THÔNG BÁO

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

SÁCH NÓI - KỸ NĂNG SÓNG

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH HAY CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    TRÍCH DẪN HAY

    Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Gioi_han_sinh_thai_xuong_rong.png Gioi_han_sinh_thai_cua_tam.png Gioi_han_sinh_thai_ca_ro_phi.png BANDOKINHTE.jpg HB_NHOMNUOC.jpg HB_MDDS.jpg Ban_do_cac_nuoc_Dong_Nam_A.jpg TDMNPB_tunhien.jpg

    KIẾN THỨC LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

    💕💕 💕💕Thư viện không phải là nơi để ghé qua trong vội vã, mà là nơi yên bình ta chọn dừng chân giữa bộn bề cuộc sống. Nơi đây, mỗi cuốn sách đều như một mảnh ghép của thời gian, gói ghém những tri thức và câu chuyện của biết bao thế hệ💕💕 💕💕

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng Sản Việt Nam

    Những cô em gái

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 09h:50' 07-03-2024
    Dung lượng: 659.8 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Những Cô Em Gái
    Nguyễn Nhật Ánh

    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    Chương 1

    Năm lớp mười hai của tôi là một năm vô cùng buồn tẻ.
    Bạn bè cũ tản mác đứa một phương. Thằng Nghị, "giáo sư" Bá và
    nhỏ Hồng chà-và xấu người đẹp nết tiếp tục học lớp mười hai tại
    trường tỉnh lỵ. Ngữ và Hòa lé rớt tú tài một năm đó, buồn tình khăn
    gói vào phương Nam lập nghiệp. Tôi và Gia Khanh ra Đà Nẵng.
    Gia Khanh học khác trường với tôi, nó học trường con gái tôi học
    trường con trai. Nhưng dù nó có học chung với tôi, hai đứa cũng chả
    còn gì để nói. Từ khi phát hiện Gia Khanh có người yêu ngoài quê,
    sao chổi Halley trong lòng tôi đã tắt.
    Không bà con thân thích, chẳng bạn bè quen, tôi lọt thỏm giữa thành
    phố lớn như lạc vào một hành tinh xa lạ, buồn ơi là buồn.
    Ba tôi gửi tôi ở nhờ nhà một người bạn quen tên Đán. Gọi là "nhà",
    thực ra đó chỉ là một căn phòng nhỏ xíu ngay trong cơ quan bác
    Đán làm việc.
    Gọi căn phòng thực ra cũng là gọi cho oai. Đó chỉ là một khoảnh
    diện tích nhỏ ngăn bớt của phòng làm việc để làm chỗ ngủ. Phòng
    chỉ đủ chỗ kê một cái tủ, một cái bàn, một chiếc giường con. Từ khi
    tôi xuất hiện, căn phòng có thêm một chiếc ghế bố.
    Đêm đầu tiên, nằm trong mùng nghe muỗi bay vo ve bên ngoài, tôi
    nhớ nhà đến ứa nước mắt. Tôi nhớ ba mẹ, nhớ các em tôi, nhớ đám
    bạn bè cũ ghê gớm.
    Bác Đán nằm trên chiếc giường con bên cạnh nghe tôi trằn trọc,
    gióng tiếng hỏi:
    - Gì vậy con?
    - Dạ, không có gì ạ.

    - Muỗi nhiều con hả?
    - Dạ không ạ.
    - Hay rệp đốt?
    - Dạ không.
    Bác Đán không nghĩ tôi nhớ nhà. Con trai lớp mười hai chuẩn bị vào
    đại học lẽ đâu lại giống đứa con nít lên năm.
    - Chắc con lạ chỗ nên khó ngủ!
    Bác Đán chép miệng nói, rồi hạ giọng vỗ về:
    - Ráng ngủ đi con. Ngày đầu bác cũng y như con vậy.
    Tôi đi học xa nhà lần này không phải là lần đầu. Lên lớp mười, tôi đã
    khăn gói vô Tam Kỳ, sống xa ba mẹ tôi, xa các em tôi, xa con suối
    trong vắt chảy qua làng, xa ngõ tre bốn mùa râm mát.
    Nhưng hai năm ở Tam Kỳ, tôi có Ngữ, Nghị, Hòa, Bá. Tôi có Hồng
    chà-và, tôi có Gia Khanh. Ra Đà Nẵng, tôi không có ai quen. Đêm
    đầu tiên ngủ trong căn phòng lạ, tôi cứ thao láo mắt nhìn lên đỉnh
    mùng, bâng khuâng tưởng mình là Robinson đêm đầu tiên ngủ
    ngoài hoang đảo.
    Sáng dậy, bác Đán đưa tôi một chiếc chìa khóa:
    - Đây là chiếc chìa khóa phòng. Bác một chiếc, con một chiếc. Mỗi
    lần đi đâu nhớ khóa cửa lại.
    Tôi "dạ". Và cầm lên chiếc ổ khóa bằng đồng, tôi mở ra bấm vào cho
    quen tay.
    Sau đó, tôi khóa cửa phòng, xách cặp đi học.

    Từ chỗ tôi ở cuốc bộ đến trường mất khoảng hai mươi phút. Tôi rảo
    qua các dãy phố, quẹo ba ngã tư mới đến nơi.
    Cũng như hôm khai trường, tôi ngồi trong lớp lẻ loi một mình một
    góc. Tụi bạn chung quanh chuyện trò như bắp rang, chẳng ai để ý
    đến một học trò tỉnh lẻ mới lên như tôi.
    Ngồi cạnh tôi là một đứa có mái tóc dợn sóng, mặt xương xương,
    trông khá đẹp trai nhưng lại mắc tật nói lắp. Nó cũng ngồi lơ ngơ
    một mình như tôi.
    Ngó quanh quất một hồi, nó xích lại gần tôi:
    - Mày... mày ở Điện... Điện Bàn ra à?
    Chờ thằng này nói hết câu, tôi ngóng muốn trẹo cổ. Nhưng dù sao
    có người bắt chuyện cũng hơn không. Tôi vui vẻ:
    - Không, năm ngoái tao học trường Trần Cao Vân.
    Thằng bạn mới gật gù vẻ hiểu biết:
    - Quê... quê mày ở Tam... Tam Kỳ à?
    - Không, tao ở Thăng Bình. Nhưng trường quê tao chưa mở cấp ba.
    Nó gật gù:
    - Mày... mày tên gì?
    - Tao tên Khoa. Còn mày?
    - Tao... tao tên Hồng... Hồng Hà.
    Tôi ngạc nhiên:
    - Hồng Hồng Hà à? Sao mày lót tới hai chữ Hồng lận?

    Nó lắc đầu, vẻ khổ sở:
    - Không... không phải! Tên tao là Hồng... Hồng Hà.
    Tôi lại trố mắt:
    - Thì hai chữ Hồng chứ gì nữa!
    Nó giơ một ngón tay lên:
    - Có... có một chữ Hồng... Hồng à.
    Đến lúc này tôi mới sực nhớ đến cái tật nói lắp của nó, bèn nhe răng
    cười:
    - Tao hiểu rồi. Tên mày là Hồng Hà.
    Thấy tôi nói đúng tên nó, Hồng Hà sướng rơn. Nó lại giơ một ngón
    tay lên:
    - Mày... mày... thông minh lắm.
    Tôi thấy tôi chả thông minh tẹo nào nhưng nghe nó khen, tôi cũng
    vui vui.
    Tới phiên tôi chất vấn:
    - Năm ngoái mày học trường nào?
    - Trần Quý... Quý Cáp.
    Lần này thì tôi biết chắc ông Trần Quý Cáp này chỉ lót có một chữ
    Quý. Tôi nheo mắt:
    - Vậy là mày ở Hội An ra?

    Hồng Hà gật đầu:
    - Ừ, Hội... Hội An là quê... quê tao.
    Tôi hất đầu về phía những đứa khác:
    - Mày biết tụi kia không?
    - Không... không biết. Tụi nó chắc là học... học sinh trường này.
    Do cảnh ngộ đưa đẩy, từ hôm đó tôi và Hồng Hà dần dần trở thành
    một đôi bạn thân.

    Chương 2

    Nhưng hai đứa tôi chơi thân với nhau là chuyện sau này. Còn trong
    những ngày đầu, lòng tôi vẫn không nguôi buồn bã.
    Tôi buồn đến mức đầu óc lúc nào cũng nhớ nhớ quên quên.
    Hôm đầu tiên bấm cửa phòng, tôi không đem theo chìa khóa. Trưa,
    tôi về, bác Đán đi đâu mất. Tôi lục khắp các túi áo túi quần một cách
    vô vọng, những ngón tay muốn đục thủng các lớp vải mà chiếc chìa
    khóa vẫn chẳng thấy đâu.
    Tôi lấy sợi kẽm chọc vào ổ khóa ngoáy quấy quá một hồi. Cuối cùng
    thúc thủ, tôi đành ném cặp xách rơi đánh xoạch vào bên trong rồi
    bám vách leo vô.
    Không có bác Đán, tôi không biết đường mò đến nhà bà Dần nấu
    cơm tháng. Trưa đó, tôi ôm tập thơ Gửi hương cho gió nằm đọc cho
    quên cơn đói. Những câu thơ Xuân Diệu ru tôi ngủ thiếp lúc nào
    không hay.
    Tôi bừng tỉnh khi cửa phòng xịch mở.
    Bác Đán bước vào, giật bắn người khi thấy tôi nằm lù lù bên trong:
    - Ủa, sao hồi trưa con không đi ăn cơm?
    Tôi không dám nói tôi không biết đường đến nhà bà Dần:
    - Dạ, con ăn rồi.
    - Con ăn ở đâu?
    - Dạ, ở trên trường! - Tôi phịa và nghe bụng reo lên - Con ăn bánh
    mì với tụi bạn.
    Bác Đán sực nhớ ra:

    - Ủa, con vào bên trong sao lại khóa cửa bên ngoài?
    Tôi đỏ mặt:
    - Dạ, hồi sáng con bỏ quên chìa khóa ở nhà! - Tới đây, tôi bỗng lây
    tật nói lắp của thằng Hồng Hà - Thế là... thế là con leo... leo vô!
    Bác Đán ngước nhìn bức vách. Rồi như nghĩ ra điều gì, bác rảo
    bước lại chỗ bàn làm việc.
    Tôi dõi mắt theo từng hành động của bác và tái mặt khi thấy bác
    cầm lên xấp hồ sơ in nguyên nửa dấu giày dơ hầy của tôi.
    Tôi nhắm mắt lại, chờ một cơn trách mắng trút xuống đầu.
    Nhưng bác Đán là người... hiền lương. Bác nói giọng nhẹ nhàng:
    - Lần sau đi ra ngoài con nhớ đem theo chìa khóa nghe con!
    Tôi thở phào:
    - Dạ, con sẽ nhớ.
    - Con cũng nhớ trưa và tối về ăn cơm với bác. Đừng ăn uống lung
    tung ngoài đường.
    - Dạ, con nhớ.
    Không biết bác Đán có tin những lời hứa hùng hồn của tôi không mà
    chợt nói:
    - Bác với ba con thân nhau như anh em ruột. Bác lo cho con như lo
    cho con trai bác.
    Giọng tâm tình của bác Đán khiến tôi nao nao trong dạ. Tôi bỗng hối
    hận vì đã leo vách vào phòng. Tôi hối hận vì đã làm bẩn hồ sơ giấy

    tờ của bác. Và tôi nói:
    - Con sẽ nghe lời bác như nghe lời ba con.
    Khi hứa như vậy, xin thề có trời đất chứng giám, tôi đã nói thật một
    trăm phần trăm. Tôi đã nói thật lòng bằng một giọng suýt khóc và
    ngày hôm sau tôi tiếp tục bỏ quên chìa khóa trong phòng.
    Và bác Đán lại dịu dàng:
    - Lần sau đừng vậy nữa nghe con?
    Tôi "dạ". Và lại bỏ chìa khóa trong phòng lần thứ ba.
    Điều bá láp nào cũng vậy, hễ lặp lại đến lần thứ ba thì tới sắt đá
    cũng phải dao động. Mẹ của bậc đại hiền Tăng Sâm lần đầu tiên
    nghe người ta bảo Tăng Sâm giết người vẫn tỉnh bơ ngồi dệt vải. Bà
    tin tưởng tuyệt đối con mình và biết chắc đó là lời đồn nhảm. Người
    thứ hai chạy ngang qua nhà bảo Tăng Sâm giết người, bà vẫn thản
    nhiên tiếp tục công việc. Nhưng đến khi người thứ ba cũng lặp lại y
    như thế thì bà hốt hoảng quăng thoi bỏ chạy.
    Mẹ Tăng Sâm còn không giữ nổi bình tĩnh trước một sự việc lặp đi
    lặp lại, huống gì bác Đán tôi.
    Lần thứ ba, bác Đán tôi đã chán làm người hiền lương. Bác chán
    dịu dàng, nhỏ nhẹ. Bác lớn tiếng quở trách:
    - Trời ơi là trời, mày làm sao thế hở con?
    Tôi im lặng. Vì không biết trả lời sao.
    Bác Đán ôm đầu:
    - Đầu óc mày lãng đãng như thế, làm sao mà học hành, làm sao
    thuộc bài thuộc vở được hở con?

    Tôi lí nhí:
    - Năm ngoái con đứng nhất lớp.
    - Đó là năm ngoái! - Bác Đán đưa mắt nhìn tôi, nghi ngờ - Năm
    ngoái chắc mày đâu có quên trước quên sau!
    Năm ngoái đúng là tôi không lơ ngơ như năm nay thật. Chỉ vì năm
    ngoái tôi nhiều bạn. Chỉ vì năm ngoái tôi mải yêu. Dù yêu phải hoa
    hồng... xứ khác, chẳng tới đâu.
    Năm nay tôi ra thành phố lạ. Tôi đang "buồn viễn xứ khôn khuây"
    như lời thơ Quang Dũng. Cho nên tôi cứ lơ lơ lửng lửng suốt ngày.
    Cho nên cách nhau có một bức vách mỏng mà tôi cứ ở bên ngoài
    còn chiếc chìa khóa thân yêu của tôi cứ ở bên trong, hoài hoài như
    vậy. Chán ghê!

    Chương 3

    Tôi càng chán hơn nữa khi phát hiện tụi bạn cùng lớp nói tiếng Pháp
    như gió, lại hay không tưởng nổi. So với cái giọng nhà quê của tôi,
    thật khác xa một trời một vực.
    Tôi học sinh ngữ Pháp từ năm lớp sáu. Xưa nay, tôi luôn luôn đứng
    đầu lớp môn Pháp văn. Năm ngoái, tôi đứng nhất, "giáo sư" Bá
    đứng nhì.
    Nhưng tôi là học sinh tỉnh lẻ. Dạy tôi lâu nay là các thầy giáo già.
    Các thầy dạy tôi kiểu tiếng Pháp nói theo giọng quê kiểng.
    Các thầy trò ngước lên hàng chữ "C'est un matin" trên bảng, lớn
    giọng đọc:
    - Xe ton ma tanh.
    Chúng tôi ngồi dưới ê a đọc theo.
    Hết "xe ton ma tanh" đến "xe ton banh lông", "xe ton cờ ray giông".
    Kiểu phát âm đó, thú thật chỉ có thầy trò tôi hiểu với nhau. Người
    Paris nghe, chắc họ phải đoán mò khổ sở.
    Thầy giáo dạy tiếng Pháp năm lớp mười hai của tôi là thầy Xuân
    Thu, vừa tu nghiệp tại Pháp về.
    Khác với các thầy giáo tôi học trước đây, từ đầu giờ đến cuối giờ
    thầy Xuân Thu "nổ" toàn tiếng Tây, không chêm một tiếng Việt. Tôi
    nghe như vịt nghe sấm.
    Trong khi đó, những đứa khác tỉnh bơ. Thầy Xuân Thu "nổ" một
    tràng, tụi nó liền "nổ" một tràng khác, tụi nó lập tức đáp lễ bằng một
    tràng lạch tạch khác nữa. Những lúc đó, tôi tưởng như mình đang
    ngồi trong một lớp học bên Tây, mặt méo đi vì lo lắng.
    Tiết tiếng Pháp nào cũng thế, thầy xuân Thu và tụi kia "nổ" qua "nổ"

    lại ì xèo suốt buổi học. Nhiều lúc, tai ù như xay lúa, tôi lại có cảm
    giác đang lạc vào một trận đấu súng, suốt buổi cứ co rúm trong góc
    lớp, nơm nớp sợ thầy ngoắt mình ra... đấu súng tay đôi.
    Thấy tôi muốn són ra quần, Hồng Hà mỉm cười hỏi:
    - Mày... mày nghe được... được hết không?
    Tôi gật đầu:
    - Tất nhiên là nghe đuợc hết.
    - Mày... mày hiểu được... được hết không?
    Tôi thở dài:
    - Tất nhiên là không hiểu chữ nào hết.
    Rồi tôi nhìn nó, mong tìm một đồng minh dốt đặc cán mai như mình
    cho đỡ tủi.
    - Mày cũng không hiểu chữ nào phải không?
    - Tao hiểu... hiểu được khoảng tám... tám, chín mươi phần trăm.
    - Xạo đi mày! - Thấy thằng cà lăm này không chịu dốt như mình, tôi
    thình lình đổ quạu.
    - Thật... thật đó! - Hồng Hà nuốt nước bọt - Tao... tao chỉ nói là... là
    dở!
    Nghe lời thú nhận buồn bã của Hồng Hà, lòng tôi bất giác chùng
    xuống. Hồng Hà nói tiếng Việt còn khó khăn trăm bề, huống gì nói
    tiếng Pháp. Nó mà nói chữ "carotte", sẽ không ai dám ăn củ cà rốt
    đó là cái chắc, thế nào nó cũng phát âm thành "ca... ca... rotte" cho
    mà xem. Người Pháp mà nghe tới chữ "caca" là bịt mũi bỏ chạy cả
    ngàn cây số. Tự nhiên tôi thấy tội nghiệp Hồng Hà. Trình độ tiếng

    Pháp của nó chắc không kém gì tụi bạn cùng lớp, chỉ tại cái tật nói
    lắp tai hại kia mà nó phải chịu thiệt thòi.
    Để nó bớt buồn, tôi hỏi lảng sang chuyện khác:
    - Tụi kia nói tiếng Pháp giỏi quá hén mày?
    - Tụi... tụi nó đa số là học... học sinh lycée Pascal chuyển qua.
    Hôm... qua tao mới điều... điều tra ra.
    Tôi tròn mắt:
    - Tụi nó là dân trường Tây hả?
    - Ừ.
    - Ra vậy! - Tôi xuýt xoa - hèn gì tụi nó nói tiếng Tây y như... Tây!
    Tôi chợt ngạc nhiên:
    - Ủa, tại sao tụi nó không tiếp tục học ở bên Pascal mà chuyển qua
    đây làm gì?
    - Tụi... tụi nó sợ rớt tú tài tiếng Pháp. Tụi... tụi nó cho rằng thi bên
    này dễ hơn.
    Tụi này tính toán khôn ghê. Tôi nhủ bụng. Thi tú tài ban văn chương,
    môn tiếng Pháp được xếp tới hệ số 3. Tụi nó học lycée Pascal từ
    nhỏ, làm bài thi môn tiếng Pháp ẵm điểm chín, điểm mười là cái
    chắc.
    Từ khi bắt đầu học tiếng Pháp, tôi đã nghe bạn bè trầm trồ kháo
    nhau về tụi học sinh trường Tây. Tụi nó bảo dân trường Tây học
    siêu lắm, lại toàn dân nhà giàu.
    Tôi không ao ước là dân nhà giàu, tôi chỉ muốn học siêu. Vì tôi sợ thi
    rớt. Vì tôi sợ mỗi khi thầy Xuân Thu kêu lên, tôi cứ đứng trơ như

    phỗng sẽ làm trò cười cho thiên hạ.
    Hôm sau, tôi đến lycée Pascal ghi tên học lớp đêm.

    Chương 4

    Lycée Pascal gồm hầu hết là người Pháp. Hiếm hoi lắm mới gặp
    một người Việt.
    Cô nhân viên bàn giấy bảo tôi ghi tên thi xếp lớp. Thấy mấy ông Tây
    bà đầm lượn qua lượn lại trước mặt, tôi sợ run, xin được khỏi thi:
    - Cô cứ xếp em vào lớp thấp nhất.
    - Lớp thấp nhất là lớp vỡ lòng.
    - Dạ, em học lớp vỡ lòng cũng được.
    Cô nhân viên ngó sửng tôi:
    - Lớp đó chỉ dành cho các em bé bảy, tám tuổi em à.
    Tự nhiên tôi thèm được nhỏ đi mười tuổi kinh khủng. Để được vào
    học lớp vỡ lòng. Để khỏi thi cử lôi thôi. Thi xếp lớp, ông Tây hỏi, tôi
    có hiểu quái gì đâu mà đáp. Xưa nay học tiếng Pháp, tôi khá môn
    luận văn, giỏi môn văn phạm, siêu đẳng khi phân tích từ và câu, và
    nhớ gần như toàn bộ cách chia các động từ bất quy tắc. Còn môn
    vấn đáp tôi chỉ đáng xếp vào lớp vỡ lòng với các em bảy, tám tuổi.
    Tôi ấp úng:
    - Trên lớp vỡ lòng là lớp gì hở cô?
    - Trên lớp vỡ lòng là lớp một.
    Tôi liếm môi:
    - Vậy cô cho em vào lớp một.
    - Không được! - Cô nhân viên lắc đầu.

    - Được mà cô! - Tôi năn nỉ - Em hứa sẽ không chọc ghẹo, không bắt
    nạt các em bé cùng lớp! Thậm chí có bé nào mắc ị, em sẵn sàng
    dẫn bé...
    Thấy tôi giơ tay lên chuẩn bị thề, cô nhân viên liền cắt ngang lời cam
    kết long trọng của tôi:
    - Ở bên trường Việt, em học lớp mấy?
    - Dạ, lớp mười hai.
    - Vậy là em đang học cuốn Mauger 2?
    Tôi run lên, linh cảm có điều chẳng lành:
    - Dạ.
    - Vậy tôi xếp em vào lớp tám.
    Tôi nhảy dựng như bị ong đốt:
    - Í, không được đâu cô ơi. Em học Mauger 2 nhưng học dở nhất lớp
    đó cô. Trình độ em chỉ ngang cuốn Le Francais élémentaire à.
    Thấy tôi sắp sửa lăn đùng ra bất tỉnh, cô nhân viên nhượng bộ:
    - Vậy tôi xếp em vào lớp bảy.
    Tôi trả giá:
    - Xuống luôn lớp sáu đi cô!
    Thế là tôi vào lớp sáu trường Pascal, học chung với đám nhóc tì
    mười ba, mười bốn tuổi.
    Lớp học bắt đầu từ năm giờ chiều, bốn giờ rưỡi tôi đã có mặt.

    Lycée Pascal có cái sân đẹp tuyệt vời. Các bồn hoa nằm rải rác
    khắp nơi, các lối đi toàn rải sỏi.
    Tôi đến sớm, ngồi trên ghế đá cạnh lối đi, đảo mắt nhìn từng khuôn
    mặt lướt qua, thấy khuôn mặt nào cũng nghiêm nghị và xa lạ.
    Thỉnh thoảng thấy vài đứa con gái cỡ tuổi tôi ôm tập đi ngang qua
    trước mặt, tôi nhỏm người dậy tính làm quen nhưng rồi thấy tụi nó
    đầm điếc quí tộc quá, tôi bỗng ngài ngại, đành đặt đít ngồi xuống,
    tiếp tục câm như hến.
    Tôi ngồi một mình ngoài sân suốt nửa tiếng đồng hồ, thấy thời gian
    sao mà đằng đẵng. Chỉ đến khi nghe tiếng chuông reo, tôi mới lững
    thững vào lớp và lấm lét chuồn tuốt xuống dưới góc.
    Dạy lớp sáu là thầy Pierre, trùng tên với đại tông đồ của chúa Jésus,
    và đẹp trai không thua gì chúa Jésus.
    Khuôn mặt thanh tú, mắt xanh biếc, tóc xõa thành lọn xuống hai vai,
    thầy Pierre vừa ngồi xuống ghế đã liếc nhìn một vòng khắp lớp.
    Tôi có cảm giác thầy đang lia tiểu liên, liền rùng mình cúi đầu xuống,
    hy vọng thầy không kêu tôi đứng lên.
    Thầy Pierre không phát hiện ra tôi thật. Sau khi quét mắt một vòng,
    thầy lật cuốn sách trước mặt và chấm viết vào sổ, kêu học trò lên trả
    bài.
    Tụi học trò cầm theo sách của mình lên bảng, đọc bài lecturei trong
    sách và trả lời những câu hỏi của thầy dựa theo bài học.
    Khi đứa học trò đầu tiên cất giọng đọc, tôi mừng rơn khi nhận ra đó
    là cuốn Mauger 1 tôi đã từng học qua.
    Nhưng khi đứa học trò đọc xong, thầy Pierre bắt đầu hỏi thì tôi lại
    run cầm cập. Y như những tiết học tiếng Pháp của thầy Xuân Thu,
    tôi nghe thầy Pierre và thằng nhóc trên bảng đối đáp như gió, không

    tài nào hiểu kịp.
    Thằng nhóc đi xuống, thằng nhóc khác lên. Hai thầy trò lại nổ lốp
    bốp khiến tôi càng xanh mặt. May mà hôm đó, thầy Pierre không kêu
    đến tôi.
    Ngày hôm sau cũng diễn ra y như hôm trước. Tôi lại vểnh tai trâu
    nghe thầy Pierre giảng bài, tiếng được tiếng mất. Nhưng lần này tôi
    bớt run. Tôi đã xác định rồi. Rằng trình độ nghe và nói của tôi kém,
    tôi mới phải vào đây học. Tôi nhớ ai đó đã nói "Dốt không đáng sợ,
    đáng sợ là dốt mà không biết mình dốt". Tôi dốt và tôi biết tỏng là
    mình dốt, vậy người khác không sợ tôi thì thôi, việc quái gì tôi phải
    sợ ai.
    Tôi cũng nhớ cả lời ông bà dạy "Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa
    cột mà nghe". Ông bà ta thật giỏi, không hiểu làm sao các vị biết có
    ngày có một tên cháu chắt tám mươi đời của các vị chui vào lycée
    Pascal ngồi đực mặt trước ông thầy Tây mà sáng tác ra câu này để
    trấn an và hướng dẫn.
    Tôi áp dụng tục ngữ Việt Nam vào trường Tây một cách suôn sẻ.
    Suốt một tuần tôi không hề thưa thốt. Tôi chăm chỉ dựa cột mà
    nghe.
    Dù là nghe lõm bõm.
    "Thánh" Pierre ỷ mình giữ chìa khóa cổng vào nước trời nên tỏ ra
    cao ngạo. Đã một tuần lễ trôi qua mà ông không nhận ra tôi đang lấp
    ló trước cửa thiên đường.
    Chỉ có bọn học trò lóc chóc là ngạc nhiên. Ngày đầu tiên, thấy tôi ló
    đầu vào lớp, chúng tưởng là giáo viên trợ giảng. Ngày hôm sau
    chúng nghi tôi là thầy giám thị. Bây giờ thì chúng đoan quyết tôi là
    người của... Sở điệp viên.

    Chương 5

    Lớp đêm tôi đang theo học tan lúc bảy giờ. Không đêm nào tôi về
    nhà ngay. Tôi ôm tập đi lang thang qua các ngả phố để nghe nỗi
    buồn gặm nhấm trái tim tôi.
    Tôi đi qua các ngã tư đèn màu, thấy lòng mình chớp nháy. Tôi vào
    các cửa hiệu chẳng để mua gì. Người qua đường không ai nhìn tôi.
    Trong khi tôi nhìn tất cả mọi người. Để xem có ai quen. Để mong
    mỏi được gọi trên môi một cái tên thân thiết. Tôi thèm đuược thốt lên
    một cách ngạc nhiên sung sướng: "Ồ, Nghị, mày ra Đà Nẵng hồi
    nào vậy?". Tôi thèm được reo tở mở: "A, Bá, mày ra ngoài này thăm
    bà con hả?".
    Cũng có đôi khi tôi mơ mộng đến một điều kỳ diệu: "Ủa, Gia Khanh
    đi đâu đây?" - "Khoa hỏi lạ! Gia Khanh đi tìm Khoa chứ đi đâu!" "Tìm Khoa?" - "Ừ, tìm Khoa!" - "Chi vậy?" - "Gia Khanh nhớ Khoa
    lắm!"...
    Thường thì tôi chỉ mới tưởng tượng đến đó, hình ảnh cuộc gặp gỡ
    giữa tôi và gã người yêu của Gia Khanh ở quán Ngàn Khơi dạo nọ
    lại hiện ra cắt đứt giấc mơ ngọt ngào trong đầu tôi.
    Và tôi lại buồn bã quay về làm chàng chăn cừa cô đơn lang thang
    trên đồng cỏ, nhìn sao trời mà nhớ nàng Stéphanette.
    Cho đến một hôm...
    Hôm đó, sau khi ôm tập đi tha thẩn qua các phố khuya đến rã cẳng,
    tôi mệt mỏi lê gót về chỗ ở nằm trên đường Bạch Đằng chạy dọc
    sông Hàn.
    Lúc đang xuôi theo đường Nguyễn Du để về bờ sông, tiếng đàn
    dương cầm không biết từ đâu vọng tới khiến tôi tự dưng bâng
    khuâng vô hạn và bất giác chùng bước lại.

    Đường Nguyễn Du giờ này vắng vẻ, tiếng dương cầm càng thánh
    thót, và tôi không tài nào bước nổi. Tiếng đàn giữa đêm khuya đã
    níu chân chàng chăn cừa cô đơn.
    Tôi sững sờ dừng chân bên hè phố, ngơ ngác nhìn quanh. Sau một
    lúc dáo dác, tôi phát hiện tiếng đàn kỳ diệu kia vọng ra từ ô cửa sổ
    sáng đèn trên lầu một ngôi nhà nhiều tầng bên kia đường.
    Tôi còn nhìn rõ bóng người con gái tóc dài in lên bức rèm cửa cứ
    chốc chốc lại lay động mỗi khi có gió thoảng qua.
    Trong một thoáng, tôi hiểu ra người con gái vô danh kia chính là
    nàng Stéphanette của tôi. Gia Khanh không phải là nàng
    Stéphanette. Gia Khanh chỉ là sao chổi Halley, thoắt hiện ra rồi biến
    mất khỏi cuộc đời tôi. Để cho tôi mừng hụt. Để cho tôi lúc nào cũng
    cảm thấy buồn thiu.
    Trong những giờ phút quạnh hiu nhất của cuộc đời tôi, Gia Khanh
    đã không màng tìm đến. Chỉ có tiếng đàn dương cầm kia kịp lúc đến
    an ủi trái tim tôi, xoa dịu nỗi cô đơn trong lòng người con trai xa xứ.
    Tôi ngồi bệt xuống hiên nhà bên này đường, bâng khuâng nhìn lên ô
    cửa bên kia, nghe tiếng đàn chảy qua lòng như dòng suối mát.
    Tôi không dám băng qua đường. Tôi không dám ngồi dưới cửa sổ
    nhà nàng Stéphanette. Tôi sợ chó dữ nhà nàng xồ ra. Tôi sợ nàng
    hắt nước trúng đầu tôi. Như vậy thì giấc mơ của chàng chăn cừa sẽ
    tan biến.
    Tối đó, tôi về đến nhà khuya lơ khuya lắc. Tiếng đàn đã ru tôi vào
    cơn mơ màng tự lúc nào không hay. Tôi chỉ đứng lên khi tiếng đàn
    đã ngưng, đèn trong nhà đã tắt và hai cánh cửa đã lạnh lùng đóng
    lại.
    Bác Đán hỏi tôi:
    - Sao hôm nay con về muộn thế?

    Tôi nói dối:
    - Con gặp một đứa bạn quen ở trong quê ra.
    Bác Đán không hỏi gì thêm. Có lẽ vì bác thấy tôi buồn buồn. Có lẽ
    bác nghĩ tôi đang nhớ quê sau khi gặp lại bạn cũ.
    Càng ngày bác Đán càng tin chắc điều đó khi thấy tôi dạo này mặt
    cứ thừ ra. Có khi bác bắt gặp tôi thẫn thờ như người mất của.
    Bác Đán tôi đâu có biết đó là lúc chàng chăn cừu của bác đang bồi
    hồi nhớ nàng Stéphanette ngự ở lầu cao.
    Suốt một tuần lễ liền, tối nào cũng thế, sau khi ôm tập ra khỏi cổng
    trường Pascal, dạo một vòng phố xá, tôi lại về ngồi bệt xuống vỉa hè
    đường Nguyễn Du, chong mắt lên ô cửa sổ sáng đèn ở tầng hai bên
    kia đường, ngẩn ngơ nghe tiếng piano phả nhạc xuống tâm hồn.
    Tôi cứ ngồi như thế hằng buổi. Và ngẩn ngơ hằng buổi. Tiếng đàn
    thánh thót của nàng Stéphanette lúc đầu khiến tôi vui, nhưng càng
    về sau càng khiến tôi buồn nẫu ruột. Càng về sau tiếng đàn càng
    khiến tôi thấm thía sự lẻ loi của mình. Càng khiến tôi nhận ra tôi
    đang lủi thủi trên đường khuya giữa một thành phố lạ.
    Nhiều lúc tôi an ủi mình bằng cách nghĩ rằng biết đâu sẽ có một hôm
    nàng Stéphanette thình lình vén rèm và nhìn thấy tôi đang ngồi
    nghệt mặt say sưa thưởng thức tiếng đàn của nàng. Thấy người
    hâm mộ yêu âm nhạc đến mức ngồi bệt dưới đất hằng giờ, chắc
    nàng sẽ vô cùng cảm động. Chắc nàng sẽ phóng xuống đất, tông
    cửa chạy ra và băng qua đường, vội vã đến mức quên mang cả
    dép.
    Nàng sẽ đi chân trần đến trước mặt tôi, ngạc nhiên mấp máy: "Anh
    là ai?" - "Tôi là người yêu tiếng đàn của em" - "Anh ngồi đây tự bao
    giờ?" - "Từ lâu lắm rồi. Giờ này qua giờ khác. Đêm này qua đêm
    khác" - "Ôi, sao em không hề biết?" - "Rèm cửa đã che kín trái tim

    em" - "Sao anh không về nhà đi? Khuya rồi!" - "Tôi đã nghe sương
    xuống trên vai. Nhưng tôi là chàng trai lang thang, chỉ dừng chân nơi
    bến đỗ của tình yêu".
    Nàng Stéphanette học dương cầm, chỉ biết Beethoven, Mozart,
    Schubert, những nhà soạn nhạc thiên tài, khả kính. Chắc nàng
    không bao giờ nghe cải lương. Nên nàng không biết tôi đã thuổng
    những lời đối đáp mùi mẫn kia trong vở "Tình anh bán nón".
    Nàng không biết nên nàng nghe trái tim mình xao xuyến khôn tả.
    Nàng nói "Tội nghiệp anh ghê!" và xúc động nắm lấy tay tôi "Anh
    đứng lên đi!". Tôi đứng lên. "Anh vào nhà em đi, đây chính là bến đỗ
    của anh". Tôi theo nàng bước qua cửa thiên đường...
    Khi tôi mơ thấy tôi bước qua cửa thiên đường cũng là lúc mắt tôi
    nhìn lên và thảng thốt nhận ra cửa sổ phòng nàng đã đóng tự đời
    tám hoánh nào. Chiếc chồi non mơ mộng của tôi chưa kịp đâm hoa
    đã vội héo khô ngay tắp lự.
    Đêm đó, những câu thơ Nguyễn Bính đuổi theo tôi suốt dọc đường
    về:
    Đêm qua và đêm nay
    Và nghìn đêm về trước
    Ta đi trên phố này
    Ta đi trên phố khác
    Hỡi nghìn cái cửa sổ
    Rồi khép vào bên trong
    Có thấu tình ta không
    Có thấu tình ta khổ?
    Cửa hàng nghìn khép lại
    Tất cả một đêm nay
    Có lòng ta rồ dại
    Mở ra muôn ngàn ngày...

    Chương 6

    Tôi rời bỏ lycée Pascal sau mười ngày thử thách. Tôi dựa cột mà
    nghe được chín ngày. Đến ngày thứ mười "thánh" Pierre phát hiện
    ra một con chiên lạ mặt.
    Thật ra mọi sự đổ bể là do tôi.
    Khi dạy tiết Analyse grammatical, thầy Pierre viết câu "Je crains qu'il
    ne vienne" trên bảng rồi kêu cả lớp phân tích từ ne trong câu.
    Đám nhóc tì không đứa nào biết chữ ne đó là hư từ, trả lời sai be
    bét.
    Phần vì ngứa ngáy, phần vì nhớ lời dạy "biết thì thưa thốt" của ông
    bà, tôi liền ngoác miệng hùng hồn:
    - C'est un mot explétif!
    Đang thất vọng trước hàng loạt câu trả lời bá láp, bỗng nghe có
    người đáp trúng, thầy Pierre mừng như bắt được vàng, liền reo lên
    sung sướng:
    - Bien! Très bien!
    Và thầy quay phắt xuống dưới:
    - Qui?
    Cả lớp chong mắt vào tôi khiến tôi đỏ bừng mặt, ngượng ngập đứng
    lên.
    Thầy Pierre nhìn tôi bằng ánh mắt ngạc nhiên, rồi có lẽ tưởng tôi
    siêu môn tiếng Pháp của thầy, thầy liền "nổ" một tràng loằng ngoằng
    khiến tôi muốn té xỉu.
    Rồi thấy tôi ấp a ấp úng, thầy Pierre lại tưởng tôi là bậc chính nhân

    quân tử, quen đức khiêm tốn không thích nói về mình nên "nổ" tiếp
    một tràng nữa để động viên.
    Thấy hỏi liền hai câu mà tôi vẫn giương mắt ếch lên ngó, thầy Pierre
    đâm hoang mang. Thầy đưa tay vuốt mái tóc đẹp, ngờ ngợ nhìn tôi:
    - Comprenez-vous?
    Lần này thì tôi nghe rõ. Từ hồi bắt đầu học tiếng Pháp đến nay, đây
    là mẫu câu tôi nghe đã đến thuộc lòng: "Trò có hiểu không?".
    Gặp câu hỏi quen thuộc, tôi mừng quýnh như gặp bạn cố tri nơi đất
    khách quê người, liền nhanh nhẩu:
    - Non! Non!
    Tôi nói "Em không hiểu" mà mặt cứ tươi hơn hớn. Tất nhiên mặt tôi
    rạng rỡ bao nhiêu thì mặt thầy Pierre buồn thảm bấy nhiêu. Tôi đã
    làm tan vỡ giấc mơ phát hiện nhân tài của thầy. Trong thâm tâm tôi
    cũng cảm thấy áy náy nhưng chẳng biết làm sao. Tôi rất muốn đem
    lại niềm vui cho thầy nhưng việc đó quả thực nằm ngoài khả năng
    của tôi.
    Thầy Pierre nhìn xoáy vào mặt tôi thêm một lúc như để xác nhận
    câu trả lời thông thái vừa rồi của tôi là hiện tượng "chó ngáp phải
    ruồi", rồi uể oải vẫy tay ra hiệu cho tôi ngồi xuống.
    Tôi ngồi xuống và ngay trong khoảnh khắc ấy, tôi biết chắc mình
    không đủ can đảm tái ngộ "thánh" Pierre và đám con chiên lóc chóc
    của thầy thêm một lần nào nữa.
    Ngày hôm sau tôi giã từ lycée Pascal, giã từ khuôn viên xinh đẹp với
    những bồn hoa và lối đi rãi sỏi, giã từ giấc mộng trở thành học sinh
    trường Tây.
    Nhưng dù không còn đi học thêm, chiều chiều tôi vẫn áo quần tề
    chỉnh ôm tập ra khỏi nhà.

    Bác Đán không biết dạo này tôi không hề bén mảng đến thiên
    đường do "thánh" Pierre canh giữ mà mon men đến thiên đường
    của nàng Stéphanette trên đường Nguyễn Du.
    Tôi đến trước cửa nhà nàng với vẻ sùng kính của một con chiên
    ngoan đạo đến trước cửa nhà thờ. Tôi đến đó để chiêm bái tình yêu.
    Dẫu là tình yêu trong tưởng tượng. Dẫu nàng Stéphanette chưa một
    lần ngứa tay vén rèm cửa sổ. Và lẽ dĩ nhiên là nàng không hề biết
    đêm đêm vẫn có một người ngồi bên kia đường say sưa nghe tiếng
    đàn của nàng và mê mải ngắm bóng nàng in trên rèm cửa.
    Trong thời gian đó, tôi bắt đầu làm thơ.
    Năm ngoái tôi đã từng cộng tác với "giáo sư" Bá làm những bài thơ
    con cóc, bị thằng Ngữ tức nhà thơ Ngu Kha chê tới chê lui. Nhưng
    năm ngoái tôi chưa biết buồn, tôi chưa biết cô đơn, tôi không có nỗi
    ưu tư nào cần giải tỏa. Tôi làm thơ chỉ để mong in lên báo tường
    của lớp. Vì vậy, thơ tôi dở ẹc. Vì nó không có hồn.
    Năm nay thơ tôi đẫm nhớ nhung. Chàng chăn cừu làm thơ cho nàng
    Stéphanette, thơ bắt buộc phải hay.
    Những vần thơ cô độc chảy ra từ trái tim tôi:
    Tôi là chàng chăn cừu cô đơn lang thang trên đồng cỏ
    Đêm không biết làm gì, ngồi đếm sao thưa
    Có những lúc buồn không sao ngủ được
    Mơ hồ tiếng ai trong tiếng gió lùa
    Bác Đán thấy tôi những ngày gần đây hết ngơ ngơ ngác ngác lại tối
    tối chong đèn thức khuya lơ khuya lắc, lấy làm tò mò lắm.
    Một hôm, bác hỏi:

    - Con làm gì đấy hở con?
    Thoạt đầu, tôi định chối. Nhưng không hiểu sao tôi lại thú thật:
    - Con đang làm thơ.
    Bác Đán gật gù:
    - Những khi nhớ quê, người ta thường làm thơ con ạ!
    Bác Đán tưởng tôi nặng lòng sầu xứ. Bác cổ vũ tôi:
    - Con cứ làm thơ đi. Những vần thơ sẽ giúp con vơi đi nỗi nhớ!
    Tôi không đính chính, chỉ ậm ừ.
    Nào ngờ bác Đán chìa tay ra:
    - Con đưa cho bác xem thử nào.
    Không biết làm sao từ chối, tôi rụt rè đưa bài thơ đang làm dở cho
    bác.
    Trong khi bác đọc, tôi lấm lét nhìn trộm, thấy mày bác càng lúc càng
    nhíu lại.
    Đọc gần hết bài thơ, bác ngỡ ngàng kêu lên:
    - Như vậy là con đang nhớ con bé nào chứ đâu phải đang nhớ quê!
    Tôi cúi gầm mặt, không đáp.
    - Có đúng vậy không con?
    Tôi lí nhí, vẫn không ngẩng đầu lên:

    - Dạ.
    Tôi tưởng bác Đán sẽ rầy la, mắng mỏ. Nhưng bác chỉ thở dài:
    - Cháu của bác đã là chàng thanh niên mà bác không để ý.
    Và bác khuyên, giọng ân cần:
    - Nhưng dù sao cũng đừng để bọn con gái hớp mất hồn con ạ. Đời
    con còn bao nhiêu việc phải làm.
    Tôi lại "dạ", và không biết nói gì thêm.
    Khuya đó, tôi cặm cụi làm cho xong bài thơ và sáng hôm sau gửi
    cho một tờ báo ở Sài Gòn: tuần báo Bạn Trẻ.

    Chương 7

    Tôi gửi thơ cho tuần báo Bạn Trẻ là gửi cho vui, không mong gì
    được đăng.
    Sau ba tuần đọc "cọp" báo Bạn Trẻ ở hiệu sách gần trường, chẳng
    thấy bài thơ của mình đâu, tôi chán nản không màng theo dõi nữa.
    Tôi thất vọng hiểu rằng mộng ước trở thành thi sĩ của tôi thế là đã
    tan thành mây khói.
    Nhưng cuộc đời không hoàn toàn tệ bạc với tôi. Những ngày đó, tôi
    phấn khởi nhận ra tụi học sinh chuyển qua từ lycée Pascal không
    siêu đẳng như tôi tưởng.
    Tụi nó nói tiếng Pháp như gió nhưng khi làm bài tập grammaire,
    chúng thường ít điểm hơn tôi. Và khi làm rédaction, tức môn luận
    văn, chúng càng thua tôi rõ rệt. Thua cả thằng Hồng Hà.
    Tụi lycée Pascal viết tiếng Pháp như viết tiếng mẹ đẻ, dùng temps
    dùng mode chính xác cực kỳ, nhưng ý tưởng lại đơn giản.
    Trong khi tôi và Hồng Hà được trui rèn trong văn chương tiếng Việt
    từ bé, bốn năm học phân tích bình giảng văn thơ đến chóng mặt, do
    đó khi làm luận văn, ý tưởng của hai đứa tôi luôn luôn phong phú
    hơn. Đó cũng là nhận xét của thầy Xuân Thu. Bao giờ chấm bài tập
    rédaction của tôi, thầy cũng hào phóng phê "ý dồi dào, văn gãy gọn".
    Hôm bài rédaction đầu tiên được phát ra, thấy bài làm của tôi cao
    điểm nhất, tụi Pascal ngạc nhiên lắm. Chúng không tin một tên học
    sinh tỉnh lẻ lù khù, lần nào bị thầy Xuân Thu kêu lên cũng đứng ngay
    cán cuốc lại có "tài" đến thế.
    Chúng cứ nhìn về phía tôi, xì xào bàn tán. Thằng Đông Anh ngồi
    gần tôi nhất. Ngập ngừng một lát, nó chìa tay ra:
    - Ê, Khoa! Cho tao mượn bài làm của mày coi chút nào!

    Tôi rụt rè đưa tờ giấy cho nó, bụng thấp thỏm không biết tụi này định
    khiếu nại, kiện cáo gì về bài làm của tôi với thầy Xuân Thu đây.
    Thằng Đông Anh coi bài của tôi lâu thật lâu, xong chuyền qua cho
    thằng Diên bên cạnh. Một lát, thằng Diên chuyền cho thằng Bội.
    Thằng Bội chuyền cho thằng Minh Khôi.
    Sau khi tụi Pascal chuyền lòng vòng một hồi, thằng Đông Anh đưa
    trả bài lại cho tôi, miệng xuýt xoa thán phục:
    - Đứa nào cũng khen mày viết văn hay! Tụi tao không bắt chước
    cách viết bay bướm của mày được.
    Tôi thở phào. Hóa ra tụi Pascal không nhỏ mọn như tôi nghĩ. Chúng
    mượn bài làm của tôi để xem cho biết, để "học hỏi", chứ không phải
    để "vạch lá tìm sâu" như những kẻ đố kỵ.
    Tự nhiên tôi thấy khoảng cách giữa một học sinh tỉnh lẻ như tôi với
    tụi học sinh trường Tây được thu ngắn đáng kể.
    Tôi nói với Đông Anh:
    - Tao viết chả có gì đặc biệt. Tụi mày thừa sức viết như tao.
    Đông Anh cười hiền lành:
    - Mày khiêm tốn đấy hở?
    Tôi cũng cười:
    - Đâu có.
    Tôi nói "đâu có" và tôi tiếp tục đạt điểm cao nhất ở môn rédaction lần
    thứ hai, lần thứ ba và không lần nào chịu tụt xuống hạng nhì từ đó
    cho đến cuối năm.

    Nói cho đúng ra, sở dĩ tôi toàn thắng ở môn rédaction phần lớn nhờ
    sự giúp đỡ nhiệt tìn...
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn. (Barack Obama)

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT CẨM GIÀNG II - HẢI DƯƠNG !