Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng Sản Việt Nam
Ngôn Từ - Jean Paul Sartre

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:34' 07-03-2024
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:34' 07-03-2024
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
TỦ SÁCH VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
JEAN - PAUL SARTRE
NGÔN TỪ
THUẬN & LÊ NGỌC MAI dịch
NHÃ NAM - NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
ebook©tudonald78 | 29-03-2021
Ebook này được thực hiện theo dự án “SỐ HÓA SÁCH CŨ” của diễn đàn
TVE-4U.ORG
TÁC GIẢ
--------
JEAN - PAUL SARTRE
(1905-1980)
Sau khi tốt nghiệp École normals supérieure, Jean-Paul Sartre (19051980) lấy bằng thạc sĩ Triết học vào năm 1929. Đây cũng chính là thời kỳ
ông quen Simone de Beauvoir - triết gia, nhà văn nổi tiếng nước Pháp,
người đã nhìn thấy ở Sartre một "bản sao đáp lại những mơ ước thời niên
thiếu" để rồi trở thành bạn đời, người tri kỷ với Sartre đến tận những ngày
cuối đời ông.
Trở về từ Thế chiến II, Sartre từ bỏ con người cá nhân chủ nghĩa mà
ông từng là vào những năm 1930. Trong chiến tranh, ông đã viết tiểu luận
đầu tay sau này trở thành tác phẩm quan trọng nhất của ông và cũng là tác
phẩm trọn vẹn nhất về triết học hiện sinh, Tồn tại và hư vô. Những năm
sau giải phóng, Jean-Paul Sartre trở thành cái tên nổi tiếng khắp giới trí
thức Pháp, được coi như thủ lĩnh của phong trào hiện sinh đang là "mốt"
lúc bấy giờ. Trong tạp chí Les temps modernes mà ông sáng lập năm 1945,
ông đề cao sự dấn thân như một "mục đích tự thân".
Jean-Paul Sartre luôn giữ niềm tin vào xã hội chủ nghĩa, chống Mỹ,
chống chủ nghĩa tư bản và đặc biệt, bài trừ chủ nghĩa đế quốc. Đến tận
cuối đời, ông vẫn tiếp tục đấu tranh phản đối chiến tranh Algeria, phản đối
tội ác của Mỹ ở Việt Nam, ủng hộ các thuyền nhân và người ly khai Xô
viết... Năm 1964, ông từ chối nhận giải Nobel Văn học bởi với ông "không
người nào xứng đáng được thừa nhận khi còn sống".
Tặng madame Z.
--------
TỰA
T
rong một bộ phim tư liệu1 về Jean-Paul Sartre được quay vào đầu thập
kỷ 70 và công chiếu lần đầu tại Liên hoan phim Cannes 1976, bốn năm
trước khi nhà văn qua đời, khi nhắc đến tác phẩm Ngôn từ, Sartre nói rằng
ông viết cuốn sách này - cuốn tự truyện nhỏ về tuổi thơ của mình - để nói
lời giã biệt với văn học, và ông đã muốn lời giã biệt ấy phải "được viết
bằng một thứ văn đẹp".
Đó là một cuốn tự truyện lạ lùng và một lời giã biệt lạ lùng.
Ý định viết cuốn "tự truyện-giã biệt" ấy bắt đầu nhen nhóm ở Sartre vào
đầu những năm 50, lúc ông đang ở trên đỉnh cao sự nghiệp của mình. Sinh
năm 1905, mất năm 1980, với tư cách là nhà văn, nhà triết học, nhà hoạt
động xã hội, Sartre trở thành một trong những nhân vật có ảnh hưởng sâu
đậm nhất đến đời sống tinh thần của xã hội Pháp trong nhiều thập kỷ giữa
thế kỷ 20, đến mức mà có những người đã gọi giai đoạn này là "thế kỷ của
Sartre"2. Đầu thập kỷ 50 là thời mà giới trí thức Pháp còn đang say sưa với
chủ nghĩa hiện sinh - trào lưu triết học mà Sartre là một trong những người
khởi xướng ở Pháp, thời mà tên của Sartre gần như ngày nào cũng xuất
hiện trên báo chí truyền thông, thời mà mỗi buổi diễn thuyết của ông đều
đông nghẹt người, và, như hồi tưởng của nhà văn Philippe Sollers, hầu như
ai trong giới trí thức, sinh viên Pháp lúc bấy giờ cũng ít nhiều là sartrien
(người theo trường phái Sartre/ chịu ảnh hưởng của Sartre). Thời điểm ấy,
Sartre chưa nói đến chuyện "giã biệt văn học". Trong một lần trả lời phỏng
vấn báo chí vào cuối năm 1953, khi đề cập đến dự án viết tự truyện mà
ông đang ấp ủ, nhà văn lại nhấn mạnh một khía cạnh khác: theo ông, đó sẽ
là một "tự truyện nhưng có tính chất xã hội và chính trị hơn là cá nhân, về
quá trình tiến triển của những người thuộc thế hệ (của ông), từ 1905 cho
đến Giải phóng (1945), đi qua các năm 1914,1936,1940"3.
Những phác thảo đầu tiên của cuốn tự truyện hình thành vào năm 1954,
nhưng sau vài lần viết rồi bỏ dở nửa chừng, phải đến đầu năm 1963 Sartre
mới quay lại thực sự tập trung vào viết để hoàn thành bản thảo này. Ngôn
từ ra mắt người đọc vào cuối năm 1963, thoạt tiên được in thành hai kỳ
trong số tháng Mười và tháng Mười một của tạp chí Les Temps modernes,
sau đó được in thành sách vào đầu năm 1964, chín tháng trước khi Sartre
được trao giải Nobel văn học, giải thưởng mà nhà văn đã từ chối bởi không
muốn bị ràng buộc vào bất cứ tổ chức nào, bởi ông cho rằng khi mình ký
tên là "Jean- Paul Sartre, nhà văn đoạt giải Nobel" thì sẽ không còn giống
với khi chỉ ký đơn giản là "Jean-Paul Sartre". Và có lẽ còn bởi vì trong
quan niệm của ông - một quan niệm hình thành từ thời thơ ấu, hằn sâu
trong tâm trí cậu bé Poulou (tên gọi ở nhà của Sartre thuở nhỏ) và trở đi trở
lại nhiều lần trên những trang sách Ngôn từ, - thì con người ta chỉ xứng
đáng được vinh danh khi đã qua đời, cũng giống như một cuốn sách chỉ có
thể được người đọc đánh giá khi đã gập lại trang cuối, và điều đó cũng có
nghĩa là vinh quang đến cùng với sự chấm dứt: vinh quang đồng nghĩa với
cái chết.
Ngay khi vừa ra mắt, Ngôn từ lập tức được đón nhận nồng nhiệt và đã
góp phần quan trọng trong việc giải Nobel văn học được trao cho Sartre sau
đó ít lâu. Giới phê bình văn học Pháp coi đây là "kiệt tác của tự truyện thế
kỷ 20", một sự đánh giá mà thoạt nhìn có vẻ như "quá cỡ" đối với một
cuốn sách nhỏ chỉ chừng 200 trang, nội dung chỉ giới hạn ở hơn chục năm
đầu đời của tác giả - từ 1905 đến 1917, - khiêm tốn hơn nhiều so với cái
dự án quy mô ban đầu của chính Sartre về một tác phẩm "tự truyện xã hộichính trị" trải dài qua mấy chục năm với nhiều biến cố lịch sử trọng đại.
Có gì đặc biệt ở những hồi ức tuổi thơ mà Sartre kể lại trong Ngôn từ?
Đó không phải là một "tuổi thơ dữ dội" dù câu chuyện mở đầu bằng cái
chết của người cha diễn ra đồng thời với trận ốm thập tử nhất sinh của cậu
bé Poulou ngay lúc mới lọt lòng, và dừng lại khi nước Pháp vẫn đang chìm
trong cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất. Theo cái nhìn của Sartre, cái
chết quá sớm của người cha đã trao tự do cho cậu con trai (cái tự do khỏi bị
bậc sinh thành uy quyền "cưỡi trên lưng" như hình tượng mà Sartre mượn
ở thần thoại Hy Lạp để diễn tả), những cơn sốt mê man của cậu bé Poulou
lại giúp cho cậu "được lợi" vì không phải trải nghiệm nỗi đau khi "nhát kéo
cuối cùng đang cắt đi mối quan hệ mẫu tử", còn cuộc đại chiến thế giới
khốc liệt thì hầu như chẳng ảnh hưởng gì đến cuộc sống thường nhật của
Poulou ngoài việc khiến cậu bé "buồn chán" vì không được tiếp tục xem
những tạp chí truyện tranh yêu thích phát hành trước chiến tranh. Tóm lại,
dường như không có gì là bi kịch ở những sự kiện tưởng chừng bi kịch ấy.
Cũng hầu như chẳng có những kỷ niệm nhuốm vẻ đẹp thi vị của dĩ vãng
thường thấy ở thể loại tự truyện - trừ một vài đoạn ngắn ngủi viết về bà mẹ
của nhà văn - dù câu chuyện đề cập đến một quãng đời khá êm đềm của
cậu bé Poulou, được bao bọc trong sự yêu thương chiều chuộng hết mức
của mẹ và ông ngoại. Ngôn từ là một tự truyện không có những hoài niệm,
cả ngậm ngùi cay đắng lẫn cảm động ngọt ngào. Sartre không hoài niệm,
ông mổ xẻ, phân tích, giải mã tuổi thơ của mình - bằng con mắt lạnh lùng,
sắc sảo, không thương xót và đầy trải nghiêm của một nhà văn đứng tuổi,
đứng tách hẳn ra cậu bé "ngông cuồng" là chính mình ngày xưa - để đi tìm
câu trả lời cho một câu hỏi lớn: điều gì đã thúc đẩy ông đến với nghiệp văn
chương? Sự mổ xẻ, phân tích, đánh giá rất lạnh lùng và sắc sảo ấy đã đem
lại sắc thái đặc biệt cho Ngôn từ: với giọng điệu nổi bật là hài hước, mỉa
mai, chế nhạo (chủ yếu là tự chế nhạo), xen lẫn với những suy tư triết học
vừa chặt chẽ logic vừa phức tạp rắm rối nhưng đầy cuốn hút, câu chuyện
về tuổi thơ của Sartre trở nên giống một tác phẩm châm biếm, một tiểu
thuyết triết lý, hơn là một tự truyện.
Sartre không bao giờ giải thích vì sao câu chuyện về đời ông trong Ngôn
từ dừng lại đột ngột ở năm 1917, khi ông mới mười hai tuổi, nhưng thời
điểm này trùng hợp với một biến cố lớn trong đòi Sartre: mẹ ông tái hôn
vào tháng Tư năm đó, Sartre theo mẹ rời ngôi nhà của ông bà ngoại ở Paris
để chuyển đến La Rochelle sống cùng người cha dượng mà ông không sao
hòa hợp nổi và bắt đầu một giai đoạn u ám đối với ông (kéo dài ba năm,
cho đêh 1920 là năm mà Sartre được gửi trở lại Paris để đi học trung học ở
thủ đô), giai đoạn mà sau này ông gọi là "những năm tồi tệ nhất của đời
tôi". Có lẽ, như một số nhà phê bình văn học phỏng đoán, Sartre tránh nhắc
lại đoạn đời ấy để khỏi làm phiền lòng người mẹ mà ông rất yêu thương.
Đáng tiếc là ông cũng không kể về những năm tiếp theo, dù ban đầu đã dự
định kéo dài nội dung cuốn tự truyện đến tận 1945, và dù khoảng thời gian
giữa 1920 và 1945 chính là thời kỳ hình thành và chín muồi của ông với tư
cách nhà văn-nhà triết học. Đầu thập kỷ 60, khi Sartre bắt tay vào viết bản
thảo Ngôn từ lần cuối, cũng là lức mà phần lớn thời gian và tâm huyết của
ông bắt đầu dồn vào các hoạt động "trí thức dấn thân", văn học dần dần
không còn chỗ trong những mối quan tâm hàng đầu của ông nữa: có thể,
đây là một trong những lý do cơ bản khiến cho Ngôn từ không có phần tiếp
theo như dự kiến?
Dù thế nào đi nữa, không phải ngẫu nhiên mà cuốn tự truyện về tuổi thơ
của Sartre lại là tác phẩm mà nhà văn dùng để nói lời giã biệt văn học.
Chính xác hơn, Sartre muốn giã biệt một thứ văn học nhất định, thứ văn
học mà ông cho là một bộ phận của văn hóa trưởng giả, viết bằng ngôn ngữ
của giới trưởng giả và hướng tới độc giả thuộc giới này, với quan niệm về
quyền lực tuyệt đối của ngôn từ và khả năng cứu rỗi con người bằng Cái
Đẹp. Sinh ra trong một gia đình trí thức tiểu tư sản, được giáo dục bởi ông
ngoại là một nhà giáo tôn thờ văn chương như một thứ tôn giáo, Sartre lớn
lên trong sự tôn thờ văn học ấy và, như ông kể lại trong cuốn tự truyện,
"thiên chức nhà văn" ở ông được quyết định ngay từ những ngày thơ ấu.
Để rồi, mấy chục năm sau, khi đã có đủ vinh quang danh vọng trong nghề
nghiệp, nhà văn nhìn lại chặng đường đi của mình và có những lời tự đánh
giá khá nghiệt ngã: "Tôi đã thấy những đứa trẻ chết đói. Trước một đứa trẻ
đang hấp hối, cuốn Buồn nôn chẳng có ý nghĩa gì."4 (Buồn nôn là tên một
tiểu thuyết của Sartre, xuất bản năm 1938: đây là tác phẩm văn học đầu
tiên đem lại danh tiếng cho ông). Đề cao văn học dấn thân, văn học có ích,
văn học viết cho thời đại mình và nhằm góp phần giải quyết những vấn đề
tức khắc của thời đại, Sartre trở nên cực đoan đến mức ở phần cuối của
Ngôn từ, ông đã gọi những hoạt động văn học trước đây của ông là "một
căn bệnh điên rồ lâu dài, cay đắng và dịu ngọt" mà ông cho rằng mình đã
may mắn chữa khỏi. Ông quyết định "tính sổ" với quá khứ bằng cách trở
về ngọn nguồn, trở về tuổi thơ - về cái thời mà cậu bé Poulou đã "ngạo
mạn nhận vào mình" sứ mệnh nhà văn như là người cứu rỗi nhân loại - để
giải ngộ những huyền thoại xưa cũ gắn với văn học và thiên chức nhà văn.
"Tôi đề nghị mọi người hãy coi cuốn sách này đúng như nó là: một công
việc giải ngộ" - Sartre đã khẳng định rõ ràng như vậy trong lời tựa ngắn mà
ông viết cuối năm 1964 cho bản dịch tiếng Nga của cuốn Ngôn từ. Và ông
muốn giã biệt văn học chính bằng sự giải ngộ ấy.
Nhưng Sartre là một con người đầy mâu thuẫn, như chính ông tự nhận.
Là một trí thức cánh tả phương Tây điển hình của thời đại ông, sống hết
mình với những chính kiến của bản thân, Sartre luôn luôn đứng về phía
những người nghèo, những kẻ yếu, những người bị đàn áp, và do vậy,
thường ở vào vị trí đối nghịch với giai cấp xuất thân của mình. Ủng hộ
nhiệt thành các phong trào công nhân ở Pháp, các cuộc đấu tranh giải
phóng thuộc địa - giải phóng dân tộc ở các nước Á-Phi trong thế kỷ 20,
đến tuổi sáu mươi ông vẫn không do dự khi lên tiếng bảo vệ giới trẻ Pháp
trong cuộc nổi dậy của họ chống lại thể chế hiện hành vào tháng Năm năm
1968... Với tinh thần ấy, ở tư cách nhà hoạt động văn hóa, Sartre muốn
đoạn tuyệt với nền văn hóa trưởng giả là môi trường xuất thân của ông và
gắn bó mật thiết với ông nhưng "xa lạ với quần chúng", để hướng tới một
nền văn hóa vì tầng lớp nhân dân lao động và gần gũi với họ. Nhà văn
nhận thức điều này như một mâu thuẫn không dễ hóa giải trong con người
ông: "Cá nhân tôi cảm nhận sâu sắc mâu thuẫn giữa hai nền văn hóa: tôi
được tạo nên bởi những mâu thuẫn này."5 Trong Ngôn từ, Sartre tự gọi
mình là "kẻ phản bội" ("Tôi đã trở thành kẻ phản bội và tôi vẫn là như
thế"), tuy vậy, đối với ông, "phản bội" giai cấp của mình trong các hoạt
động xã hội-chính trị dường như dễ hơn nhiều so với "phản bội" trong lĩnh
vực văn hóa-văn học. Với Ngôn từ, Sartre cho rằng ông đã "khỏi bệnh", đã
nói xong lời giã biệt với thứ văn học mà theo ông là cần phải đoạn tuyệt.
Thế nhưng, gần mười năm sau khi viết Ngôn từ, Sartre lại thừa nhận:
"Thực ra, sự việc không đơn giản như vậy (...) Dù tôi luôn luôn phản đối
giới trưởng giả, các tác phẩm của tôi là dành cho họ, viết bằng ngôn ngữ
của họ... Từ mười bảy năm nay tôi gắn bó với một tác phẩm về Flaubert
mà chắc chẳng khiến giới công nhân quan tâm bởi nó được viết bằng một
phong cách phức tạp và hẳn là có tính chất trưởng giả (...) Do đó trong tôi
tồn tại một mâu thuẫn rất đặc biệt: tôi vẫn còn viết sách cho giới trưởng
giả và tôi tự cảm thấy mình đoàn kết với những người lao động muốn lật
đổ giai cấp ấy."6
Ngôn từ thể hiện rõ mâu thuẫn đặc biệt này của Sartre: tác phẩm dùng để
giã biệt thứ văn học mà nhà văn muốn đoạn tuyệt lại được ông viết bằng
chính thứ văn học ấy, ở mức độ điêu luyện rất cao của nó, với sự chú trọng
đặc biệt đến phong cách, đến vẻ đẹp của ngôn từ, với những suy nghĩ và
phân tích sâu sắc đầy tính triết lý về nhiều vấn đề cơ bản của xã hội, về
thân phận con người, về bản chất và sứ mệnh của văn học nghệ thuật...,
nhưng lại không thực sự liên quan trực tiếp đến những vấn đề thời sự nóng
bỏng như thứ văn học dấn thân, có ích mà Sartre đề xướng. Điều này khiến
cho giới phê bình văn học Pháp gọi Ngôn từ là một lời giã biệt văn học đầy
nghịch lý. Nhưng đó chính là chủ ý của Sartre: ông đã muốn tác phẩm-giã
biệt này phải được viết bằng một thứ văn đẹp, phải là tác phẩm có tính văn
học nhất trong các tác phẩm của ông. Và đúng là như vậy: những câu văn
trong Ngôn từ được viết một cách tinh tế với những hình ảnh đắt giá và
nhiều tầng ý nghĩa (Sartre đặc biệt chú trọng tính đa nghĩa của văn chương,
ông cho rằng cái phân biệt ngôn ngữ văn học với ngôn ngữ sử dụng trong
đời thường chính là tính đa nghĩa này, rằng mỗi người đọc tùy thuộc vào
trình độ và trải nghiệm của mình sẽ có những cấp độ hiểu khác nhau, và,
thậm chí, "nếu không có khả năng đem lại cho ngôn ngữ tính đa nghĩa thì
chẳng cần mất công viết làm gì"7). Là sản phẩm của một nhà văn cực kỳ
uyên bác và đa tài, những trang viết trong Ngôn từ nặng chất trí tuệ với
nhiều kiến thức trong những lĩnh vực rất khác nhau: thần thoại Hy Lạp-La
Mã, văn học Pháp và thế giới từ cổ đến kim, âm nhạc, điện ảnh, triết học,
tôn giáo, tâm lý học, văn hóa, lịch sử, thậm chí cả vật lý nữa. Tóm lại, như
một số nhà phê bình văn học Pháp nhận xét, vẻ đẹp của Ngôn từ là một vẻ
đẹp bác học (beauté savante).
Vẻ đẹp bác học ấy khiến cho Ngôn từ cuốn hút nhưng không dễ đọc,
ngay cả đối với độc giả Pháp, và vì vậy, đương nhiên, nó cũng làm cho việc
chuyển ngữ tác phẩm này trở thành một thử thách lớn đối với chúng tôi,
những người dịch Ngôn từ sang tiếng Việt. Nhận thức được tính chất phức
tạp của công việc này, những người dịch đã cố gắng làm việc một cách cẩn
thận, nghiêm túc, đồng thời tham khảo cả ý kiến của bạn bè Pháp, Việt đối
với những trường hợp mà chúng tôi thấy phân vân. Dù vậy, bản dịch chắc
chắn vẫn còn những thiếu sót mả chúng tôi mong được bạn đọc lượng thứ.
Nhân đây, xin chân thành cám ơn bạn bè và người thân đã dành thời gian
giúp đỡ cho việc dịch cuốn sách này, đặc biệt xin cảm ơn Paul Galvan ở
Ecole normale supérieure (Paris) đã đóng góp nhiều ý kiến rất quý giá.
Để giúp độc giả Việt Nam - vốn xa lạ với văn hóa, văn học, lịch sử Pháp
và châu Âu - những người dịch đã cố gắng đưa vào bản dịch này nhiều chú
thích (không có trong bản gốc của tác giả, vốn hướng tới độc giả Pháp với
một nền tảng văn hóa khác) nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản cần
thiết cho việc hiểu tác phẩm. Tuy rằng chưa đầy đủ, nhưng chúng tôi hy
vọng điều này sẽ có ích phần nào cho bạn đọc trong việc khám phá và
thưởng thức Ngôn từ, tác phẩm lớn của một nhà văn lớn tiêu biểu cho văn
học Pháp thế kỷ 20.
Tháng Hai năm 2017
Lê Ngọc Mai
I
--------
ĐỌC
THUẬN dịch
Ở
vùng Alsace, khoảng năm 1850, một giáo viên tiểu học để nuôi một
đàn con đành chấp nhận làm nghề bán thực phẩm khô. Ông thầy bỏ nghiệp
đó mong muốn một đền bù: vì ông đã phải từ chối công việc đào tạo tinh
thần, nên một trong các con trai của ông sẽ làm nghề đào tạo tâm hồn;
trong nhà sẽ có một mục sư, và đó sẽ là Charles. Nhưng Charles lủi mất,
thích lang thang theo đuổi một nàng kỵ sĩ hơn. Người ta bèn úp ảnh hắn
vào tường và cấm không được nói đến tên hắn. Đến lượt ai bây giờ?
Auguste vội vã bắt chước sự hy sinh của cha: cậu theo nghề buôn bán và
cảm thấy rất dễ chịu. Còn lại Louis chẳng có thiên hướng nào đặc biệt: ông
bố tóm lấy thằng con trầm tính này và nhoáy một cái biến nó thành mục
sư. Sau này, Louis đẩy cao sự phục tùng đến độ cho ra đời một mục sư nữa,
Albert Schweitzer, mà chúng ta đã biết rõ sự nghiệp. Thế nhưng Charles đã
không tìm thấy nàng kỵ sĩ; hành động đẹp đẽ của người cha đã để lại dấu
ấn lên hắn: cả đời hắn, hắn giữ mãi mùi vị của sự cao thượng và hăng hái
tạo ra những hoàn cảnh vĩ đại bằng những sự kiện nho nhỏ. Như chúng ta
thấy, hắn không tìm cách lẩn tránh khuynh hướng của gia đình; hắn mong
muốn dâng hiến đời mình cho một hình thức nhẹ nhàng hơn của giá trị tinh
thần, một nghề nghiệp cho phép hắn có những nàng kỵ sĩ. Nghề nhà giáo
thật là hợp: Charles chọn dạy tiếng Đức. Hắn bảo vệ luận án về Hans
Sachs, lựa chọn phương pháp giảng trực tiếp mà sau này hắn tự nhận là
người phát minh ra, cộng tác với Simonnot xuất bản một cuốn Deutsches
Lesebuch"8 được đánh giá cao, và làm một sự nghiệp nhanh gọn: Mâcon,
Lyon, Paris. Ở Paris, vào lễ trao giải thưởng, hắn đọc một bài phát biểu mà
sau đó đã có vinh dự được dành cho hẳn một số báo: "Thưa ngài Bộ
trưởng, thưa các quý ông, quý bà, các học trò thân mến, mọi người sẽ
không bao giờ đoán nổi hôm nay tôi sẽ nói với quý vị về vấn đề gì! Về âm
nhạc!" Hắn rất giỏi lẩy thơ. Hắn có thói quen nói trong các cuộc họp gia
đình: "Louis hiếu thảo nhất, Auguste giàu có nhất, nhưng tôi thông minh
nhất." Các anh em trai cùng cười, còn các chị em dâu thì mím môi. Ở
Mácon, Charles Schweitzer cưới Louise Guillemin, con gái của một nhân
viên quan tòa theo đạo Thiên Chúa. Nàng ghét cay ghét đắng chuyến trăng
mật của họ: Charles đã bắt cóc nàng trước khi bữa ăn kết thúc và ném nàng
lên tàu. Ở tuổi bảy mươi, Louise vẫn còn kể về món xa lát tỏi tây mà người
ta phục vụ họ trong một quầy ăn ở ga: "Hắn xơi hết phần trắng, để cho tôi
phần xanh." Họ đã ở lại Alsace mười lăm ngày liền mà không rời bàn ăn;
các anh em trai kể cho nhau nghe bằng thổ ngữ những câu chuyện tục tĩu,
thỉnh thoảng anh chồng mục sư quay về phía Louise và với một lòng tương
ái kiểu Cơ Đốc dịch cho nàng nghe. Nàng đã nhanh chóng tìm cách để
được cấp chứng nhận khống mà nhờ đó được miễn quan hệ giường chiếu
và có quyền ngủ riêng phòng; nàng nói về những cơn đau đầu, quen dần
với việc nằm ườn trên giường và trở nên ghét tiếng động, dục vọng, phấn
khích, toàn bộ cuộc sống dung tục, thô lậu và giả dối của gia đình
Schweitzer. Người phụ nữ sống động và tinh nghịch mà lạnh lùng này suy
nghĩ thẳng thắn nhưng trái đạo, bởi vì chồng nàng suy nghĩ đúng đạo
nhưng vẹo vọ; vì hắn là một tên nói dối nhưng cả tin, còn nàng, nàng nghi
ngờ mọi thứ: "Chúng khẳng định là trái đất quay, nhưng chúng biết gì về
điều ấy?" Bao vây bởi những diễn viên kịch đầy đạo đức, nàng thù ghét
kịch và đạo đức. Người phụ nữ theo chủ nghĩa hiện thực rất thanh nhã này,
lạc lối trong một gia đình gồm những người theo chủ nghĩa duy linh thô
lậu, vì thách thức mà nàng làm ra vẻ theo tinh thần của Voltaire nhưng lại
không đọc Voltaire9. Dễ thương và mũm mĩm, vô sỉ, hồn nhiên, nàng đã
trở thành sự phủ nhận thuần khiết; bằng một cái nhếch mày, một nụ cười
khó nhận thấy, nàng coi khinh tất cả những thái độ trịch thượng, nhưng
giấu trong lòng và không ai phát hiện ra. Nàng bị giày vò bởi thói kiêu
ngạo tiêu cực và tính ích kỷ chối từ. Nàng không gặp gỡ ai, quá kiêu hãnh
không thèm đòi vị trí thứ nhất, nhưng lại quá viển vông nên không thể đành
lòng với vị trí thứ hai. "Hãy biết cách để khiến người khác thèm muốn
mình", nàng nói. Đầu tiên người ta thèm muốn nàng rất nhiều, rồi dần dần
ít đi, và cuối cùng do không gặp nàng, nên họ quên nàng. Nàng hầu như
không còn rời ghế bành và giường ngủ. Theo chủ nghĩa tự nhiên nhưng lại
rất nguyên tắc về mặt đạo đức (sự kết hợp của hai đức tính hóa ra không
hiếm như ta tưởng), gia đình Schweitzer khoái những ngôn từ sống sượng,
những loại từ tuy hạ thấp cơ thể con người đúng tinh thần đạo Cơ Đốc, lại
tỏ ra rất tán thành các chức năng bẩm sinh; Louise thì thích những ngôn từ
ẩn ý. Nàng đọc rất nhiều tiểu thuyết phóng đãng mà nàng không thích tình
tiết cốt truyện bằng những tấm mạng trong suốt bao bọc nó: "Bạo, viết tốt,
nàng nói vẻ tinh tế. Lũ người trần, coi nhẹ mọi chuyện thôi, đừng nặng
nghĩ10!" Thiếu phụ trinh trắng này nghĩ là nàng có thể chết vì cười khi đọc
Cô gái rực lửa của Adolphe Belot. Nàng thích thú kể lại những câu chuyện
về mấy đêm trăng mật bao giờ cũng kết thúc tồi: khi thì anh chồng, trong
con vội vàng quá đáng, đập cổ vợ vào thành giường; khi thì, sáng hôm sau
người ta tìm thấy cô vợ trẻ đang trốn trong tủ quần áo, trần truồng và hóa
điên. Louise sống trong ánh sáng mờ mờ; Charles vào phòng nàng, mở các
cửa chớp ra, bật tất cả các đèn lên, nàng đưa tay che mắt và rên rỉ:
"Charles, anh làm tôi lóa mắt!" Nhưng sự kháng cự của nàng không vượt
qua giới hạn của một chống đối mang tính thể tạng: Charles thường khiến
nàng sợ hãi, cực ghét, nhưng đôi khi lại gọi chút thân tình, miễn là đừng
động tới người nàng. Nàng chấp nhận thua mọi thứ mỗi khi hắn mở miệng
kêu gào. Hắn cho nàng bốn đứa con, đều ngoài kế hoạch: một đứa con gái
mất từ lúc nhỏ, hai thằng con trai và một đứa con gái nữa. Do thờ ơ hoặc
do tôn trọng, hắn cho phép người ta nuôi dạy con cái theo tinh thần Công
giáo. Vô đạo, do kinh tởm đạo Tin Lành, Louise đã biến chúng thành sùng
đạo. Hai cậu con trai đứng về phía mẹ; nàng dần dần tách chúng khỏi ông
bố kềnh càng; Charles thậm chí không hay biết gì về điều này. Cậu con trai
cả, Georges, vào đại học Bách khoa; cậu thứ hai, Émile, thành giáo viên
tiếng Đức. Cậu này khiến tôi tò mò: tôi biết rằng cậu suốt đời độc thân và
cái gì cũng bắt chước cha tuy chẳng hề yêu cha. Cha và con có những lúc
giận nhau; rồi lại có những cuộc làm lành đáng ghi nhớ. Émile giấu kín
cuộc đời mình; cậu rất yêu mẹ, và cho đến cuối đời vẫn giữ thói quen tới
thăm mẹ không báo trước và lén lút; cậu phủ lên mẹ những nụ hôn và
những vuốt ve, rồi bắt đầu nói chuyện về bố, đầu tiên là mỉa mai, tiếp theo
là nổi giận và rời khỏi nhà mẹ đóng sầm cửa lại. Louise yêu con trai, tôi tin
vậy, nhưng cậu làm nàng sợ: hai người đàn ông thô lỗ và khó tính khiến
nàng mệt mỏi và nàng thấy yêu Georges chẳng bao giờ có mặt ở nhà hơn.
Émile mất năm 1927, phát điên vì cô độc: người ta tìm thấy một khẩu súng
lục dưới gối của cậu, và trong những cái rương là một trăm đôi tất rách và
hai mươi đôi giày đi ở nhà đã vẹt gót.
Anne-Marie, cô con gái út, trải qua cả tuổi thơ trên một cái ghế. Người
ta dạy cô biết buồn chán, biết đứng thẳng người và biết may. Cô có một số
năng khiếu, nhưng người ta tin rằng cứ để kệ chúng thì mới là tao nhã; về
vẻ tươi da thắm thịt: người ta cẩn thận tìm cách giấu cô. Những thị dân
khiêm tốn và kiêu hãnh này đánh giá sắc đẹp cao hơn khả năng hoặc thấp
hơn địa vị của mình; họ cho là nó phù hợp với các nữ hầu tước và lũ gái
điếm. Louise có tính kiêu ngạo cằn cỗi nhất trên đời: sợ bị lừa, nàng phủ
nhận ở con cái, chồng và cả bản thân những đức tính hiển nhiên nhất;
Charles không biết nhận thức sắc đẹp của người khác: hắn nhầm nó với
sức khỏe: từ khi vợ bị bệnh, hắn giải khuây với những người đàn bà hết
sức duy tâm, có ria, nhuộm tóc, khỏe mạnh. Năm chục năm sau, lần giở
những trang album của gia đình, Anne-Marie nhận ra rằng mình đã từng
đẹp.
Gần vào thời điểm mà Charles Schweitzer gặp Louise Guillemin, một
đốc tờ nông thôn kết hôn cùng con gái một điền chủ giàu có vùng Périgord
và đến ở cùng vợ trong con phố chính buồn bã của thị trấn Thiviers, đối
diện với hiệu thuốc. Sau đám cưới một hôm, ông bố vợ bị phát hiện là
chẳng có xu nào. Giận dữ, đốc tờ Sartre bốn mươi năm liền không nói
chuyện với vợ; ở bàn ăn, ông chỉ ra dấu, cuối cùng bà đành gọi ông là
"khách trọ". Thế nhưng ông vẫn ngủ cùng giường với bà, và, thỉnh thoảng,
chẳng nói năng gì, làm bà có chửa: bà cho ông hai con trai và một con gái;
những đứa trẻ sinh ra từ sự lặng câm này có tên là Jean-Baptiste, Joseph và
Hélène. Khi đã cứng tuổi, Hélène lấy một sĩ quan kỵ binh, người này sau
đó bị bệnh điên. Joseph đi nghĩa vụ trong lính bộ binh ở Algérie và nhanh
chóng rút về nhà cha mẹ. Anh ta không có nghề ngỗng gì: giằng xé giữa
thái độ im lặng của cha và những eo sèo của mẹ, anh ta trở thành kẻ nói lắp
và chiến đấu suốt đời với ngôn từ. Còn Jean-Baptiste thì muốn thi vào hải
quân để thấy biển. Năm 1904, ở Cherbourg, chàng sĩ quan hải quân kiệt
quệ bởi những cơn sốt bị từ hồi ở Nam kỳ Đông Dương làm quen với
Anne-Marie Schweitzer, chiếm được cô thiếu nữ cao lớn bị lãng quên
trong gia đình ấy, cưới nàng làm vợ, chớp nhoáng cho nàng một đứa con,
tức là tôi, và toan trốn mình vào cái chết.
Nhưng chết đâu có dễ: con sốt kiết lị dâng từ từ, rồi bệnh dần thuyên
giảm. Anne-Marie hết lòng chăm sóc chồng, nhưng không đẩy sự gần gũi
sỗ sàng thành tình yêu. Trước đấy, Louise đã cảnh báo con gái về cuộc
sống hôn nhân, rằng tiếp theo đám cưới tang thương là một chuỗi dài hy
sinh vô tận xen lẫn những tục tĩu hàng đêm. Theo gương bà ngoại tôi, mẹ
tôi thích nghĩa vụ hơn khoái cảm. Mẹ tôi không biết cha tôi mấy, trước
cũng như sau khi lấy ông, và hẳn là đôi khi cũng tự hỏi lý do gì mà con
người xa lạ đó lại chọn để chết trong vòng tay nàng. Người ta chuyển ông
đến một trại lính canh cách thị trấn Thiviers mấy dặm. Cha của ông hằng
ngày tới thăm ông bằng xe ngựa. Chăm sóc và lo lắng đã lấy hết sức lực
của mẹ, sữa mẹ cạn, tôi được giao cho một bảo mẫu không xa nhà lắm, và
tôi, tôi cũng cố mà chết: do viêm ruột non, và cũng có thể vì oán giận. Hai
mươi tuổi, không kinh nghiệm, không được ai khuyên, mẹ tôi tan tác giữa
hai kẻ sắp chết xa lạ; đám cưới đầy lý trí của mẹ tôi tìm thấy sự thật của nó
trong bệnh tật và tang tóc. Còn tôi, tôi được lợi từ tình thế ấy: thời đó, các
bà mẹ tự cho con bú rất lâu; nếu không may mắn có con hấp hối kép ấy,
tôi đã bị đặt vào những khó khăn của việc cai sữa muộn. Ốm đau quặt quẹo,
bị ép cai sữa lúc chín tháng, sốt cao và mê mệt đã ngăn không cho tôi nhận
thấy nhát kéo cuối cùng đang cắt đi mối quan hệ mẫu tử; tôi như bơi trong
một thế giới hỗn loạn, đầy những ảo giác đơn sơ và những thần tượng thô
lậu. Cha tôi qua đời, mẹ tôi và tôi cùng thức dậy bởi một cơn ác mộng
chung; rồi tôi khỏi bệnh. Nhưng chúng tôi đều là nạn nhân của một sự hiểu
lầm: mẹ tôi bằng tình yêu tìm lại được một thằng con trai mà mẹ chưa từng
thật sự rời bỏ; còn tôi thì tỉnh lại trên đầu gối của một người đàn bà mà tôi
chưa từng quen.
Không tiền, chẳng nghề, Anne-Marie mẹ tôi quyết định quay về sống ở
nhà ông bà ngoại tôi. Nhưng cái chết trêu ngươi của cha tôi đã làm mếch
lòng gia đình Schweitzer: như thể cha đã bỏ mẹ. Vì đã không biết dự báo
cũng như cảnh báo, mẹ tôi đâm mang tiếng là có tội: đã dại dột lấy phải
một thằng chồng không bền. Với mẹ, nàng Arianne11 dong dỏng cao, khi
quay lại Meudon ôm theo một đứa con, tất cả mọi người đều hoàn hảo: ông
ngoại tôi đã xin nghỉ hưu nhưng sau đó lại quay trở về với công việc không
một lời oán trách; bà ngoại tôi hân hoan một cách kín đáo. Nhưng mẹ tôi,
tuy biết ơn đến đờ đẫn cả người, vẫn đoán ra sự khiển trách dưới những
đối xử tốt đẹp: các gia đình tất nhiên thích con gái bị góa hơn là con gái
không chồng mà có con, nhưng cũng tí tẹo thôi. Để được họ tha thứ, mẹ tôi
đã không tiếc sức, chăm sóc ngôi nhà của cha mẹ ở Meudon, rồi ở Paris,
biến mình thành quản gia, y tá, quản lý, nữ tùy tùng, nô tì, mà không tài nào
làm nguôi đi sự khó chịu câm lặng của bà ngoại tôi. Louise bà ngoại tôi
chán ngấy việc sáng lên thực đơn, tối tính toán chi tiêu, nhưng lại khó khăn
chấp nhận người khác làm thay mình; bà vừa trút bỏ trách nhiệm, vừa cáu
kỉnh vì bị mất đặc quyền. Người phụ nữ đang già đi và vô sỉ này chỉ có
một ảo tưởng; bà tin mình là người tối cần thiết. Ảo tưởng tiêu tan và bà
bắt đầu ghen với con gái. Thật khổ thân Anne-Marie mẹ tôi: nếu mẹ thụ
động, chắc người ta đã buộc tội mẹ là gánh nặng cho họ; mẹ tích cực thì họ
nghi mẹ muốn cai quản cái nhà này. Để tránh vỉa đá ngầm đầu tiên, mẹ cần
toàn bộ lòng dũng cảm, để tránh vỉa đá ngầm thứ hai, mẹ cần toàn bộ sự
nhún nhường. Chẳng bao lâu, góa phụ trẻ quay trở lại làm đứa con vị thành
niên: một trinh nữ đã dính chàm. Không phải họ từ chối tiền tiêu vặt của
mẹ, mà họ quên đưa cho mẹ; mẹ dùng mòn cả tủ quần áo mà ông ngoại tôi
vẫn không tính đến chuyện mua thêm. Người ta hầu như không chịu nổi
việc mẹ đi chơi một mình. Khi các bạn cũ của mẹ, hầu như đã có gia đình,
mời mẹ đến nhà ăn tối, họ đều phải xin phép từ rất lâu trước đó và phải
hứa sẽ đưa mẹ về nhà trước mười giờ. Giữa bữa ăn, chủ nhà đứng dậy rời
khỏi bàn để dẫn mẹ ra ô tô. Trong lúc đó, ông ngoại tôi mặc áo ngủ bước
từng bước dài trong phòng, tay cầm đồng hồ. Khi đồng hồ điểm tiếng
chuông cuối cùng chỉ mười giờ, ông gầm lên. Những lời mời ngày càng
hiếm và mẹ tôi phát ớn lên vì những niềm vui phải trả giá đắt như thế.
Cái chết của Jean-Baptiste cha tôi là một sự kiện lớn trong đời tôi: nó trả
lại cho mẹ tôi sợi dây xiềng xích và trao cho tôi tự do.
Không có người cha tốt, quy luật thế rồi; đừng kêu ca đàn ông mà hãy
phê phán mối quan hệ phụ tử thối rửa. Tạo ra đứa con, không có gì hay ho
hơn thế; nhưng có con, là cả một lỗi lầm! Nếu còn sống thì cha tôi sẽ nằm
lên lưng tôi và sẽ nghiến nát tôi. May thay, ông đã mất khi tôi còn quá nhỏ;
ở giữa những Énée12 cõng trên lưng các ông bố Anchise13 , tôi đi từ bờ
này tới bờ kia, đơn độc và căm ghét những bậc sinh thành vô hình cưỡi
suốt đời trên lưng con cái; tôi bỏ lại phía sau một thanh niên chết trẻ không
có đủ thời gian để trở thành cha tôi và ngày hôm nay có thể là con trai tôi.
Điều đó tốt hay xấu? Tôi không biết, nhưng tôi sẵn sàng tán thành nhận xét
nghiêm khắc của một nhà phân tâm học ...
JEAN - PAUL SARTRE
NGÔN TỪ
THUẬN & LÊ NGỌC MAI dịch
NHÃ NAM - NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
ebook©tudonald78 | 29-03-2021
Ebook này được thực hiện theo dự án “SỐ HÓA SÁCH CŨ” của diễn đàn
TVE-4U.ORG
TÁC GIẢ
--------
JEAN - PAUL SARTRE
(1905-1980)
Sau khi tốt nghiệp École normals supérieure, Jean-Paul Sartre (19051980) lấy bằng thạc sĩ Triết học vào năm 1929. Đây cũng chính là thời kỳ
ông quen Simone de Beauvoir - triết gia, nhà văn nổi tiếng nước Pháp,
người đã nhìn thấy ở Sartre một "bản sao đáp lại những mơ ước thời niên
thiếu" để rồi trở thành bạn đời, người tri kỷ với Sartre đến tận những ngày
cuối đời ông.
Trở về từ Thế chiến II, Sartre từ bỏ con người cá nhân chủ nghĩa mà
ông từng là vào những năm 1930. Trong chiến tranh, ông đã viết tiểu luận
đầu tay sau này trở thành tác phẩm quan trọng nhất của ông và cũng là tác
phẩm trọn vẹn nhất về triết học hiện sinh, Tồn tại và hư vô. Những năm
sau giải phóng, Jean-Paul Sartre trở thành cái tên nổi tiếng khắp giới trí
thức Pháp, được coi như thủ lĩnh của phong trào hiện sinh đang là "mốt"
lúc bấy giờ. Trong tạp chí Les temps modernes mà ông sáng lập năm 1945,
ông đề cao sự dấn thân như một "mục đích tự thân".
Jean-Paul Sartre luôn giữ niềm tin vào xã hội chủ nghĩa, chống Mỹ,
chống chủ nghĩa tư bản và đặc biệt, bài trừ chủ nghĩa đế quốc. Đến tận
cuối đời, ông vẫn tiếp tục đấu tranh phản đối chiến tranh Algeria, phản đối
tội ác của Mỹ ở Việt Nam, ủng hộ các thuyền nhân và người ly khai Xô
viết... Năm 1964, ông từ chối nhận giải Nobel Văn học bởi với ông "không
người nào xứng đáng được thừa nhận khi còn sống".
Tặng madame Z.
--------
TỰA
T
rong một bộ phim tư liệu1 về Jean-Paul Sartre được quay vào đầu thập
kỷ 70 và công chiếu lần đầu tại Liên hoan phim Cannes 1976, bốn năm
trước khi nhà văn qua đời, khi nhắc đến tác phẩm Ngôn từ, Sartre nói rằng
ông viết cuốn sách này - cuốn tự truyện nhỏ về tuổi thơ của mình - để nói
lời giã biệt với văn học, và ông đã muốn lời giã biệt ấy phải "được viết
bằng một thứ văn đẹp".
Đó là một cuốn tự truyện lạ lùng và một lời giã biệt lạ lùng.
Ý định viết cuốn "tự truyện-giã biệt" ấy bắt đầu nhen nhóm ở Sartre vào
đầu những năm 50, lúc ông đang ở trên đỉnh cao sự nghiệp của mình. Sinh
năm 1905, mất năm 1980, với tư cách là nhà văn, nhà triết học, nhà hoạt
động xã hội, Sartre trở thành một trong những nhân vật có ảnh hưởng sâu
đậm nhất đến đời sống tinh thần của xã hội Pháp trong nhiều thập kỷ giữa
thế kỷ 20, đến mức mà có những người đã gọi giai đoạn này là "thế kỷ của
Sartre"2. Đầu thập kỷ 50 là thời mà giới trí thức Pháp còn đang say sưa với
chủ nghĩa hiện sinh - trào lưu triết học mà Sartre là một trong những người
khởi xướng ở Pháp, thời mà tên của Sartre gần như ngày nào cũng xuất
hiện trên báo chí truyền thông, thời mà mỗi buổi diễn thuyết của ông đều
đông nghẹt người, và, như hồi tưởng của nhà văn Philippe Sollers, hầu như
ai trong giới trí thức, sinh viên Pháp lúc bấy giờ cũng ít nhiều là sartrien
(người theo trường phái Sartre/ chịu ảnh hưởng của Sartre). Thời điểm ấy,
Sartre chưa nói đến chuyện "giã biệt văn học". Trong một lần trả lời phỏng
vấn báo chí vào cuối năm 1953, khi đề cập đến dự án viết tự truyện mà
ông đang ấp ủ, nhà văn lại nhấn mạnh một khía cạnh khác: theo ông, đó sẽ
là một "tự truyện nhưng có tính chất xã hội và chính trị hơn là cá nhân, về
quá trình tiến triển của những người thuộc thế hệ (của ông), từ 1905 cho
đến Giải phóng (1945), đi qua các năm 1914,1936,1940"3.
Những phác thảo đầu tiên của cuốn tự truyện hình thành vào năm 1954,
nhưng sau vài lần viết rồi bỏ dở nửa chừng, phải đến đầu năm 1963 Sartre
mới quay lại thực sự tập trung vào viết để hoàn thành bản thảo này. Ngôn
từ ra mắt người đọc vào cuối năm 1963, thoạt tiên được in thành hai kỳ
trong số tháng Mười và tháng Mười một của tạp chí Les Temps modernes,
sau đó được in thành sách vào đầu năm 1964, chín tháng trước khi Sartre
được trao giải Nobel văn học, giải thưởng mà nhà văn đã từ chối bởi không
muốn bị ràng buộc vào bất cứ tổ chức nào, bởi ông cho rằng khi mình ký
tên là "Jean- Paul Sartre, nhà văn đoạt giải Nobel" thì sẽ không còn giống
với khi chỉ ký đơn giản là "Jean-Paul Sartre". Và có lẽ còn bởi vì trong
quan niệm của ông - một quan niệm hình thành từ thời thơ ấu, hằn sâu
trong tâm trí cậu bé Poulou (tên gọi ở nhà của Sartre thuở nhỏ) và trở đi trở
lại nhiều lần trên những trang sách Ngôn từ, - thì con người ta chỉ xứng
đáng được vinh danh khi đã qua đời, cũng giống như một cuốn sách chỉ có
thể được người đọc đánh giá khi đã gập lại trang cuối, và điều đó cũng có
nghĩa là vinh quang đến cùng với sự chấm dứt: vinh quang đồng nghĩa với
cái chết.
Ngay khi vừa ra mắt, Ngôn từ lập tức được đón nhận nồng nhiệt và đã
góp phần quan trọng trong việc giải Nobel văn học được trao cho Sartre sau
đó ít lâu. Giới phê bình văn học Pháp coi đây là "kiệt tác của tự truyện thế
kỷ 20", một sự đánh giá mà thoạt nhìn có vẻ như "quá cỡ" đối với một
cuốn sách nhỏ chỉ chừng 200 trang, nội dung chỉ giới hạn ở hơn chục năm
đầu đời của tác giả - từ 1905 đến 1917, - khiêm tốn hơn nhiều so với cái
dự án quy mô ban đầu của chính Sartre về một tác phẩm "tự truyện xã hộichính trị" trải dài qua mấy chục năm với nhiều biến cố lịch sử trọng đại.
Có gì đặc biệt ở những hồi ức tuổi thơ mà Sartre kể lại trong Ngôn từ?
Đó không phải là một "tuổi thơ dữ dội" dù câu chuyện mở đầu bằng cái
chết của người cha diễn ra đồng thời với trận ốm thập tử nhất sinh của cậu
bé Poulou ngay lúc mới lọt lòng, và dừng lại khi nước Pháp vẫn đang chìm
trong cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất. Theo cái nhìn của Sartre, cái
chết quá sớm của người cha đã trao tự do cho cậu con trai (cái tự do khỏi bị
bậc sinh thành uy quyền "cưỡi trên lưng" như hình tượng mà Sartre mượn
ở thần thoại Hy Lạp để diễn tả), những cơn sốt mê man của cậu bé Poulou
lại giúp cho cậu "được lợi" vì không phải trải nghiệm nỗi đau khi "nhát kéo
cuối cùng đang cắt đi mối quan hệ mẫu tử", còn cuộc đại chiến thế giới
khốc liệt thì hầu như chẳng ảnh hưởng gì đến cuộc sống thường nhật của
Poulou ngoài việc khiến cậu bé "buồn chán" vì không được tiếp tục xem
những tạp chí truyện tranh yêu thích phát hành trước chiến tranh. Tóm lại,
dường như không có gì là bi kịch ở những sự kiện tưởng chừng bi kịch ấy.
Cũng hầu như chẳng có những kỷ niệm nhuốm vẻ đẹp thi vị của dĩ vãng
thường thấy ở thể loại tự truyện - trừ một vài đoạn ngắn ngủi viết về bà mẹ
của nhà văn - dù câu chuyện đề cập đến một quãng đời khá êm đềm của
cậu bé Poulou, được bao bọc trong sự yêu thương chiều chuộng hết mức
của mẹ và ông ngoại. Ngôn từ là một tự truyện không có những hoài niệm,
cả ngậm ngùi cay đắng lẫn cảm động ngọt ngào. Sartre không hoài niệm,
ông mổ xẻ, phân tích, giải mã tuổi thơ của mình - bằng con mắt lạnh lùng,
sắc sảo, không thương xót và đầy trải nghiêm của một nhà văn đứng tuổi,
đứng tách hẳn ra cậu bé "ngông cuồng" là chính mình ngày xưa - để đi tìm
câu trả lời cho một câu hỏi lớn: điều gì đã thúc đẩy ông đến với nghiệp văn
chương? Sự mổ xẻ, phân tích, đánh giá rất lạnh lùng và sắc sảo ấy đã đem
lại sắc thái đặc biệt cho Ngôn từ: với giọng điệu nổi bật là hài hước, mỉa
mai, chế nhạo (chủ yếu là tự chế nhạo), xen lẫn với những suy tư triết học
vừa chặt chẽ logic vừa phức tạp rắm rối nhưng đầy cuốn hút, câu chuyện
về tuổi thơ của Sartre trở nên giống một tác phẩm châm biếm, một tiểu
thuyết triết lý, hơn là một tự truyện.
Sartre không bao giờ giải thích vì sao câu chuyện về đời ông trong Ngôn
từ dừng lại đột ngột ở năm 1917, khi ông mới mười hai tuổi, nhưng thời
điểm này trùng hợp với một biến cố lớn trong đòi Sartre: mẹ ông tái hôn
vào tháng Tư năm đó, Sartre theo mẹ rời ngôi nhà của ông bà ngoại ở Paris
để chuyển đến La Rochelle sống cùng người cha dượng mà ông không sao
hòa hợp nổi và bắt đầu một giai đoạn u ám đối với ông (kéo dài ba năm,
cho đêh 1920 là năm mà Sartre được gửi trở lại Paris để đi học trung học ở
thủ đô), giai đoạn mà sau này ông gọi là "những năm tồi tệ nhất của đời
tôi". Có lẽ, như một số nhà phê bình văn học phỏng đoán, Sartre tránh nhắc
lại đoạn đời ấy để khỏi làm phiền lòng người mẹ mà ông rất yêu thương.
Đáng tiếc là ông cũng không kể về những năm tiếp theo, dù ban đầu đã dự
định kéo dài nội dung cuốn tự truyện đến tận 1945, và dù khoảng thời gian
giữa 1920 và 1945 chính là thời kỳ hình thành và chín muồi của ông với tư
cách nhà văn-nhà triết học. Đầu thập kỷ 60, khi Sartre bắt tay vào viết bản
thảo Ngôn từ lần cuối, cũng là lức mà phần lớn thời gian và tâm huyết của
ông bắt đầu dồn vào các hoạt động "trí thức dấn thân", văn học dần dần
không còn chỗ trong những mối quan tâm hàng đầu của ông nữa: có thể,
đây là một trong những lý do cơ bản khiến cho Ngôn từ không có phần tiếp
theo như dự kiến?
Dù thế nào đi nữa, không phải ngẫu nhiên mà cuốn tự truyện về tuổi thơ
của Sartre lại là tác phẩm mà nhà văn dùng để nói lời giã biệt văn học.
Chính xác hơn, Sartre muốn giã biệt một thứ văn học nhất định, thứ văn
học mà ông cho là một bộ phận của văn hóa trưởng giả, viết bằng ngôn ngữ
của giới trưởng giả và hướng tới độc giả thuộc giới này, với quan niệm về
quyền lực tuyệt đối của ngôn từ và khả năng cứu rỗi con người bằng Cái
Đẹp. Sinh ra trong một gia đình trí thức tiểu tư sản, được giáo dục bởi ông
ngoại là một nhà giáo tôn thờ văn chương như một thứ tôn giáo, Sartre lớn
lên trong sự tôn thờ văn học ấy và, như ông kể lại trong cuốn tự truyện,
"thiên chức nhà văn" ở ông được quyết định ngay từ những ngày thơ ấu.
Để rồi, mấy chục năm sau, khi đã có đủ vinh quang danh vọng trong nghề
nghiệp, nhà văn nhìn lại chặng đường đi của mình và có những lời tự đánh
giá khá nghiệt ngã: "Tôi đã thấy những đứa trẻ chết đói. Trước một đứa trẻ
đang hấp hối, cuốn Buồn nôn chẳng có ý nghĩa gì."4 (Buồn nôn là tên một
tiểu thuyết của Sartre, xuất bản năm 1938: đây là tác phẩm văn học đầu
tiên đem lại danh tiếng cho ông). Đề cao văn học dấn thân, văn học có ích,
văn học viết cho thời đại mình và nhằm góp phần giải quyết những vấn đề
tức khắc của thời đại, Sartre trở nên cực đoan đến mức ở phần cuối của
Ngôn từ, ông đã gọi những hoạt động văn học trước đây của ông là "một
căn bệnh điên rồ lâu dài, cay đắng và dịu ngọt" mà ông cho rằng mình đã
may mắn chữa khỏi. Ông quyết định "tính sổ" với quá khứ bằng cách trở
về ngọn nguồn, trở về tuổi thơ - về cái thời mà cậu bé Poulou đã "ngạo
mạn nhận vào mình" sứ mệnh nhà văn như là người cứu rỗi nhân loại - để
giải ngộ những huyền thoại xưa cũ gắn với văn học và thiên chức nhà văn.
"Tôi đề nghị mọi người hãy coi cuốn sách này đúng như nó là: một công
việc giải ngộ" - Sartre đã khẳng định rõ ràng như vậy trong lời tựa ngắn mà
ông viết cuối năm 1964 cho bản dịch tiếng Nga của cuốn Ngôn từ. Và ông
muốn giã biệt văn học chính bằng sự giải ngộ ấy.
Nhưng Sartre là một con người đầy mâu thuẫn, như chính ông tự nhận.
Là một trí thức cánh tả phương Tây điển hình của thời đại ông, sống hết
mình với những chính kiến của bản thân, Sartre luôn luôn đứng về phía
những người nghèo, những kẻ yếu, những người bị đàn áp, và do vậy,
thường ở vào vị trí đối nghịch với giai cấp xuất thân của mình. Ủng hộ
nhiệt thành các phong trào công nhân ở Pháp, các cuộc đấu tranh giải
phóng thuộc địa - giải phóng dân tộc ở các nước Á-Phi trong thế kỷ 20,
đến tuổi sáu mươi ông vẫn không do dự khi lên tiếng bảo vệ giới trẻ Pháp
trong cuộc nổi dậy của họ chống lại thể chế hiện hành vào tháng Năm năm
1968... Với tinh thần ấy, ở tư cách nhà hoạt động văn hóa, Sartre muốn
đoạn tuyệt với nền văn hóa trưởng giả là môi trường xuất thân của ông và
gắn bó mật thiết với ông nhưng "xa lạ với quần chúng", để hướng tới một
nền văn hóa vì tầng lớp nhân dân lao động và gần gũi với họ. Nhà văn
nhận thức điều này như một mâu thuẫn không dễ hóa giải trong con người
ông: "Cá nhân tôi cảm nhận sâu sắc mâu thuẫn giữa hai nền văn hóa: tôi
được tạo nên bởi những mâu thuẫn này."5 Trong Ngôn từ, Sartre tự gọi
mình là "kẻ phản bội" ("Tôi đã trở thành kẻ phản bội và tôi vẫn là như
thế"), tuy vậy, đối với ông, "phản bội" giai cấp của mình trong các hoạt
động xã hội-chính trị dường như dễ hơn nhiều so với "phản bội" trong lĩnh
vực văn hóa-văn học. Với Ngôn từ, Sartre cho rằng ông đã "khỏi bệnh", đã
nói xong lời giã biệt với thứ văn học mà theo ông là cần phải đoạn tuyệt.
Thế nhưng, gần mười năm sau khi viết Ngôn từ, Sartre lại thừa nhận:
"Thực ra, sự việc không đơn giản như vậy (...) Dù tôi luôn luôn phản đối
giới trưởng giả, các tác phẩm của tôi là dành cho họ, viết bằng ngôn ngữ
của họ... Từ mười bảy năm nay tôi gắn bó với một tác phẩm về Flaubert
mà chắc chẳng khiến giới công nhân quan tâm bởi nó được viết bằng một
phong cách phức tạp và hẳn là có tính chất trưởng giả (...) Do đó trong tôi
tồn tại một mâu thuẫn rất đặc biệt: tôi vẫn còn viết sách cho giới trưởng
giả và tôi tự cảm thấy mình đoàn kết với những người lao động muốn lật
đổ giai cấp ấy."6
Ngôn từ thể hiện rõ mâu thuẫn đặc biệt này của Sartre: tác phẩm dùng để
giã biệt thứ văn học mà nhà văn muốn đoạn tuyệt lại được ông viết bằng
chính thứ văn học ấy, ở mức độ điêu luyện rất cao của nó, với sự chú trọng
đặc biệt đến phong cách, đến vẻ đẹp của ngôn từ, với những suy nghĩ và
phân tích sâu sắc đầy tính triết lý về nhiều vấn đề cơ bản của xã hội, về
thân phận con người, về bản chất và sứ mệnh của văn học nghệ thuật...,
nhưng lại không thực sự liên quan trực tiếp đến những vấn đề thời sự nóng
bỏng như thứ văn học dấn thân, có ích mà Sartre đề xướng. Điều này khiến
cho giới phê bình văn học Pháp gọi Ngôn từ là một lời giã biệt văn học đầy
nghịch lý. Nhưng đó chính là chủ ý của Sartre: ông đã muốn tác phẩm-giã
biệt này phải được viết bằng một thứ văn đẹp, phải là tác phẩm có tính văn
học nhất trong các tác phẩm của ông. Và đúng là như vậy: những câu văn
trong Ngôn từ được viết một cách tinh tế với những hình ảnh đắt giá và
nhiều tầng ý nghĩa (Sartre đặc biệt chú trọng tính đa nghĩa của văn chương,
ông cho rằng cái phân biệt ngôn ngữ văn học với ngôn ngữ sử dụng trong
đời thường chính là tính đa nghĩa này, rằng mỗi người đọc tùy thuộc vào
trình độ và trải nghiệm của mình sẽ có những cấp độ hiểu khác nhau, và,
thậm chí, "nếu không có khả năng đem lại cho ngôn ngữ tính đa nghĩa thì
chẳng cần mất công viết làm gì"7). Là sản phẩm của một nhà văn cực kỳ
uyên bác và đa tài, những trang viết trong Ngôn từ nặng chất trí tuệ với
nhiều kiến thức trong những lĩnh vực rất khác nhau: thần thoại Hy Lạp-La
Mã, văn học Pháp và thế giới từ cổ đến kim, âm nhạc, điện ảnh, triết học,
tôn giáo, tâm lý học, văn hóa, lịch sử, thậm chí cả vật lý nữa. Tóm lại, như
một số nhà phê bình văn học Pháp nhận xét, vẻ đẹp của Ngôn từ là một vẻ
đẹp bác học (beauté savante).
Vẻ đẹp bác học ấy khiến cho Ngôn từ cuốn hút nhưng không dễ đọc,
ngay cả đối với độc giả Pháp, và vì vậy, đương nhiên, nó cũng làm cho việc
chuyển ngữ tác phẩm này trở thành một thử thách lớn đối với chúng tôi,
những người dịch Ngôn từ sang tiếng Việt. Nhận thức được tính chất phức
tạp của công việc này, những người dịch đã cố gắng làm việc một cách cẩn
thận, nghiêm túc, đồng thời tham khảo cả ý kiến của bạn bè Pháp, Việt đối
với những trường hợp mà chúng tôi thấy phân vân. Dù vậy, bản dịch chắc
chắn vẫn còn những thiếu sót mả chúng tôi mong được bạn đọc lượng thứ.
Nhân đây, xin chân thành cám ơn bạn bè và người thân đã dành thời gian
giúp đỡ cho việc dịch cuốn sách này, đặc biệt xin cảm ơn Paul Galvan ở
Ecole normale supérieure (Paris) đã đóng góp nhiều ý kiến rất quý giá.
Để giúp độc giả Việt Nam - vốn xa lạ với văn hóa, văn học, lịch sử Pháp
và châu Âu - những người dịch đã cố gắng đưa vào bản dịch này nhiều chú
thích (không có trong bản gốc của tác giả, vốn hướng tới độc giả Pháp với
một nền tảng văn hóa khác) nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản cần
thiết cho việc hiểu tác phẩm. Tuy rằng chưa đầy đủ, nhưng chúng tôi hy
vọng điều này sẽ có ích phần nào cho bạn đọc trong việc khám phá và
thưởng thức Ngôn từ, tác phẩm lớn của một nhà văn lớn tiêu biểu cho văn
học Pháp thế kỷ 20.
Tháng Hai năm 2017
Lê Ngọc Mai
I
--------
ĐỌC
THUẬN dịch
Ở
vùng Alsace, khoảng năm 1850, một giáo viên tiểu học để nuôi một
đàn con đành chấp nhận làm nghề bán thực phẩm khô. Ông thầy bỏ nghiệp
đó mong muốn một đền bù: vì ông đã phải từ chối công việc đào tạo tinh
thần, nên một trong các con trai của ông sẽ làm nghề đào tạo tâm hồn;
trong nhà sẽ có một mục sư, và đó sẽ là Charles. Nhưng Charles lủi mất,
thích lang thang theo đuổi một nàng kỵ sĩ hơn. Người ta bèn úp ảnh hắn
vào tường và cấm không được nói đến tên hắn. Đến lượt ai bây giờ?
Auguste vội vã bắt chước sự hy sinh của cha: cậu theo nghề buôn bán và
cảm thấy rất dễ chịu. Còn lại Louis chẳng có thiên hướng nào đặc biệt: ông
bố tóm lấy thằng con trầm tính này và nhoáy một cái biến nó thành mục
sư. Sau này, Louis đẩy cao sự phục tùng đến độ cho ra đời một mục sư nữa,
Albert Schweitzer, mà chúng ta đã biết rõ sự nghiệp. Thế nhưng Charles đã
không tìm thấy nàng kỵ sĩ; hành động đẹp đẽ của người cha đã để lại dấu
ấn lên hắn: cả đời hắn, hắn giữ mãi mùi vị của sự cao thượng và hăng hái
tạo ra những hoàn cảnh vĩ đại bằng những sự kiện nho nhỏ. Như chúng ta
thấy, hắn không tìm cách lẩn tránh khuynh hướng của gia đình; hắn mong
muốn dâng hiến đời mình cho một hình thức nhẹ nhàng hơn của giá trị tinh
thần, một nghề nghiệp cho phép hắn có những nàng kỵ sĩ. Nghề nhà giáo
thật là hợp: Charles chọn dạy tiếng Đức. Hắn bảo vệ luận án về Hans
Sachs, lựa chọn phương pháp giảng trực tiếp mà sau này hắn tự nhận là
người phát minh ra, cộng tác với Simonnot xuất bản một cuốn Deutsches
Lesebuch"8 được đánh giá cao, và làm một sự nghiệp nhanh gọn: Mâcon,
Lyon, Paris. Ở Paris, vào lễ trao giải thưởng, hắn đọc một bài phát biểu mà
sau đó đã có vinh dự được dành cho hẳn một số báo: "Thưa ngài Bộ
trưởng, thưa các quý ông, quý bà, các học trò thân mến, mọi người sẽ
không bao giờ đoán nổi hôm nay tôi sẽ nói với quý vị về vấn đề gì! Về âm
nhạc!" Hắn rất giỏi lẩy thơ. Hắn có thói quen nói trong các cuộc họp gia
đình: "Louis hiếu thảo nhất, Auguste giàu có nhất, nhưng tôi thông minh
nhất." Các anh em trai cùng cười, còn các chị em dâu thì mím môi. Ở
Mácon, Charles Schweitzer cưới Louise Guillemin, con gái của một nhân
viên quan tòa theo đạo Thiên Chúa. Nàng ghét cay ghét đắng chuyến trăng
mật của họ: Charles đã bắt cóc nàng trước khi bữa ăn kết thúc và ném nàng
lên tàu. Ở tuổi bảy mươi, Louise vẫn còn kể về món xa lát tỏi tây mà người
ta phục vụ họ trong một quầy ăn ở ga: "Hắn xơi hết phần trắng, để cho tôi
phần xanh." Họ đã ở lại Alsace mười lăm ngày liền mà không rời bàn ăn;
các anh em trai kể cho nhau nghe bằng thổ ngữ những câu chuyện tục tĩu,
thỉnh thoảng anh chồng mục sư quay về phía Louise và với một lòng tương
ái kiểu Cơ Đốc dịch cho nàng nghe. Nàng đã nhanh chóng tìm cách để
được cấp chứng nhận khống mà nhờ đó được miễn quan hệ giường chiếu
và có quyền ngủ riêng phòng; nàng nói về những cơn đau đầu, quen dần
với việc nằm ườn trên giường và trở nên ghét tiếng động, dục vọng, phấn
khích, toàn bộ cuộc sống dung tục, thô lậu và giả dối của gia đình
Schweitzer. Người phụ nữ sống động và tinh nghịch mà lạnh lùng này suy
nghĩ thẳng thắn nhưng trái đạo, bởi vì chồng nàng suy nghĩ đúng đạo
nhưng vẹo vọ; vì hắn là một tên nói dối nhưng cả tin, còn nàng, nàng nghi
ngờ mọi thứ: "Chúng khẳng định là trái đất quay, nhưng chúng biết gì về
điều ấy?" Bao vây bởi những diễn viên kịch đầy đạo đức, nàng thù ghét
kịch và đạo đức. Người phụ nữ theo chủ nghĩa hiện thực rất thanh nhã này,
lạc lối trong một gia đình gồm những người theo chủ nghĩa duy linh thô
lậu, vì thách thức mà nàng làm ra vẻ theo tinh thần của Voltaire nhưng lại
không đọc Voltaire9. Dễ thương và mũm mĩm, vô sỉ, hồn nhiên, nàng đã
trở thành sự phủ nhận thuần khiết; bằng một cái nhếch mày, một nụ cười
khó nhận thấy, nàng coi khinh tất cả những thái độ trịch thượng, nhưng
giấu trong lòng và không ai phát hiện ra. Nàng bị giày vò bởi thói kiêu
ngạo tiêu cực và tính ích kỷ chối từ. Nàng không gặp gỡ ai, quá kiêu hãnh
không thèm đòi vị trí thứ nhất, nhưng lại quá viển vông nên không thể đành
lòng với vị trí thứ hai. "Hãy biết cách để khiến người khác thèm muốn
mình", nàng nói. Đầu tiên người ta thèm muốn nàng rất nhiều, rồi dần dần
ít đi, và cuối cùng do không gặp nàng, nên họ quên nàng. Nàng hầu như
không còn rời ghế bành và giường ngủ. Theo chủ nghĩa tự nhiên nhưng lại
rất nguyên tắc về mặt đạo đức (sự kết hợp của hai đức tính hóa ra không
hiếm như ta tưởng), gia đình Schweitzer khoái những ngôn từ sống sượng,
những loại từ tuy hạ thấp cơ thể con người đúng tinh thần đạo Cơ Đốc, lại
tỏ ra rất tán thành các chức năng bẩm sinh; Louise thì thích những ngôn từ
ẩn ý. Nàng đọc rất nhiều tiểu thuyết phóng đãng mà nàng không thích tình
tiết cốt truyện bằng những tấm mạng trong suốt bao bọc nó: "Bạo, viết tốt,
nàng nói vẻ tinh tế. Lũ người trần, coi nhẹ mọi chuyện thôi, đừng nặng
nghĩ10!" Thiếu phụ trinh trắng này nghĩ là nàng có thể chết vì cười khi đọc
Cô gái rực lửa của Adolphe Belot. Nàng thích thú kể lại những câu chuyện
về mấy đêm trăng mật bao giờ cũng kết thúc tồi: khi thì anh chồng, trong
con vội vàng quá đáng, đập cổ vợ vào thành giường; khi thì, sáng hôm sau
người ta tìm thấy cô vợ trẻ đang trốn trong tủ quần áo, trần truồng và hóa
điên. Louise sống trong ánh sáng mờ mờ; Charles vào phòng nàng, mở các
cửa chớp ra, bật tất cả các đèn lên, nàng đưa tay che mắt và rên rỉ:
"Charles, anh làm tôi lóa mắt!" Nhưng sự kháng cự của nàng không vượt
qua giới hạn của một chống đối mang tính thể tạng: Charles thường khiến
nàng sợ hãi, cực ghét, nhưng đôi khi lại gọi chút thân tình, miễn là đừng
động tới người nàng. Nàng chấp nhận thua mọi thứ mỗi khi hắn mở miệng
kêu gào. Hắn cho nàng bốn đứa con, đều ngoài kế hoạch: một đứa con gái
mất từ lúc nhỏ, hai thằng con trai và một đứa con gái nữa. Do thờ ơ hoặc
do tôn trọng, hắn cho phép người ta nuôi dạy con cái theo tinh thần Công
giáo. Vô đạo, do kinh tởm đạo Tin Lành, Louise đã biến chúng thành sùng
đạo. Hai cậu con trai đứng về phía mẹ; nàng dần dần tách chúng khỏi ông
bố kềnh càng; Charles thậm chí không hay biết gì về điều này. Cậu con trai
cả, Georges, vào đại học Bách khoa; cậu thứ hai, Émile, thành giáo viên
tiếng Đức. Cậu này khiến tôi tò mò: tôi biết rằng cậu suốt đời độc thân và
cái gì cũng bắt chước cha tuy chẳng hề yêu cha. Cha và con có những lúc
giận nhau; rồi lại có những cuộc làm lành đáng ghi nhớ. Émile giấu kín
cuộc đời mình; cậu rất yêu mẹ, và cho đến cuối đời vẫn giữ thói quen tới
thăm mẹ không báo trước và lén lút; cậu phủ lên mẹ những nụ hôn và
những vuốt ve, rồi bắt đầu nói chuyện về bố, đầu tiên là mỉa mai, tiếp theo
là nổi giận và rời khỏi nhà mẹ đóng sầm cửa lại. Louise yêu con trai, tôi tin
vậy, nhưng cậu làm nàng sợ: hai người đàn ông thô lỗ và khó tính khiến
nàng mệt mỏi và nàng thấy yêu Georges chẳng bao giờ có mặt ở nhà hơn.
Émile mất năm 1927, phát điên vì cô độc: người ta tìm thấy một khẩu súng
lục dưới gối của cậu, và trong những cái rương là một trăm đôi tất rách và
hai mươi đôi giày đi ở nhà đã vẹt gót.
Anne-Marie, cô con gái út, trải qua cả tuổi thơ trên một cái ghế. Người
ta dạy cô biết buồn chán, biết đứng thẳng người và biết may. Cô có một số
năng khiếu, nhưng người ta tin rằng cứ để kệ chúng thì mới là tao nhã; về
vẻ tươi da thắm thịt: người ta cẩn thận tìm cách giấu cô. Những thị dân
khiêm tốn và kiêu hãnh này đánh giá sắc đẹp cao hơn khả năng hoặc thấp
hơn địa vị của mình; họ cho là nó phù hợp với các nữ hầu tước và lũ gái
điếm. Louise có tính kiêu ngạo cằn cỗi nhất trên đời: sợ bị lừa, nàng phủ
nhận ở con cái, chồng và cả bản thân những đức tính hiển nhiên nhất;
Charles không biết nhận thức sắc đẹp của người khác: hắn nhầm nó với
sức khỏe: từ khi vợ bị bệnh, hắn giải khuây với những người đàn bà hết
sức duy tâm, có ria, nhuộm tóc, khỏe mạnh. Năm chục năm sau, lần giở
những trang album của gia đình, Anne-Marie nhận ra rằng mình đã từng
đẹp.
Gần vào thời điểm mà Charles Schweitzer gặp Louise Guillemin, một
đốc tờ nông thôn kết hôn cùng con gái một điền chủ giàu có vùng Périgord
và đến ở cùng vợ trong con phố chính buồn bã của thị trấn Thiviers, đối
diện với hiệu thuốc. Sau đám cưới một hôm, ông bố vợ bị phát hiện là
chẳng có xu nào. Giận dữ, đốc tờ Sartre bốn mươi năm liền không nói
chuyện với vợ; ở bàn ăn, ông chỉ ra dấu, cuối cùng bà đành gọi ông là
"khách trọ". Thế nhưng ông vẫn ngủ cùng giường với bà, và, thỉnh thoảng,
chẳng nói năng gì, làm bà có chửa: bà cho ông hai con trai và một con gái;
những đứa trẻ sinh ra từ sự lặng câm này có tên là Jean-Baptiste, Joseph và
Hélène. Khi đã cứng tuổi, Hélène lấy một sĩ quan kỵ binh, người này sau
đó bị bệnh điên. Joseph đi nghĩa vụ trong lính bộ binh ở Algérie và nhanh
chóng rút về nhà cha mẹ. Anh ta không có nghề ngỗng gì: giằng xé giữa
thái độ im lặng của cha và những eo sèo của mẹ, anh ta trở thành kẻ nói lắp
và chiến đấu suốt đời với ngôn từ. Còn Jean-Baptiste thì muốn thi vào hải
quân để thấy biển. Năm 1904, ở Cherbourg, chàng sĩ quan hải quân kiệt
quệ bởi những cơn sốt bị từ hồi ở Nam kỳ Đông Dương làm quen với
Anne-Marie Schweitzer, chiếm được cô thiếu nữ cao lớn bị lãng quên
trong gia đình ấy, cưới nàng làm vợ, chớp nhoáng cho nàng một đứa con,
tức là tôi, và toan trốn mình vào cái chết.
Nhưng chết đâu có dễ: con sốt kiết lị dâng từ từ, rồi bệnh dần thuyên
giảm. Anne-Marie hết lòng chăm sóc chồng, nhưng không đẩy sự gần gũi
sỗ sàng thành tình yêu. Trước đấy, Louise đã cảnh báo con gái về cuộc
sống hôn nhân, rằng tiếp theo đám cưới tang thương là một chuỗi dài hy
sinh vô tận xen lẫn những tục tĩu hàng đêm. Theo gương bà ngoại tôi, mẹ
tôi thích nghĩa vụ hơn khoái cảm. Mẹ tôi không biết cha tôi mấy, trước
cũng như sau khi lấy ông, và hẳn là đôi khi cũng tự hỏi lý do gì mà con
người xa lạ đó lại chọn để chết trong vòng tay nàng. Người ta chuyển ông
đến một trại lính canh cách thị trấn Thiviers mấy dặm. Cha của ông hằng
ngày tới thăm ông bằng xe ngựa. Chăm sóc và lo lắng đã lấy hết sức lực
của mẹ, sữa mẹ cạn, tôi được giao cho một bảo mẫu không xa nhà lắm, và
tôi, tôi cũng cố mà chết: do viêm ruột non, và cũng có thể vì oán giận. Hai
mươi tuổi, không kinh nghiệm, không được ai khuyên, mẹ tôi tan tác giữa
hai kẻ sắp chết xa lạ; đám cưới đầy lý trí của mẹ tôi tìm thấy sự thật của nó
trong bệnh tật và tang tóc. Còn tôi, tôi được lợi từ tình thế ấy: thời đó, các
bà mẹ tự cho con bú rất lâu; nếu không may mắn có con hấp hối kép ấy,
tôi đã bị đặt vào những khó khăn của việc cai sữa muộn. Ốm đau quặt quẹo,
bị ép cai sữa lúc chín tháng, sốt cao và mê mệt đã ngăn không cho tôi nhận
thấy nhát kéo cuối cùng đang cắt đi mối quan hệ mẫu tử; tôi như bơi trong
một thế giới hỗn loạn, đầy những ảo giác đơn sơ và những thần tượng thô
lậu. Cha tôi qua đời, mẹ tôi và tôi cùng thức dậy bởi một cơn ác mộng
chung; rồi tôi khỏi bệnh. Nhưng chúng tôi đều là nạn nhân của một sự hiểu
lầm: mẹ tôi bằng tình yêu tìm lại được một thằng con trai mà mẹ chưa từng
thật sự rời bỏ; còn tôi thì tỉnh lại trên đầu gối của một người đàn bà mà tôi
chưa từng quen.
Không tiền, chẳng nghề, Anne-Marie mẹ tôi quyết định quay về sống ở
nhà ông bà ngoại tôi. Nhưng cái chết trêu ngươi của cha tôi đã làm mếch
lòng gia đình Schweitzer: như thể cha đã bỏ mẹ. Vì đã không biết dự báo
cũng như cảnh báo, mẹ tôi đâm mang tiếng là có tội: đã dại dột lấy phải
một thằng chồng không bền. Với mẹ, nàng Arianne11 dong dỏng cao, khi
quay lại Meudon ôm theo một đứa con, tất cả mọi người đều hoàn hảo: ông
ngoại tôi đã xin nghỉ hưu nhưng sau đó lại quay trở về với công việc không
một lời oán trách; bà ngoại tôi hân hoan một cách kín đáo. Nhưng mẹ tôi,
tuy biết ơn đến đờ đẫn cả người, vẫn đoán ra sự khiển trách dưới những
đối xử tốt đẹp: các gia đình tất nhiên thích con gái bị góa hơn là con gái
không chồng mà có con, nhưng cũng tí tẹo thôi. Để được họ tha thứ, mẹ tôi
đã không tiếc sức, chăm sóc ngôi nhà của cha mẹ ở Meudon, rồi ở Paris,
biến mình thành quản gia, y tá, quản lý, nữ tùy tùng, nô tì, mà không tài nào
làm nguôi đi sự khó chịu câm lặng của bà ngoại tôi. Louise bà ngoại tôi
chán ngấy việc sáng lên thực đơn, tối tính toán chi tiêu, nhưng lại khó khăn
chấp nhận người khác làm thay mình; bà vừa trút bỏ trách nhiệm, vừa cáu
kỉnh vì bị mất đặc quyền. Người phụ nữ đang già đi và vô sỉ này chỉ có
một ảo tưởng; bà tin mình là người tối cần thiết. Ảo tưởng tiêu tan và bà
bắt đầu ghen với con gái. Thật khổ thân Anne-Marie mẹ tôi: nếu mẹ thụ
động, chắc người ta đã buộc tội mẹ là gánh nặng cho họ; mẹ tích cực thì họ
nghi mẹ muốn cai quản cái nhà này. Để tránh vỉa đá ngầm đầu tiên, mẹ cần
toàn bộ lòng dũng cảm, để tránh vỉa đá ngầm thứ hai, mẹ cần toàn bộ sự
nhún nhường. Chẳng bao lâu, góa phụ trẻ quay trở lại làm đứa con vị thành
niên: một trinh nữ đã dính chàm. Không phải họ từ chối tiền tiêu vặt của
mẹ, mà họ quên đưa cho mẹ; mẹ dùng mòn cả tủ quần áo mà ông ngoại tôi
vẫn không tính đến chuyện mua thêm. Người ta hầu như không chịu nổi
việc mẹ đi chơi một mình. Khi các bạn cũ của mẹ, hầu như đã có gia đình,
mời mẹ đến nhà ăn tối, họ đều phải xin phép từ rất lâu trước đó và phải
hứa sẽ đưa mẹ về nhà trước mười giờ. Giữa bữa ăn, chủ nhà đứng dậy rời
khỏi bàn để dẫn mẹ ra ô tô. Trong lúc đó, ông ngoại tôi mặc áo ngủ bước
từng bước dài trong phòng, tay cầm đồng hồ. Khi đồng hồ điểm tiếng
chuông cuối cùng chỉ mười giờ, ông gầm lên. Những lời mời ngày càng
hiếm và mẹ tôi phát ớn lên vì những niềm vui phải trả giá đắt như thế.
Cái chết của Jean-Baptiste cha tôi là một sự kiện lớn trong đời tôi: nó trả
lại cho mẹ tôi sợi dây xiềng xích và trao cho tôi tự do.
Không có người cha tốt, quy luật thế rồi; đừng kêu ca đàn ông mà hãy
phê phán mối quan hệ phụ tử thối rửa. Tạo ra đứa con, không có gì hay ho
hơn thế; nhưng có con, là cả một lỗi lầm! Nếu còn sống thì cha tôi sẽ nằm
lên lưng tôi và sẽ nghiến nát tôi. May thay, ông đã mất khi tôi còn quá nhỏ;
ở giữa những Énée12 cõng trên lưng các ông bố Anchise13 , tôi đi từ bờ
này tới bờ kia, đơn độc và căm ghét những bậc sinh thành vô hình cưỡi
suốt đời trên lưng con cái; tôi bỏ lại phía sau một thanh niên chết trẻ không
có đủ thời gian để trở thành cha tôi và ngày hôm nay có thể là con trai tôi.
Điều đó tốt hay xấu? Tôi không biết, nhưng tôi sẵn sàng tán thành nhận xét
nghiêm khắc của một nhà phân tâm học ...
 
Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn. (Barack Obama)





