Pháp, thậm chí không ngần ngại
đưa ra các chỉ trích nặng nề và do đó, chịu nhiều phản ứng tiêu
cực từ những người hâm mộ Napoleon. Sử gia Alan Schom
người Mỹ là một ví dụ tiêu biểu. Ông đưa ra không ít các lập
luận về sự thiếu phương hướng và ngông cuồng của Napoleon
trong cuộc viễn chinh ở Ai Cập, chỉ ra sự điên rồ và không khả
thi của cuộc xâm lược nước Anh với việc lập nên trại lính
khổng lồ Boulogne. Ông cũng chỉ ra những cơ hội hiếm hoi
mà Napoleon đã không nắm lấy nhằm đem lại một nền hòa
bình lâu dài cho châu Âu sau khi đập tan Liên minh quân sự
thứ ba vào năm 1805 ở trận Austerlitz. Đối với Schom,
Napoleon là một thiên tài ghét hòa bình, sùng bái cá nhân và
chủ trương xây dựng một nước Pháp hùng cường làm trung
tâm của thế giới Phương Tây bằng công cụ là Đại quân của
ông.
Hầu hết các nghiên cứu về Napoleon đều dựa vào các ghi
chép của những người đương thời với Napoleon, và những ghi
chép ấy, tùy theo các quan điểm yêu hay ghét về Napoleon, mà
tác động lên các sử gia sau đó. Không ít sử gia có cái nhìn
tương tự Alan Schom. Nhưng cuốn sách mà chúng ta sắp đọc
ở đây lại không đi theo hướng đó và cũng không đi vào chi tiết
phân tích một vài vấn đề về các giá trị mà Napoleon đã tạo ra
trong thời đại của ông như cách mà sử gia lỗi lạc Georges
Lefebvre đã làm. Andrew Roberts, trong cuốn tiểu sử rất đồ sộ
mà các bạn sắp đọc sau đây, không đi theo các hướng đó, mà
chủ yếu đi sâu mô tả một cách chi tiết các hoàn cảnh của thời
Cách mạng Pháp đã đưa Napoleon lên đỉnh quyền lực, cách
mà ông đã giành lấy nó bằng đại bác và lưỡi lê, và củng cố
quyền lực bằng chiến tranh, đầu tiên với những người Jacobin,
sau đó là dẹp loạn Vandée, và cuối cùng đem chiến tranh ra
ngoài biên giới nước Pháp để trở thành chúa tể của châu Âu
lục địa trong một cuộc chiến mù quáng chống lại nước Anh
nhằm thiết lập một trật tự thế giới do Paris điều khiển. Cuốn
sách có rất nhiều chi tiết tôi chưa từng được đọc ở rất nhiều
các tác phẩm nổi tiếng khác về Napoleon, thậm chí có những
góc đánh giá mới về vị Hoàng đế Pháp thông qua các cuốn hồi
kí của người đương thời mà tôi từng được đọc. Tác giả cũng
nhìn nhận Napoleon một cách khách quan hơn, khi đánh giá
ông trước hết không phải là một vĩ nhân, mà là một con người.
Thực ra, Napoleon là gì với chúng ta? Đối với những nhà
sử học, đấy là một kho tàng đáng giá về nghệ thuật chiến
tranh, về lịch sử châu Âu thời hậu Cách mạng Pháp và tiền đề
cho các cuộc cách mạng tư sản sẽ làm rung chuyển nước Pháp
và châu Âu giữa thế kỷ. Đối với nhiều nhà nghiên cứu các
phong trào nông dân và tư sản ở các nước bị quân đội
Napoleon tràn qua và xâm chiếm, dù ban đầu với bất cứ lý do
nào, thì Napoleon hoặc là người đem tư tưởng của Cách mạng
vào đất nước họ, hoặc là kẻ xâm lược. Đối với những nhà
nghiên cứu nghệ thuật, Napoleon là chất xúc tác để thổi bùng
lên chủ nghĩa lãng mạn trong thơ ca và âm nhạc thời đại ấy.
Đối với không ít quốc gia, như Italy, ông lại là một nhà giải
phóng, người chiến đấu chống lại chế độ phong kiến và châm
ngòi cho tư tưởng thống nhất nước Ý, lúc ấy bị chia năm xẻ
bảy, mà phải hơn nửa thế kỷ sau, sự nghiệp ấy mới hoàn thành.
Nhưng ở Pháp, ông là một người hùng thực sự, dù có những
năm tháng mà người Pháp sợ hãi những cuộc trưng binh, căm
thù những cuộc chiến tranh không ngớt để đem thân thể người
Pháp thành phân bón rải rác trên khắp các cánh đồng châu Âu,
do những cuộc chiến lớn nhỏ đã khiến vào năm 1815, năm
cuối cùng của những biến động lớn lao đã định hình châu Âu
thế kỷ ấy, có những làng sạch bóng đàn ông tuổi từ 15 đến 70.
Paris hiện đại được dựng xây trên nền tảng những ý tưởng của
ông, những cải cách lớn về quân sự và hành chính từ thời đó
đến giờ vẫn được áp dụng từ thời Napoleon, những hoài niệm
về một nước Pháp trên đỉnh cao châu lục và thế giới vẫn luôn
hiện hữu mỗi khi nước Pháp rơi vào khủng hoảng, và ở đảo
Corse, nơi Napoleon đã sinh ra, ông là một tượng đài, một vĩ
nhân.
Tôi đã qua thăm nhà ông ở Ajaccio, thủ phủ đảo Corse.
Căn nhà to và rộng nằm trong một con ngõ nhỏ bây giờ ăn
theo hình tượng của vị Hoàng đế. Trên cửa sổ, những bức
tường, những tên quán ăn, nhà hàng, quán cà phê… đâu đâu
cũng thấy Napoleon. Ngôi nhà với một khu vườn nhỏ mà ở đó
có bức tượng Napoleon ở tuổi thiếu niên như lọt thỏm trong
một thế giới thần tượng Napoleon bằng cách kiếm tiền nhờ tên
tuổi của ông. Trong ngôi nhà đã được trở thành Bảo tàng cấp
quốc gia ấy vẫn còn rất nhiều kỉ vật gắn liền với Napoleon và
gia đình ông, trong đó có chiếc giường mà ông đã nằm lại vào
năm 1799 và chiếc mặt nạ sáp in hình khuôn mặt ông sau khi
mất trên đảo Saint Helena năm 1821. Chiếc giường ấy chính là
nơi mà Napoleon đặt lưng lần cuối trên đảo Corse và ông
không bao giờ trở lại đây nữa. Napoleon yêu đảo Corse, và
hòn đảo này yêu ông, ngày đó đã thế, bây giờ vẫn thế và mãi
sau này có lẽ tình yêu ấy vẫn không đổi. Nhưng Corse quá bé
đối với ông, và ông muốn ra thế giới. Trong hành trình ấy,
Napoleon thậm chí đã từ cách phiên âm họ tên ông theo tiếng
Corse bản địa để trở thành một người Pháp chính hiệu. Để rồi
đến cuối đời, khi đã sa cơ, ông nhìn lại bản thân mình và thừa
nhận rằng, ông luôn là một người con xứ đảo Corse, người đến
khi chết trở thành ông vua không ngai trên một hòn đảo khác,
và vẫn ngóng về quê hương mình.
Trong những tháng ngày ngắn ngủi bị đầy trên đảo Elba, vị
Hoàng đế luôn từ biệt thự của mình ngóng về hòn đảo quê
hương, vốn chỉ cách đó chừng chục hải lý. Con người đã chinh
chiến trên khắp châu Âu, đã sang tận Trung Đông, đã đạp lên
xác chết của hàng triệu người để xây nên những vinh quang
cho nước Pháp và bản thân mình, đã không thể về nơi chôn
rau cắt rốn những năm cuối đời, và chết ở một nơi cách xa
nước Pháp cả vạn dặm, trong cô độc và có thể đã bị hãm hại
bởi tay của một thế lực nào đó chúng ta chưa thể vạch mặt sau
gần 200 năm. Những câu chuyện, những cuốn sách, các công
trình nghiên cứu lớn về Napoleon và thời đại của ông chắc
chắn sẽ còn tiếp tục được viết ra nữa, xung quanh cuộc sống
và cái chết của một con người đã nằm lại hai thế kỷ trước. Tên
tuổi của ông vẫn còn được nhắc tới, thậm chí tranh cãi, vào lúc
này. Napoleon Đại đế là cuốn tiểu sử công phu và đồ sộ nhất
cho tới nay được dịch cho các độc giả Việt Nam, những người
ít có cơ hội được tiếp cận với nhiều công trình nghiên cứu lớn
về Napoleon, đặc biệt là bằng ngôn ngữ gốc. Và hy vọng rồi
đây, sẽ có thêm nhiều cuốn sách như thế này về ông, thời đại
ông và Cách mạng Pháp tiếp tục được giới thiệu cho bạn đọc.
Nhiều năm trước, ở ngoại ô Brussels, Bỉ, đứng trước Đỉnh
sư tử, một ngọn đồi lớn được đắp lên ở nơi mà quân đội Anh
và liên minh đã đứng trong trận Waterloo, tôi tự hỏi: “Điều gì
sẽ xảy ra nếu đạo quân Phổ của Blucher không tới kịp buổi
chiều hôm ấy, và làm thay đổi kết cục của trận đánh?” Chắc
chắn chiến tranh sẽ lại tiếp tục, hàng triệu người khác sẽ ngã
xuống, Wellington không thể trở thành một người hùng và
bình minh của châu Âu, một châu Âu mới mẻ đang hình thành,
với những tư tưởng của Cách mạng Pháp và sự thúc đẩy các tư
tưởng ấy từ chính Napoleon, cũng như những quan hệ đã thay
đổi về phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất để chuẩn bị cho một thời kì mới của công nghiệp, của
các mối quan hệ giữa các nước lớn trong một thế kỷ hòa bình,
trước khi trật tự ấy bị phá vỡ bởi Thế chiến Thứ nhất sẽ không
mở ra. Thời đại của Napoleon, với chiến tranh liên miên, phải
chấm dứt. Một chiến thắng ở Waterloo có thể là một trở lực
cho sự hình thành của một châu Âu mới, với những yếu tố mới
đã chín muồi cho một cuộc thay đổi lớn lao không thể cưỡng
được, mà chỉ hòa bình mới làm nền tảng cho nó diễn ra.
Những tượng đài kỉ niệm thời Napoleon ở châu Âu như thế
nhiều lắm. Có cái lớn, có cái nhỏ, cái chỉ dăm ba dòng chữ
hoặc những bia mộ. Trong những năm tháng sống ở châu Âu,
với một đam mê nghiên cứu về Napoleon, tôi đã lần lượt qua
rất nhiều chiến trường xưa của ông và các đài tưởng niệm, đã
đến mộ ông trong Điện Invalides và cũng đã thăm nơi ông ở
tại đảo Elba, nơi ông đã bị cầm tù gần một năm trước khi trốn
về Pháp cho thời kì 100 ngày. Nhưng tôi ấn tượng nhất là đài
tưởng niệm trận Wagram ở ngoại ô Vienna, Áo. Nước Áo thua
trận ấy năm 1809, nên đài tưởng niệm rất nhỏ, nằm khiêm tốn
ở một giao lộ trong thị trấn. Tượng đài có hai người lính, một
người cố giữ cho lá cờ Áo vẫn bay, người kia ngã ngồi dưới
chân, có lẽ vừa trúng một phát đạn chí mạng. Nó chính là một
biểu tượng ý nghĩa của thời đại ấy. Chiến thắng và chiến bại
chỉ là những khía cạnh khác nhau của một thời kì vĩ đại mà
hàng chục triệu người đã ngã xuống trong các cuộc xung đột
giữa các luồng tư tưởng và phương thức sản xuất khác nhau.
Napoleon chỉ là một nhân vật chính của thời đại ấy, một
người đã tạo nên lịch sử châu Âu thời đó, và trớ trêu thay,
cũng là một nạn nhân. Của chính ông.
Hà Nội, tháng 7 năm 2017
Nhà báo Trương Anh Ngọc
LỜI NGƯỜI DỊCH
Bạn đọc thân mến,
Cuốn sách quý bạn đang cầm trên tay thuật lại những biến
cố xảy ra cách đây đã 200 năm ở châu Âu, với những đặc
trưng về ngôn ngữ, văn hóa, chính trị, quân sự, xã hội rất khác
với văn hóa, ngôn ngữ Việt Nam, chính vì vậy trong nhiều
trường hợp, người dịch buộc phải chọn một giải pháp tạm coi
là hợp lý hơn cả để vừa giúp ngôn ngữ của bản dịch dễ hiểu,
dễ tiếp cận với bạn đọc Việt Nam, vừa trung thành với tinh
thần của văn bản gốc. Một số trường hợp hay gặp nhất trong
bản dịch, chúng tôi xin phép được tóm lược dưới đây:
Về các tước hiệu quý tộc châu Âu, trong phần lớn trường
hợp chúng tôi vẫn giữ cách chuyển ngữ truyền thống là khớp
tương đương một số tước hiệu quý tộc châu Âu với các bậc
phong quý tộc Trung Hoa mà lâu nay các dịch giả Việt Nam
vẫn dùng (Duke: công tước, Marquis: hầu tước, Count: bá
tước, Viscount: tử tước, Baron: nam tước, Archiduke hay
Grand Duke: đại công tước), tuy nhiên, với tước hiệu “prince”,
do từ này mang nhiều sắc thái khác nhau nên tùy trường hợp
chúng tôi đã cố gắng chuyển dịch sang tiếng Việt cho phù hợp
với hoàn cảnh (Ví dụ: những trường hợp là con trai các vị vua,
hoàng đế sẽ được dịch là “hoàng tử”, một số quý tộc Nga được
dịch thành “công tước”, hay thống chế Poniatowski là cháu
vua Ba Lan cuối cùng được gọi là “hoàng thân”…). Các danh
xưng “Sir” và “Lord” của các quý tộc Anh được thống nhất
chuyển ngữ thành “Ngài” và “Huân tước.”
Về quân đội các quốc gia châu Âu thời Napoleon, tên gọi
của các loại quân khá phức tạp. Phần lớn trường hợp, chúng
tôi cố gắng chuyển ngữ sang tiếng Việt với những tên gọi đã
quen thuộc như “khinh binh”, “khinh kỵ binh”, “lính thủ
pháo”, v.v… Trong một số trường hợp để giúp bạn đọc dễ theo
dõi, chúng tôi có bổ sung chú thích khi một số loại đơn vị
quân đặc thù được nhắc tới. Một khó khăn nữa trong chuyển
ngữ là các đơn vị cấp “bán lữ đoàn”, và “trung đoàn” trong
quân đội châu Âu thời đó trong bản gốc không nêu rõ quy mô
đơn vị mà chỉ nêu số hiệu (Ví dụ: 57th Line là “bán lữ đoàn bộ
binh 57”), chúng tôi đã nỗ lực tra cứu số hiệu của các đơn vị
này trong các nguồn thông tin lịch sử về thời Napoleon để
chuyển dịch cho hợp lý, nhưng trong nhiều trường hợp cũng
không tìm được thông tin.
Về địa danh, về cơ bản chúng tôi giữ nguyên cách viết địa
danh trong bản gốc, trừ một số tên địa danh, chủ yếu ở Pháp,
mà cách gọi Pháp đã quen với người Việt được chúng tôi
chuyển sang tên gọi Pháp (Ví dụ: Corse thay vì Corsica, Lyon
thay vì Lyons…).
Về tên riêng, một số trường hợp những nhân vật lịch sử đã
quen thuộc với người Việt trong bản gốc có tên hay họ được
viết Anh hóa, chúng tôi xin mạn phép giữ nguyên tên này cho
nhất quán với toàn hệ thống các tên đang được dùng thời hiện
đại, kèm theo chú thích tên tiếng Việt của lần xuất hiện đầu
tiên (cho bạn đọc nắm rõ hơn). Chẳng hạn, vua Phổ Frederick
William được chú thích Friedrich Wilhelm trong lần xuất hiện
đầu tiên, Sa hoàng Paul I được chú thích Pavel I trong lần xuất
hiện đầu tiên, v.v…
Về tên các cuốn sách, tờ báo, bài luận, tác phẩm văn, thơ,
nhạc… trong trường hợp bản tiếng Anh có nêu tựa gốc, chúng
tôi giữ lại tựa gốc và in nghiêng kèm theo tựa đã dịch sang
tiếng Việt, còn các trường hợp khác đều được dịch hoàn toàn
sang tiếng Việt để bạn đọc tiện theo dõi. Trong trường hợp bạn
đọc muốn tìm tài liệu gốc, có thể dễ dàng tham khảo phần chú
thích ở cuối sách. Trong ấn bản tiếng Việt này, tất cả các chú
thích đặt ở chân trang đều là của tác giả, còn lại là chú thích
của dịch giả (ND) và biên tập viên (BT).
Về tên các huân huy chương, tổ chức, chúng tôi dịch sang
tiếng Việt theo cách gọi trong bản tiếng Anh hoặc theo tên gốc
của huân huy chương, tổ chức được nêu trong bản tiếng Anh.
Chẳng hạn, Ordre de la Légion d'Honneur, huân chương cao
quý nhất thời Napoleon, được dịch theo đúng tên gọi gốc là
Huân chương Binh đoàn Danh dự (trong khi ở Việt Nam vẫn
quen gọi là Bắc đẩu Bội tinh).
Việc chuyển ngữ một cuốn sách đồ sộ, có nội dung phong
phú, phức tạp như Napoleon Đại đế là công việc khó khăn, và
chắc chắn sẽ còn những điểm chưa hoàn thiện. Trên đây chỉ là
một số nhỏ trong rất nhiều khía cạnh của bản dịch mà người
dịch nói riêng cũng như tập thể nhóm dịch – hiệu đính – biên
tập nói chung của Napoleon Đại đế rất hy vọng nhận được
phản hồi từ bạn đọc như những đánh giá, kiểm chứng khách
quan, toàn diện nhất để giúp chúng tôi bổ khuyết các thiếu sót
không khỏi vẫn còn hiện hữu trong bản dịch lần đầu, làm cơ
sở cho chúng tôi có được những bản dịch hoàn thiện hơn trong
những lần tái bản tiếp theo. Vì những đóng góp hết sức quý
báu mà chúng tôi tin chắc sẽ nhận được từ các quý bạn đọc,
mong các quý bạn đọc hãy nhận từ chúng tôi lời cảm ơn chân
thành nhất.
Chúng tôi hy vọng về tổng thể ấn bản tiếng Việt này đem
lại được cho bạn đọc một trải nghiệm thú vị khi lần giở các
trang sách để đồng hành với một trong những nhân vật kỳ lạ
nhất trong lịch sử loài người, người đã “cho chúng ta thấy
những gì một con người nhỏ bé như chúng ta có thể đạt được
trong một thời gian ngắn ngủi như thế.”
Trân trọng.
LỜI CẢM ƠN
S au khi dành thời gian cho việc nghiên cứu và viết cuốn
sách này còn dài hơn cả thời gian mà chính Napoleon đã trải
qua ở St Helena và Elba cộng lại, tôi đã tập hợp được một số
lượng lớn đến mức bối rối những người tôi mong muốn cảm
ơn vì sự hào phóng trước sau như một, tính cách dễ mến, thời
gian và sự giúp đỡ của họ. Những người này bao gồm: Tổng
thống Nicolas Sarkozy vì những hiểu biết sâu sắc của ông về
cách nhìn nhận Napoleon ở Pháp ngày nay; David Cameron và
Rodney Melville vì đã cho phép tôi tìm hiểu thư tín của
Napoleon tại Chequers;(*) Xavier Darcos tại Viện Hàn lâm
Pháp và Tổng Hàn lâm viện Pháp quốc vì những lần giới thiệu
tại Paris; Mervyn King vì các suy nghĩ của ông về các món nợ
tài chính của Pháp và Anh trong Chiến tranh Napoleon; Carole
Aupoix vì đã cho tôi xem một con rận giống như những con
vật ký sinh đã gieo rắc bệnh sốt chấy rận từng tàn phá các đạo
quân của Napoleon tại Nga; Đại công tước Otto von Habsburg
đã quá cố vì những quan điểm của ông về cuộc hôn nhân
“không môn đăng hộ đối” của Marie Louise với Napoleon;
phu nhân Mary Berry vì đã cho tôi xem những chiếc ghế được
sử dụng tại Hội nghị Vienna; Jayne Wrightsman vì đã cho tôi
xem bộ sưu tập gáy sách thời Napoleon của bà; Robert Pirie vì
sự động viên của ông; phu nhân Alexandra Dacre đã quá cố vì
những hồi ức của bà về Hoàng hậu Eugénie; Dusan Frybort tại
Austerlitz vì đã cho tôi bắn thử khẩu súng hỏa mai thời
Napoleon của ông; cô Evan Lattimer vì đã cho phép tôi xem
mẫu vật được cho là “gân” của Napoleon; Charles-Henry và
Jean-Pascal Tranié, Jerry và Jane Del Missier vì lòng hiếu
khách tuyệt vời của họ tại hồ Geneva; Nicholas Steed vì
những báo cáo của ông về Napoleon ở Malta; vợ chồng Bá
tước Carnarvon vì đã cho tôi xem chiếc ghế bành của
Napoleon lấy từ Fontainebleau và chiếc bàn viết từ Tuileries;
Robin Birley vì sự hào phóng lớn lao của ông; nữ Bá tước
Rosebery vì đã cho tôi thấy thư viện di động của Hoàng đế;
Tiến sĩ Henry Kissinger vì những suy nghĩ của ông về Hội
nghị Vienna; Giáo sư Charles Esdaile vì đã mời tôi tới hội thảo
tuyệt vời mang tên “Napoleon tại đỉnh cao của ông” tại Đại
học Liverpool năm 2007; Deborah Edlmann, Rurik Ingram,
các em họ Philip và Sandra Engelen vì đã đón tôi tại Cape
Town trên cuộc hành trình tới St Helena của tôi (khiến tôi mất
hai tuần; chủ yếu trên tàu của Royal Mail); Zac Gertler vì lòng
hiếu khách và sự hào phóng của ông tại Tel Aviv; Caroline
Dalmeny vì đã cho tôi mượn một món tóc của Napoleon, món
tóc đó đã luôn hiện diện trên bàn viết của tôi, tạo cảm hứng
cho tôi; và Baudoin Port tại BNP Paribas vì đã cho phép tôi tới
thăm căn phòng nơi Napoleon và Josephine từng kết hôn. Tôi
cũng muốn gửi lời xin lỗi chân thành nhất tới Jérôme Tréca và
đội ngũ nhân viên tại cung điện Fontainebleau vì đã kích hoạt
chuông chống trộm trong phòng đặt ngai của Napoleon không
dưới ba lần.
Một sử gia quân sự không tới thăm các chiến trường cũng
giống như một thám tử chẳng bận tâm tới thăm hiện trường tội
ác. Trong quá trình nghiên cứu cho cuốn sách này, tôi đã tới
thăm 53 trong số 60 bãi chiến trường của Napoleon, phần lớn
với sự tháp tùng của sử gia quân sự lỗi lạc John Lee. Một
trong những niềm vui lớn nhất trong việc viết cuốn sách này là
được cùng John bước đi trên mặt đất ở Montenotte, Mondovi,
Lodi, Mantua, Arcole, Castiglione, Rivoli, Rovereto, Dego,
Marengo, Ulm, Austerlitz, Jena, Eylau, Friedland, Abensberg,
Landshut, Eggmühl, Ratisbon, Aspern-Essling, Wagram,
Maloysroslavets, Lützen, Bautzen, Dresden, Leipzig,
Reichenbach, Brienne, La Rothière,
Champaubert,
Montmirail, Château-Thierry, Vauchamps, Montereau,
Craonne, Lâon, Reims, Arcis-sur-Arbe, và St-Dizier. Những
lời khuyên và hiểu biết sâu sắc của John trong vô vàn email
trao đổi giữa chúng tôi quả thực là vô tiền khoáng hậu, những
ghi chú về các trận đánh trong các chiến dịch của Napoleon đã
chứng tỏ hoàn toàn vô giá, và tình bạn của ông là một niềm
vui. Tôi không thể cảm ơn đủ với ông cũng như Celia, vợ ông,
người đã rất thường xuyên sắp xếp để ông cùng tới thăm các
chiến trường với tôi.
Trong số 69 kho lưu trữ, thư viện, bảo tàng, và viện nghiên
cứu mà tôi đã tới thăm ở 15 quốc gia trong quá trình nghiên
cứu của mình, tôi đã luôn gặp sự giúp đỡ hữu ích và tình bạn,
và tôi muốn đặc biệt cảm ơn:
Pháp: Sacha Topalovich và Florence Tarneaud tại Tàng thư
Quốc gia, Paris; Y. Bamratta và Laurence Le Bras tại các cơ sở
của Thư viện Quốc gia lần lượt tại Tolbiac và Richelieu; Anne
George-Liskenne tại Trung tâm Tàng thư Ngoại giao, La
Courneuve; Claude Ponnou và Thisio Bernard tại Cục Lịch sử
Quốc phòng, Vincennes; Sylvie Biet và Danièle Chartier tại
Thư viện Thiers; Gérard Leyris tại Bảo tàng Carnavalet; Ngài
Peter Westmacott, Đại sứ Anh tại Paris, và quản gia của ông,
Ben Newtek, vì đã chỉ dẫn cho tôi thăm ngôi nhà của Pauline
Borghese tại Paris, ngày nay là Sứ quán Anh; Susanne
Wasum-Rainer, Đại sứ Đức tại Paris, vì đã chỉ dẫn tôi đi thăm
nơi ở của bà, dinh thự de Beauharnais, món quà tuyệt vời bà
tặng con trai Eugène của mình; Léonore Losserand tại StJoseph-des-Carmes; David Demangeot, người quản lý cung
điện cũ St Cloud; Aurore Lacoste de Laval tại Học viện Quân
sự; Christopher Palmer, Bí thư thứ nhất Sứ quán Mỹ tại Paris,
và bà Robin Smith, Giám đốc Trung tâm Marshall tại dinh thự
Talleyrand; Angélique Duc tại bảo tàng Napoleon ở Briennele-Château; Fanny de Jubecourt tại điện Invalides và bảo tàng
Quân đội; Tiến sĩ Thierry Lentz và Giáo sư Peter Hicks vì đã
đón tiếp tôi nhiệt tình đến vậy tại Quỹ Napoleon tuyệt vời;
Alain Pougetoux tại lâu đài Malmaison; Xavier Cayon tại Hội
đồng Quốc gia ở Palais-Royal (trước đây là Viện Tư pháp); bà
Marianne Lambert tại lâu đài Maison-Laffitte của Thống chế
Lannes; ông bà Benoit d'Abonville; Quentin Aymonier tại
pháo đài Joux Ở Jura; con trai Henry và con gái Cassia của tôi
vì đã đi cùng tôi tới Corse; đội ngũ nhân viên tại điện và bảo
tàng Binh đoàn Danh dự, Paris; bảo tàng Sở cảnh sát Paris;
trường học của Binh đoàn Danh dự tại St-Denis; Panthéon,
bảo tàng Fesch và bảo tàng Quốc gia dinh thự Bonaparte tại
Ajaccio, Corse.
Nga: Alexander Suhanov và Elvira Chulanova tại bảo tàng
Quốc gia Borodino vì đã dẫn tôi đi thăm chiến trường
Borodino; Oleg Aleksandrov của Three Whales Tours vì đã
đưa tôi tới chiến trường Maloyaroslavets; Maciej Morawski tại
City Events vì đã đưa tôi tới chiến trường Eylaud và Friedland
tại vùng lãnh thổ Kaliningrad thuộc Nga; Konstantin Nazarov
tại bảo tàng Lịch sử Quân sự Maloyaroslavets; Aiexandr
Panchenko tại bảo tàng Lịch sử Bagrationovsk ở chiến trường
Eylaud; Valery Shabanov và Vladimir Ukievich Katz tại Tàng
thư Lịch sử Quân sự Nhà nước tại Moscow, và Marina
Zboevskaya tại bảo tàng Toàn cảnh Borodino tại Moscow.
Belarus: Giáo sư Igor Groutso vì đã chỉ dẫn cho tôi chiến
trường tại sông Berezina, và Rakhovich Natalya Stephanovna
tại bảo tàng Hỗn hợp Borisov.
Israel: Tiến sĩ Eado Hecht vì đã dẫn tôi đi thăm các chiến
trường tại Kakun, Jaffa và núi Thabor, và Tiến sĩ Alon
Keblanoff vì đã dẫn tôi tới thăm vị trí cuộc vây hãm Acre;
Giáo sư Azar Gat tại Đại học Tel Aviv, và Liat Margolit tại bảo
tàng Khảo cổ Tel Dor.
St Helena: Michel Dancoisne-Martineau, Lãnh sự danh dự
Pháp và người phụ trách bảo tồn vô cùng mẫn cán tại
Longwood vì những ngày vô cùng thoải mái của tôi tại đó;
Aron Legg vì đã dẫn tôi tới thăm Mount Pleasant, Dianas
Peak, Prosperous Bay, The Briars, Sandy Bay và Jamestown,
và Andrew Wells, cựu Tổng thư ký của St Helena.
Bỉ: Ian Fletcher và Đại tá John Hughes-Wilson, người đã
dẫn tôi tới thăm Waterloo; Benoît Histace, Giám đốc bảo tàng
Trận Ligny, người đã dẫn tôi đi quanh chiến trường tại Ligny,
và Bá tước François cùng nữ bá tước Susanne Cornet
d'Elizius, chủ nhân của La Haie Sainte.
Anh: Lucy McCann tại thư viện Rhodes House, Oxford;
Leigh McKiernan tại phòng đọc Các bộ Sưu tập đặc biệt ở thư
viện Bodleian, Oxford; Giáo sư Nick Mayhew tại phòng Tiền
xu Heberden ở bảo tàng Ashmolean, Oxford; Josephine Oxley
tại Apsley House; Paul Roberts tại bảo tàng Anh; Katy
Canales và Pim Dodd tại bảo tàng Quân đội Quốc gia; Hilary
Burton và John Rochester tại bệnh viện Hoàng gia, Chelsea;
Richard Daniels tại Học viện Thông tin liên lạc London;
Richard Tennant tại ủy ban Lịch sử Quân sự Anh, và đội ngũ
nhân viên bảo tàng Hải quân Hoàng gia tại Porthsmouth, bảo
tàng Anh và bảo tàng London.
Italy: Lario Zerbini tại bảo tàng Rivoli; con gái tôi Cassia
vì đã đi cùng tôi tới Elba; Nello Anselmi tại Santuario della
Madonna del Monte Ở Marciana, Elba; Elisabetta Lalatta tại
Quỹ Serbelloni Ở Palazzo Serbelloni của Milan; Ricardo
Bianceli tại Palazzo Ducale ở Mantua, và đội ngũ nhân viên
Bảo tàng Napoleon tại Rome, bảo tàng Marengo tại Spinetta
Marengo, biệt thự Reale tại Monza, và biệt thự San Martino,
Elba.
Cộng hòa Séc: Simona Lipovska tại bảo tàng Đài Kỷ niệm
Hòa bình và Jana Slukova tại lâu đài Slavkov ở Austerlitz.
Áo: Helmut Tiller tại các bảo tàng Aspern và Essling;
Rupert Derbic tại bảo tàng Wagram; và đội ngũ nhân viên
cung điện Schönbrunn và bảo tàng Heeresgeschichtliches tại
Vienna.
Bồ Đào Nha: Mark Crathorne và Luiz Saldanha Lopes vì
đã dẫn tôi đi thăm các pháo đài 40, 41, 42, 95 của phòng tuyến
Torres Vedras; và đội ngũ nhân viên bảo tàng Quân sự tại
Lisbon.
Đức: Đội ngũ nhân viên Bảo tàng Quân đội Bavaria tại
Ingolstadt, Bảo tàng 1806 tại Jena Cospeda, Bảo tàng Torhaus
tại Markleeberg trên chiến trường Leipzig.
Mỹ: Jay Barksdale tại phòng Allen và Elizabeth Denlinger
tại phòng Pforzheimer của thư viện Công cộng New York;
Declan Kiely tại thư viện Pierpont Morgan; Kathryn James tại
thư viện Beinecke và Steve Ross tại thư viện Kỷ niệm Sterling
ở Yale; Elaine Engst và Laurent Ferri tại Sưu tập Bản thảo của
thư viện Carl A. Kroch ở Đại học Cornell; gia đình Merrill,
những người đã hào phóng tài trợ cho việc làm giáo sư thỉnh
giảng của tôi tại Cornell; Giáo sư Barry và Tiến sĩ Marcia
Strauss tại Cornell về sự hiếu khách vui vẻ của họ cũng như
các sinh viên của tôi, những người đã đưa ra những lý do của
riêng mình cho việc vì sao Napoleon tấn công Nga; Giáo sư
Rafe Blaufarb, Giám đốc Học viện về Napoleon và Cách mạng
Pháp, vì đã làm cho thời gian lưu lại bang Florida của tôi thật
thoải mái; Eric Robinson tại thư viện Hiệp hội Lịch sử New
York; Katie McCormick tại thư viện Robert Manning Strozier
thuộc Các Bộ sưu tập Đặc biệt của Đại học bang Florida;
Elisabeth Fairman tại Trung tâm Nghệ thuật Anh ở Yale; Tiến
sĩ Robert Pickering, phụ trách bảo tàng Gilcrease tại Tulsa,
Oklahoma, và Tiến sĩ William J. Lademan, Giám đốc phòng
Tập trận tại phòng Thí nghiệm Tác chiến của Thủy quân lục
chiến.
Thụy Điển: Aviva Cohen-Silber vì đã dẫn tôi thăm khu
phòng Bernadotte tại cung điện Hoàng gia ở Stockholm.
Thụy Sĩ: Paola Gianoli Tuena tại lâu đài Le Coppet bên hồ
Geneva.
Canada: Bruce McNiven vì đã dẫn tôi đi thăm các phòng
trưng bày về Napoleon tại bảo tàng Mỹ thuật Montreal.
Tôi cũng muốn cảm ơn Josh Sutton, Charlie Mitchell,
Katie Russell, và đặc biệt là Gilles Vauclair không biết mệt
mỏi vì những nghiên cứu lịch sử của họ, cũng như Julie di
Filippo vì phần dịch tiếng Đức, Beata Widulinska về phần dịch
tiếng Ba Lan, Timothy Chapman về phần dịch tiếng Tây Ban
Nha, Eado Hecht về dịch tiếng Hebrew, Tiến sĩ Galina
Babkova về dịch tiếng Nga, và Annaliese Ellidge-Weaver,
Helena Fosh, Maxine Harfield-Neyrand, Gilles Vauclair và
Carole Aupoix về dịch tiếng Pháp. Maxine đã đặc biệt ủng hộ
và hữu ích trong quá trình len lỏi qua những ngõ ngách đôi lúc
thật bí hiểm của năm viện nghiên cứu tại Paris.
Cuốn sách này được viết trong khi tôi đang quay một bộ
phim tài liệu truyền hình nhiều tập của BBC về Napoleon, và
tôi muốn cảm ơn David Notman-Watt, Simon Shaps, David
Barrie, Anna Dangoor, Patrick Duval, và Tony Burke vì đã
làm cho toàn bộ quá trình này thật thú vị và kích thích suy
nghĩ.
Vì cái chết của Napoleon đã trở nên bị tranh cãi quá nhiều
– một cách không cần thiết theo quan điểm của tôi, nên tôi đã
tìm kiếm tư vấn y học của chuyên gia về cái chết của Hoàng
đế từ Tiến sĩ Tim Barrie, Giáo sư Ira Jacobsen tại Cornell, Tiến
sĩ Albert Knapp, Tiến sĩ Robert Krasner, Tiến sĩ Archana Vats,
Tiến sĩ James Le Fanu, Tiến sĩ Pamela Yablon, Tiến sĩ Guy
O'Keefe, và Tiến sĩ Michael Crumplin, tôi xin gửi tới họ lời
cảm ơn của mình. Tôi cũng muốn cảm ơn Tiến sĩ Frank
Reznek vì những chẩn đoán của ông về những vấn đề nha
khoa của Napoleon tại St Helena.
Tôi muốn cảm ơn Helena Fosh, Sudhir Hazareesingh, John
Lee, Stephen Parker, Jurgen Sacht, và Gilles Vauclair vì đã đọc
bản thảo của tôi cũng như vì những đề xuất vô giá của họ để
cải thiện nó.
Người đại diện Georgina Capel của tôi tại Capel & Land
và những người phụ trách xuất bản Stuart Proffitt và Joy de
Menil tại Penguin đã là hình mẫu hoàn hảo về sự hiệu quả,
tính chuyên nghiệp và sự cuốn hút như thường lệ, cũng như
các biên tập viên Peter James và Charlotte Ridings. Công sức
cần mẫn mà Stuart và Joy dành cho cuốn sách đã cải thiện nó
lên rất nhiều, và tôi thực sự không thể nào cảm ơn họ cho đủ
về điều đó. Tôi cũng rất biết ơn Richard Duguid, Imogen
Scott, và Lisa Simmonds của Penguin.
Người vợ tuyệt vời Susan Gilchrist của tôi đã xem xét
những lưỡi dao máy chém cùng tôi, đếm xương sọ của các tu
sĩ bị tàn sát dưới hầm của nhà thờ nơi Josephine đã bị giam
cầm, cùng đi xe với tôi dọc theo Tuyến đường Napoleon, và đi
tới Giáo đường Hồi giáo Al-Azhar tại Cairo với tôi, không
phải chỉ vì sự thú vị về kiến trúc và văn hóa nội tại của nó, mà
vì đây là nơi cuộc bạo động năm 1798 bắt đầu và kết thúc. Tôi
không thể viết được cuốn sách này nếu không có tình yêu và
sự ủng hộ luôn thường trực của cô; cô là Josephine, Marie
Louise, và Marie Walewska kết hợp làm một của tôi.
Cuốn sách này được dành tặng các em Ashley Gurdon,
Matthew, và Eliot Roberts của tôi vì đã phải chịu đựng người
anh cái gì cũng biết của họ lâu đến thế và theo cách dễ chịu
đến thế.
• • •
ANDREW ROBERTS
Số 2, phố Augereau, Paris
www.andrew-roberts.net
LỜI NÓI ĐẦU
V ào tháng Mười năm 1944, khi Hà Lan vừa được giải
phóng khỏi ách Quốc xã, sử gia Hà Lan vĩ đại Pieter Geyl
hoàn tất một trong những cuốn sách độc đáo nhất trong số
nhiều chục nghìn cuốn sách về Napoleon đã xuất hiện trong
215 năm vừa qua. Sự độc đáo của nó không nằm ở bản thân
cách nhìn nhận Napoleon của Geyl (dù cuốn sách đương nhiên
thể hiện rõ những gì tác giả nghĩ về ông) mà ở cách nó thuật
lại cách nhìn nhận của những người khác, cũng như ở cách nó
lần theo những giai đoạn khác nhau về tiếng tăm của Napoleon
từ năm 1815 cho tới thời đại của chính tác giả. Vì Napoleon là
một nhân vật đồ sộ đến vậy trên sân khấu chính trị cũng như
lịch sử trong suốt thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, vừa được lãng
mạn hóa vừa bị bôi xấu tới mức độ cao, những quan điểm
được Geyl chắt lọc ra thường đối lập trực diện với nhau (một
điều không đáng ngạc nhiên) và nhìn c...
 
Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn. (Barack Obama)





