Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng Sản Việt Nam
Bài 7 Những điều trông thấy

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: may
Người gửi: Trần Ngọc Ngoan (trang riêng)
Ngày gửi: 03h:49' 02-10-2023
Dung lượng: 170.4 KB
Số lượt tải: 154
Nguồn: may
Người gửi: Trần Ngọc Ngoan (trang riêng)
Ngày gửi: 03h:49' 02-10-2023
Dung lượng: 170.4 KB
Số lượt tải: 154
Số lượt thích:
0 người
Bài 7: Những điều trông thấy
Soạn bài Tri thức ngữ văn trang 33 Tập 2 - Chân trời sáng
tạo
1. Điểm nhìn trong truyện thơ: Truyện thơ thường sử dụng điểm
nhìn ngôi thứ ba toàn tri. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, truyện
thơ cũng sử dụng điểm nhìn ngôi thứ ba hạn tri từ một số nhân vật
như điểm nhìn của nhân vật “anh” trong Tiễn dặn người yêu (truyện
thơ dân tộc Thái) hoặc điểm nhìn của nhân vật Thuý Kiều ở một số
đoạn trong Truyện Kiều (Nguyễn Du).
2. Nhân vật và đối thoại, độc thoại nội tâm: Nhân vật trong tác
phẩm truyện thường được khắc họa không chỉ thông qua các chi tiết
miêu tả ngoại hình, hành động mà còn qua ngôn ngữ giao tiếp và
đời sống nội tâm của nhân vật, tức là thông qua đối thoại, độc thoại
nội tâm.
3. Bút pháp miêu tả nội tâm trong truyện thơ Nôm và "Truyện
Kiều”: Việc miêu tả nội tâm của nhân vật trong truyện thơ Nôm bác
học có thể thực hiện theo nhiều cách: bằng lời đối thoại, độc thoại
của chính nhân vật bằng những dòng thơ miêu tả phong cảnh thiên
nhiên, hay kể, tả về hành vi, cử chỉ của nhân vật; qua các dòng thơ
mà người kể chuyện trực tiếp nhận xét, phân tích trạng thái tâm lí,
cảm xúc của nhân vật,... Trong đoạn độc thoại nội tâm của nhân vật
Từ Hải trên đây, tâm lí của Từ Hải được miêu tả trước hết qua nhận
xét trực tiếp của người kể chuyện (Từ công riêng hãy mười phân hồ
đồ) và sau đó, qua độc thoại nội tâm của Từ Hải.
4. Biện pháp tu từ đổi: đặc điểm và tác dụng:
Đối là biện pháp tu từ đặt những từ ngữ có âm thanh và ý nghĩa
tương phản hoặc tương hỗ vào vị trí cân xứng để tạo nên sự hài
hoà về ý nghĩa, đồng thời làm nên nhạc điệu cho câu thơ, câu văn.
Ví dụ:
Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Trong ví dụ trên, các từ trong hai vế “thành xây khói biếc” và “non
phơi bóng vàng” tạo thành từng cặp tương ứng, cân xứng với nhau
về nội dung giống nhau về từ loại (thành – non, xây – phơi, khói –
bóng, biếc – vàng), trái nhau về thanh điệu bằng trắc (biếc – vàng)
tạo nên vẻ đẹp hài hoà cho câu thơ.
Biện pháp tu từ đối được sử dụng trong thơ (đặc biệt là thể thơ
Đường luật bát cú), trong văn xuôi ở cấp độ câu, đoạn văn hoặc văn
bản. Ví dụ, biện pháp tu từ đổi trong hai câu 3 – 4 của bài Qua Đèo
Ngang (Bà Huyện Thanh Quan):
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lúc đác bên sông chợ mấy nhà.
Đây là biện pháp tu từ có tác dụng tạo sự cân xứng về ý nghĩa và
nhạc điệu, tạo nên cái đẹp hài hoà theo quan niệm truyền thống của
người Việt Nam. Tác dụng này thể hiện rất rõ trong hai dòng thơ
trên.
Ngoài ra, biện pháp này còn có tác dụng giúp miêu tả sự việc, cảnh
vật một cách cô đúc, khái quát mà không cần liệt kê, kể lể dài dòng.
Soạn bài Trao duyên - Chân trời sáng tạo
* Chuẩn bị đọc:
Câu hỏi (trang 38 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Trong cuộc sống, đôi
khi có những điều rất khó nói, nhưng vẫn phải tìm cách nói ra để
nhận được sự cảm thông, chia sẻ của một người nào đó. Đã bao
giờ bạn gặp một tình huống như vậy chưa? Hãy chia sẻ với các bạn
hoặc lắng nghư chia sẻ của bạn về trải nghiệm dó.
Trả lời:
- Đó là lần bản thân bị điểm kém trong bài thi văn cuối học kì. Do lo
sợ bị bố mẹ mắng nên không dám nói ra. Sau một thời gian suy
nghĩ kĩ, em đã quyết định nói với bố mẹ và mong bố mẹ có thể chia
sẻ với mình.
* Trải nghiệm cùng văn bản:
1. Theo dõi: Phân biệt lời của người kể chuyện và lời của nhân vật
trong đoạn này.
- Lời người kể chuyện từ “Nỗi riêng riêng những bàn hoàn……Dưới
đèn ghé đến ân cần hỏi han:”
- Lời nhân vật (xác định được thông qua dấu ngoặc kép để ngăn
cách lời người kể. lời nói của nhân vậtvật và dấu hai chấm để thông
báo cho người đọc đoạn thoại của nhân vật ở đoạn sau): “Cơ trời
dâu bể đa đoan ... Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây?” và câu thơ
“Lòng đương thổn thức đầy”
2. Suy luận: Cách mở đầu cho câu chuyện sắp nói với Thuý Vân
của Kiều có gì khác thường?
- Hai từ “cậy em” làm toát lên sự tin tưởng đến mức tuyệt đối của
Thúy Kiều ở người em gái thân yêu, trong lời mở đầu ấy chứa đựng
sự dằn vặt, day dứt và mới khiến Kiều trở nên băn khoăn, ngập
ngừng.
- Kiều là chị, vai vế và tuổi tác lớn hơn Thúy Vân nhưng lại có hành
động “lạy rồi sẽ thưa”.
→ Cách mở đầu cho câu chuyện sắp nói với Thúy Vân của Kiều đã
giúp cho không khí của thời khắc “trao duyên” trở nên trang trọng
hơn bao giờ hết.
3. Tưởng tượng: Bạn hình dung thế nào về dáng vẻ, tâm trạng,
giọng nói của Thuý Kiều trong đoạn từ dòng thơ 741 đến dòng 756
ở cuối văn bản?
- Kiều giằng xé trong nội tâm, đau đớn và nhớ thương Kim Trọng.
Tâm trạng đau đớn đến cùng cực của Thúy Kiều khi hướng về tình
yêu của mình và Kim Trọng.
* Suy ngẫm và phản hồi:
Nội dung chính:
Đoạn trích thể hiện bi kịch trong tình yêu của Thúy Kiều qua đó thể
hiện tiếng kêu đau đớn của tác giả về số phận con người trong xã
hội phong kiến.
Câu 1 (trang 41 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Việc “trao duyên” và cuộc
trò chuyện giữa chị em Thuý Kiều – Thuý Vân được thuật lại theo
ngôi kể nào? Những dấu hiệu nào giúp bạn nhận biết điều đó?
Trả lời:
- Việc “trao duyên” và cuộc trò chuyện giữa chị em Thuý Kiều –
Thuý Vân được thuật lại từ ngôi thứ ba.
- Dấu hiệu nhận biết:
+ Sự phân biệt giữa lời của người kể chuyện (bốn dòng thơ đầu, từ
“rằng”, hai dòng thơ cuối) và lời của nhân vật (đánh dấu bằng dấu
hai chấm, dấu gạch ngang và trích dẫn nguyên văn lời của các nhân
vật) cho thấy câu chuyện do một người kể chuyện (không phải nhân
vật) kể lại.
+ Cách người kể chuyện gọi tên nhân vật (“Thuý Vân”) và cách
thuật lại nguyên văn từ ngữ xưng gọi “chị”, “em” giữa hai chị em
Thuý Kiều – Thuý Vân.
Câu 2 (trang 41 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Xác định số dòng thơ biểu
đạt lời của mỗi nhân vật. Chỉ ra sự khác biệt về độ dài (tính bằng số
dòng thơ) giữa lời thoại của hai nhân vật và giải thích sự khác biệt
ấy.
Trả lời:
Nhân vật
Thúy Vân
Thúy Kiều
Số dòng thơ biểu đạt
4 dòng (thơ lục bát)
38 dòng (thơ lục bát)
lời thoại.
Tỉ lệ trên toàn văn bản.
4/48
38/48
Có sự khác biệt rất lớn về độ dài giữa lời thoại của Thúy Kiều so
với lời thoại của Thúy Vân, vì: Thúy Kiều là người kể, người nói
chính, nhờ cậy, gửi gắm, do vậy cần một câu chuyện có đầu có
đuôi, đầy tâm trạng và nỗi niềm. Lời của Kiều nhằm thực hiện mục
đích thuyết phục một vấn đề hết sức tế nhị, khó khăn. Trong khi đó,
Thúy Vân là người nghe, chia sẻ; chỉ cần “hỏi han” gợi chuyện cho
Kiều bày tỏ.
Câu 3 (trang 41 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Lời thoại của Thuý Vân
có vai trò như thế nào đối với sự tiến triển của câu chuyện?
Trả lời:
Những lời thoại của Thuý Vân lại chiếm giữ nhiều vai trò quan trọng
đối với sự tiến triển của câu chuyện:
- Lời “ân cần hỏi hạn” của Thuý Vân là một cách mang lại tình cảm
chị em ấm áp đối với người chị đang rất mực cô đơn với gánh nặng
tinh thần chưa biết chia sẻ cùng ai.
- Lời của Thuý Vân đã tạo một tình huống, cơ hội tự nhiên cho Thuý
Kiều kể chuyện, bày tỏ nỗi lòng.
- 'Thuý Kiều được lời như cởi tấm lòng, mạnh bạo, tự tin để trao
duyên, nhờ em thay mình lấy Kim Trọng.
- Thuý Vân chỉ ăn cẩn hỏi han rồi lặng lẽ, chăm chú lắng nghe
(không ngắt lời chị), nhờ đó câu chuyện và ý nguyện “trao duyên”
của Kiều được biểu đạt đầy đủ, trọn vẹn (đến mức nói xong nàng
ngất đi).
Câu 4 (trang 41 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Đọc kĩ lời thoại của Thuý
Kiều và cho biết:
a. Lời thoại của Kiều trong văn bản là tự sự, biểu cảm hay kết hợp
tự sự với biểu cảm?
b. Từ dòng thơ 741 đến dòng thơ 756, lời của Thuý Kiểu hướng đến
ai; là đối thoại, độc thoại hay độc thoại nội tâm?
Trả lời:
a. Lời thoại của Kiều trong văn bản có yếu tố trữ tình và yếu tố tự
sự.
b. Đoạn thơ từ dòng thơ 741 đến dòng thơ 756 để nhận ra sự thay
đổi đột ngột đối tượng người nghe trong lời thoại của Thuý Kiều ở
cuối cuộc “trao duyên:
– Thuý Kiều đang nói với Thuý Vân mà như đang nói với Kim Trọng
(đối thoại với người nghe vắng mặt, vẽ thực chất cũng gần như độc
thoại): Trăm nghìn gửi lạy tình quân, Tơ duyên ngắn ngủi có ngần
ấy thôi.
– Thuý Kiều đang nói Kim Trọng mà như đang nói với chính mình
(độc thoại trong khi đối thoại): Phận sao phận bạc như vôi, Đã đành
nước chảy hoa trôi lỡ làng.
– Thuý Kiều đang nói với bản thân rồi lại đột nhiên nói vọng tới Kim
Trọng (đối thoại mà như độc thoại): Ơi Kim Lang! Hơi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
= > Các trường hợp trên là những lời nói ra, nhưng không phải nói
với người đối diện. Cuối cuộc “trao duyên, dường như Thuý Kiều đã
quên đi Thuý Văn đang trước mặt để chỉ nghĩ đến Kim Trọng và sự
mất mát lớn lao của bản thân. Hình như nàng đang nói với người
yêu vắng mặt (Kim Trọng đang ở Liêu Dương cách xa nghìn trùng)
hoặc đang nói với chính mình (độc thoại). Đó không phải là lời nói
thẩm trong lòng nên không phải là độc thoại nội tâm. Có thể gọi đó
là dạng lời “nửa đối thoại nửa độc thoại” (hay lời “độc thoại hoá đối
thoại” theo quan niệm của Trần Đình Sử).
= > Dạng lời thoại như vậy có tác dụng thể hiện tâm trạng phức tạp
của Thuý Kiều trong cuộc “trao duyên”. Nguyễn Du đã hiểu rõ tâm
trạng đó và miêu tả một cách tường tận, sinh động với khả năng
thấu cảm của một nghệ sĩ thiên tài.
Câu 5 (trang 41 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Chỉ ra sự thay đổi trong
tâm trạng của Thuý Kiều trước, trong và sau khi trao kỉ vật cho Thuý
Vân.
Trả lời:
- Trước khi trao kỉ vật: Kiều một mình đắm chìm trong trạng thái bối
rối, thao thức, dằn vặt cao độ: Nỗi riêng riêng những bàn hoàn Dầu
chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn. Khi cơ hội đến từ lời “hỏi han” ân
cần của Thuý Vân, Thuý Kiều trước hết nói đến sự khó xử của
mình: Hở môi ra cũng thẹn thùng/ Để lòng thì phụ tấm lòng với ai;
sau đó là lời cậy nhờ tha thiết: Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em...
- Khi trao kỉ vật:
+ Thuý Kiều nói rõ từng thứ một: chiếc vành (vòng xuyến mà Kim
Trọng tặng Thuý Kiều); bức tờ mây (bức chữ thể nguyền, giao ước
kết đôi giữa hai người); phím đàn (phím đàn mà Thuý Kiều từng gảy
cho Kim Trọng nghe); mảnh hương nguyền (mảnh hương trầm đốt
trong đêm thề nguyền còn sót lại) ... Đó đều là những thứ vô cùng
quý giá đối với Kiều, nhưng đã trao duyên thì đành phải trao kỉ vật
làm tin.
+ Thuý Kiều đã phải vượt lên trên sự dằn vặt, lưu luyến, tiếc nuối khi
dùng đến các từ ngữ chỉ kỷ vật như “của chung” (Duyên này thì giữ
vật này của chung), “ngày xưa” (Phím đàn với mảnh hương nguyền
ngày xưa); trong lời nói với Thuý Vân, nàng hình dung mai sau mình
trở về như một hồn ma trong gió và cầu xin một niềm cảm thương,
một ân huệ khiêm nhường nhất: Dạ đài cách mặt khuất lời/ Rảy xin
chén nước cho người thác oan.
- Sau khi trao kỉ vật:
+ Trao xong kỉ vật, Kiểu càng nghĩ nhiều đến Kim Trọng và tình yêu.
Tình cảm nàng dành cho Kim Trọng và mối tình đầu phải tính đếm
bằng “muôn vàn”; ân tình nàng dành cho Kim Trọng cũng không sao
kể xiết nên đã bái biệt bằng “trăm nghìn... lạy” ...
+ Chợt nghĩ đến phận mình, nàng lâm vào trạng thái tột cùng đau
khổ, dằn vặt trước sự thật phũ phàng, mất mát không thể bù
đắp (Phận sao phận bạc như vôi/ Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ
làng). Rồi nàng nức nở gọi tên Kim Trọng và nói lời vĩnh biệt xót xa:
Ôi Kim Lang Hỡi Kim Lang! Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!.
Có lẽ Thuý Kiều đã dành hết sự tỉnh táo cuối cùng để hoàn thành
cái việc rất khó là thuyết phục Thuý Vân thay mình lấy Kim Trọng. Vì
thế, sau khi trao duyên, đối diện với Kim Trọng và với lương tâm thì
đã quá sức chịu đựng của nàng. Phải là người từng tích luỹ biết bao
nhiêu “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” trước những “bể
dâu” và phải là người có “con mắt nhìn suốt sáu cõi, tấm lòng nghĩ
suốt nghìn đời thì tác giả mới có thể miêu tả được nỗi lòng Thuý
Kiều sâu sắc, thần tình như vậy.
Câu 6 (trang 41 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Xác định chủ đề của văn
bản Trao duyên và cho biết, phần văn bản này có vai trò như thế
nào trong việc góp phần thể hiện chủ đề của Truyện Kiều.
Trả lời:
- Chủ đề của VB Trao duyên: Lời nói, tâm trạng, cảm xúc của Thuý
Kiều khi thuyết phục Thuý Vân thay mình lấy Kim Trọng.
- Vai trò của VB Trao duyên trong việc thể hiện chủ đề chung của
Truyện Kiều: Nếu xem chủ đề chung của Truyện Kiều là tiếng kêu
đau thương về cuộc đời ba chìm bảy nổi của nàng Kiểu thì Trao
duyên là tiếng kêu trước nỗi đau đầu đời của nàng. Nỗi đau này kéo
theo nhiều nỗi đau khác trong suốt mười lăm năm lưu lạc của Kiều.
* Bài tập sáng tạo (trang 41 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Vẽ một bức
tranh hay dựng một hoạt cảnh sân khấu hóa về cuộc trao duyên.
Trả lời:
Soạn bài Độc Tiểu thanh kí - Chân trời sáng tạo
* Chuẩn bị đọc:
Câu hỏi (trang 41 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Bạn hiểu thế nào là “tri
âm” và biết thanh ngữ, tục ngữ hay tác phẩm văn học nào nói về
chuyện “tri âm”? Hãy chia sẻ với các bạn trong lớp.
Trả lời:
- “tri âm” là cụm từ đề cập đến việc hai người có tình cảm sâu nặng
với nhau, có thể cảm nhận được những suy nghĩ, tình cảm, sự chia
sẻ và những điều không nói ra của đối phương một cách rõ ràng, dù
không cần phải nói ra.
- Những thành ngữ, tục ngữ hay tác phẩm văn học nói về chuyện “tri
âm”:
+ “Chữ người tử tù” - Nguyễn Tuân.
+ “Khóc Dương Khuê” - Nguyễn Khuyến.
* Trải nghiệm cùng văn bản:
1. Theo dõi: Đối chiếu bản phiên âm với bản dịch nghĩa theo từng
dòng, từng cặp câu để hiểu nghĩa và nội dung bài thơ.
- Nội dung bài thơ: nói về cuộc đời của một người phụ nữ tên là
Tiểu Thanh, người đã phải trải qua nhiều sóng gió trong cuộc đời
mình. Qua đó thể hiện được những cảm xúc, suy tư của tác giả về
số phận bất hạnh của người phụ nữ xã hội cũ.
2. Suy luận: Hai dòng thơ cuối có mối liên hệ như thế nào với sáu
dòng thơ đầu?
- Sáu dòng thơ đầu được sử dụng để miêu tả cuộc đời Tiểu Thanh,
những thăng trầm và nỗi đau trong cuộc đời của cô.
- Hai dòng thơ cuối đưa ra một khía cạnh nhìn khác về cuộc sống và
nhân sinh, và cũng giúp cho tác phẩm trở nên sâu sắc hơn trong
việc truyền tải thông điệp của mình đến độc giả.
* Suy ngẫm và phản hồi:
Nội dung chính:
Bài thơ “Độc “Tiểu Thanh kí”” thể hiện cảm xúc, suy tư của Nguyễn
Du về số phận bất hạnh của người phụ nữ có tài văn chương trong
xã hội phong kiến. Đồng thời, qua đó cũng thể hiện một phương
diện quan trọng trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du: xót xa
cho những giá trị tinh thần bị chà đạp.
Câu 1 (trang 43 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Chủ thể trữ tình và tác giả
ở tác phẩm này có phải là một? Căn cứ vào các chi tiết nào trong
văn bản để bạn xác định như vậy?
Trả lời:
- Chủ thể trữ tình: ngã/ ta.
- Căn cứ nhận biết chủ thể trữ tình: Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất
ngã/ ta ở dòng thơ thứ sáu: Phong vận kì oan ngã tự cư: Ta tự coi
như người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong
nhã. Từ đây, đọc ngược lên các dòng thơ trước, hoàn toàn có thể
hiểu rằng chủ thể của tất cả các dòng thơ 2, 3, 4, 5 cũng chính là
ngã/ ta, được ẩn đi. Bản dịch nghĩa trong SGK đã cho thấy điều này:
Vườn hoa bên Tây Hồ đã thành bãi hoang rồi,
(Chỉ mình ta) thương nàng trước cửa sổ qua một tập sách giấy
mỏng.
Son phấn có thần, khiến (ta) xót thương nàng sau khi nàng đã chết,
Văn chương không có số mệnh tốt, khiến (ta) khổ lụy vì tập thơ bị
đốt dở.
Những mối hận cổ kim, (ta) khó mà hỏi trời được.
Ta tự coi như người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết
phong nhã.
Câu 2 (trang 43 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Phân tích tình cảm, cảm
xúc của chủ thể trữ tình đối với số phận của nàng Tiểu Thanh (chú ý
từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ,... trong sự đối sánh giữa bản
phiên âm và bản dịch nghĩa, dịch thơ).
Trả lời:
Dòng thơ
Từ ngữ, hình ảnh,
Tác dụng thể hiện tình cảm, cảm xúc
biện pháp tu từ
1
Cảnh đẹp (Tây Hồ) hóa Hình ảnh gợi nỗi buồn thương trước sự
gò/ bãi hoang.
đổi thay, phai tàn của cái đẹp.
2
Nhất chỉ thư: tập sách - Hình ảnh gợi niềm thương xót, ái ngại
giấy mỏng.
trước thân phận bé mọn của nàng Tiểu
Thanh.
Độc điếu: một mình (ta)
thương khóc.
- Từ ngữ vừa trực tiếp biểu lộ tình cảm,
vừa cho thấy số phận hẩm hiu, cô độc
của Tiểu Thanh.
Son phấn có thần.
Biểu tượng thể hiện thái độ trân trọng,
niềm tin sẽ tìm gặp được tri âm ở hậu
thế.
Tập thơ bị đốt dở
Hình ảnh gợi niềm thương xót cho
những ai không có mệnh tốt như Tiểu
Thanh hay khách văn nhân.
3
4
5-6
Mối hận cổ kim (cổ kim Từ ngữ, biện pháp tu từ đối thể hiện nỗi
hận sự)…
đau đời và tiếng kêu thương cho số
phận của những ai tài hoa mà bạc
mệnh.
5-6
… trời khôn hỏi (thiên Từ ngữ, biện pháp tu từ đối thể hiện sự
nan vấn)
ai oán, tự đồng nhất mình với những kẻ
tài hoa mà bạc mệnh (điều này chuẩn bị
… ngã tự cư
cho tình ý sẽ thể hiện tiếp theo ở hai
dòng thơ 7 – 8).
Câu 3 (trang 43 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Hãy chỉ ra mối liên hệ về
nội dung giữa sáu dòng thơ đầu và hai dòng thơ cuối. Từ đó, bạn
hiểu gì về tâm sự của Nguyễn Du và thời đại của ông?
Trả lời:
- Sáu dòng thơ đầu: Niềm xót thương cho số kiếp hồng nhan bé
mọn, hẩm hiu, bất hạnh của nàng Tiểu Thanh.
- Hai dòng thơ cuối: Niềm xót thương cho bản thân (Tố Như) và nỗi
mong mỏi có bạn tri âm, ít ra là trong hậu thế. Tố Như là tên chữ
của Nguyễn Du. Nói “khóc cho Tổ Như” (khắp Tố Như) tức là nói tri
âm tri kỉ với Tố Như, hiểu nỗi lòng Tố Như, thương xót cho Tổ Như
như Tố Như thương xót cho Tiểu Thanh.
- Mối liên hệ giữa sáu dòng thơ đầu với hai dòng thơ cuối của văn
bản thoạt nhìn có vẻ như có sự đứt gãy, nhưng xem xét kĩ sẽ thấy
giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ. Đó là mối quan hệ tiếp nối tự
nhiên theo logic liên tưởng tương đồng. Tác giả trông người lại
ngẫm đến ta, thấy càng “thương người” thì càng “thương mình”. Cái
tên “Tố Như” xuất hiện ở dòng thơ thứ tám tuy có chút bất ngờ
nhưng lại được đặt trong sự đối sánh với cái tên Tiểu Thanh trong
nhan đề và sáu dòng thơ đầu. Cụm từ “ngã tự cư” trong dòng thơ
thứ sáu (Ta tự coi như người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ
lùng vì nết phong nhã) chính là cái bản lề giữa hai phần của bài thơ.
Câu 4 (trang 43 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Xác định cảm hứng chủ
đạo và thông điệp mà tác giả muốn gửi đến độc giả qua bài thơ. Từ
việc đọc hiểu bài thơ trên, bạn rút ra được lưu ý gì khi đọc một bài
thơ chữ Hán của Nguyễn Du?
Trả lời:
- Cảm hứng chủ đạo: Niềm thương cảm chân tình sâu xa đối với
những số phận như nàng Tiểu Thanh và những khách văn nhân
như bản thân nhà thơ Nguyễn Du.
- Thông điệp: Tình tri âm, tri kỉ hay là sự thấu cảm và tình thương
yêu giữa người với người là vô cùng quý báu, không thể thiếu trong
cuộc sống của mỗi người.
- Một số lưu ý khi đọc một bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du:
+ Cần tra cứu điển tích, điển cố hay nghĩa của từ khó thường được
nêu trong các cước chú.
+ Cần đối chiếu bản phiên âm chữ Hán với bản dịch nghĩa, dịch thơ.
+ Cần vận dụng tri thức nền về tác giả và thể loại.
+ Cần lưu ý đến mối quan hệ chỉnh thể độc đáo ở mỗi bài thơ.
Ví dụ: Khi đọc một bài thơ thất ngôn bát cú luật Đường như Độc
“Tiểu Thanh kí, ngoài việc theo sát bố cục đề – thực – luận – kết còn
phải chú ý đến mạch nội dung cảm xúc của bài thơ. Có như vậy mới
nhận biết và đánh giá được mối quan hệ nội dung cảm xúc giữa sáu
dòng thơ đầu với hai dòng thơ cuối bài Độc“Tiểu Thanh kể.
Câu 5 (trang 43 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Bình luận ý kiến cho rằng:
trong các nhân vật Tiểu Thanh (Độc “Tiểu Thanh kí), Thuý Kiều
(Truyện Kiều) đều có hình bóng của Nguyễn Du.
Trả lời:
- Hình bóng của tác giả có thể hiểu là hình ảnh hay dấu ấn con
người thực của tác giả. Hình bóng của một tác giả trong nhiều
trường hợp thường in đậm trong tác phẩm văn chương (truyện, kí,
thơ,...) – đứa con tinh thần của mình. Tuy nhiên, với mỗi thể loại,
hình ảnh hay dấu ấn ấy được thể hiện theo cách riêng. Trong tác
phẩm thơ trữ tình, hình bóng của tác giả nếu có, thường được thể
hiện trực tiếp; còn trong tác phẩm truyện (tác phẩm tự sự hư cấu),
hình bóng được thể hiện gián tiếp.
- Trong hai tác phẩm Độc Tiểu Thanh kí và Truyện Kiều, không khó
để người đọc nhận ra hình ảnh hay dấu ấn con người thực của tác
giả Nguyễn Du qua hai nhân vật nữ (Tiểu Thanh và Thuý Kiều), tuy
nhiên, cách thể hiện là khác nhau, theo đặc điểm riêng của thể loại.
+ Trong Độc Tiểu Thanh kí” – một bài thơ trữ tình – tác giả gần như
đã đồng nhất nỗi cô đơn, thiếu vắng tri âm của Tiểu Thanh với tình
trạng tương tự của Tố Như (tức Nguyễn Du), bất hạnh của Tiểu
Thanh cũng là bất hạnh của Nguyễn Du; thương xót Tiểu Thanh
cũng chính là cách Nguyễn Du thương xót mình (dĩ nhiên, không
nên quên rằng, ở đây, còn có một hình bóng khác của Nguyễn Du
đa sầu đa cảm trước “những điều trông thấy” qua hình ảnh chủ thể
trữ tình xưng “ta”).
+ Trong Truyện Kiều – một truyện thơ Nôm (hay một tiểu thuyết viết
bằng thơ Nôm) – hình bóng của Nguyễn Du phần nào được thể hiện
gián tiếp qua nhân vật Thuý Kiều. Có thể chỉ ra một số biểu hiện gần
gũi, tương đồng giữa số phận, cốt cách của Thuý Kiều với số phận,
cốt cách của Nguyễn Du. Chẳng hạn, có sự gần gũi, tương đồng
giữa cuộc đời chìm nổi của Thuý Kiều với cuộc đời chìm nổi, khốn
khó của Nguyễn Du; hoặc có sự tương đồng giữa cái đa sầu, đa
cảm của Thuý Kiều với cái đa sầu, đa cảm của Nguyễn Du;...
+ Hình bóng của Nguyễn Du qua hai tác phẩm thuộc hai thể loại lớn
trong sáng tác của ông cho thấy: Nguyễn Du đã dùng hết tâm huyết
cùng những trải nghiệm đau thương của chính mình để viết nên
những tác phẩm vừa là bức tranh sinh động về “những điều trông
thấy”, vừa là tiếng kêu thương, da diết mãi nỗi “đau đớn lòng”.
Soạn bài Kính gửi Cụ Nguyễn Du - Chân trời sáng tạo
* Suy ngẫm và phản hồi
Nội dung chính:
Bài thơ thể hiện cảm hứng ngợi ca lí tưởng nhân đạo của dân tộc
qua thơ Nguyễn Du. Đồng thời cũng thể hiện tình cảm và tâm huyết
của Tố Hữu đối với văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam và
niềm hy vọng của tác giả vào một tương lai tươi sáng.
Câu 1 (trang 45 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Tìm hiểu hoàn cảnh ra
đời của bài thơ. Hoàn cảnh đó giúp ích gì cho bạn trong việc đọc
hiểu bài thơ?
Trả lời:
- Hoàn cảnh sáng tác bài thơ: vào tháng 11 năm 1965, trong
chuyến đi công tác ở các tỉnh miền Trung, vào tháng 10 – 11 năm
1965, khi Tố Hữu ghé thăm quê hương Nguyễn Du thuộc huyện
Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Năm đó dân tộc ta bước vào giai đoạn
kháng chiến chống Mỹ rất ác liệt, cuộc kháng chiến để giành độc lập
dân tộc và thống nhất nước nhà. Và đây cũng là năm Việt Nam và
thế giới kỉ niệm 200 năm ngày sinh của Nguyễn Du.
- Những hiểu biết về hoàn cảnh ra đời của bài thơ như trên giúp
người đọc hiểu được lí do, thôi thúc tác giả sáng tác, hiểu đúng cảm
hứng chủ đạo cũng như thông điệp mà tác giả muốn gửi đến độc
giả. Chẳng hạn, phải hiểu hoàn cảnh sáng tác bài Kính gửi cụ
Nguyễn Du như vừa nêu, mới hiểu bài thơ thể hiện cảm hứng ngợi
ca lí tưởng nhân đạo của dân tộc qua thơ Nguyễn Du; hoặc mới
hiểu đúng thông điệp từ bài thơ: Cuộc kháng chiến giành độc lập
dân tộc và thống nhất đất nước của người Việt Nam hôm nay (thời
điểm bài thơ ra đời) luôn có sự đồng hành của các thế hệ cha ông
và các giá trị truyền thống.
Câu 2 (trang 45 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Nếu cần chọn một câu
thơ có khả năng bao quát nội dung toàn bài, bạn sẽ chọn câu nào?
Vì sao? Xác định chủ thể trữ tình và chủ đề của bài thơ.
Trả lời:
- Chọn câu: Bâng khuâng nhớ Cụ, thương thân nàng Kiều. Bài thơ
có hai nội dung lồng vào nhau: Nhớ ơn Nguyễn Du và thương thân
nàng Kiều. Câu thơ trên thâu tóm được cả hai nội dung đó.
- Chủ thể trữ tình: Chủ thể xưng “ta” – bạn đọc tri âm của Nguyễn
Du (xuất hiện ở cuối bài thơ: Hỡi người xưa của ta nay...). “Ta”
không chỉ là tác giả Tố Hữu mà bao gồm tất cả những ai yêu quý,
biết ơn Nguyễn Du, hiểu đúng giá trị vượt thời gian trong các tác
phẩm của ông. Đó cũng là cái “ta” nhân danh cộng đồng dân tộc và
thời đại “ra trận” chống thực dân, để quốc xâm lược.
- Chủ đề của bài thơ: Sức sống mãnh liệt vượt thời gian trong tác
phẩm của Nguyễn Du/ Cuộc đồng hành của thơ văn Nguyễn Du với
dân tộc, nhân dân trong thời đại chống thực dân, đế quốc xâm lược,
giành độc lập, tự do, mang lại hạnh phúc cho con người.
Câu 3 (trang 45 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Trình bày cảm nhận của
bạn về đoạn thơ sau:
Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày.
Trả lời:
Bài viết tham khảo
Cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của thi hào Nguyễn Du đã để lại cho
hậu thế biết bao yêu mến và tự hào. Kiệt tác Truyện Kiều đã chạm
đến trái tim của nhân loại. Cho đến nay “Truyện Kiều” vẫn là hòn
ngọc sáng nhất và là đỉnh cao chói lọi nhất của tiếng nói Việt Nam,
của văn học dân tộc. Thiên tuyệt bút này của Nguyễn Du là sự kết
tinh tinh hoa của cả quá trình mấy trăm năm hình thành và phát triển
nền văn học cổ điển viết bằng ngôn ngữ dân tộc. Trong bài “Kính
gửi cụ Nguyễn Du”, nhà thơ Tố Hữu đã bày tỏ tình cảm của mình về
truyện Kiều và Nguyễn Du bằng những lời thơ xúc động:
“Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”.
Bài thơ trừ bốn câu thơ đầu và cuối, tất cả có năm khổ thơ với ba
cặp lục bát tương xứng. Bằng hình thức tập Kiều nhuần nhuyễn,
sáng tạo, ngôn ngữ trong sáng, giản dị, giàu hình ảnh, những so
sánh bất ngờ… ấy đã diễn tả thật thành công tấm lòng của một
người con cúi mình trước đại thi hào vĩ đại của dân tộc Nguyễn Du,
một thi hào kỳ tài ấy đã chắp bút lên “Truyện Kiều”, một công trình
đồ sộ và có giá trị thật lớn lao, góp phần tăng giá trị đạo đức, nhận
thức vào kho tàng văn học Việt Nam. Cảm khái và ngưỡng mộ
trước tài năng ấy kết hợp với một tấm lòng khát vọng tìm về với quá
khứ xưa, Tố Hữu đã viết:
Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Tố Hữu đã ca ngợi giá trị nhân bản của tiếng thơ Nguyễn Du, một
tiếng thơ vang động đến hồn thiêng sông núi, đến tạo vật muôn loài.
Bằng cách sử dụng lối so sánh, ẩn dụ tài tình, nhà thơ đã nâng cao
tầm vóc, giá trị của thơ ca Nguyễn Du. Ông đã ví tiếng thơ ấy
là “non nước” vọng về từ ngàn năm trước, của thời gian xa xưa, của
quá khứ. Tiếng thơ ấy vọng về đây trong niềm tự hào, hân hoan,
đón nhận của một tấm lòng hậu thế muốn đền đáp tấm lòng cha ông
xưa. Nỗi niềm ấy, tình cảm ấy thật đáng ngưỡng vọng. Hai câu thơ
không những khái quát được tầm vóc, giá trị to lớn của tài năng
Nguyễn Du mà còn thể hiện sâu sắc tình cảm cao đẹp của Tố Hữu
– thế hệ hôm nay ngưỡng vọng về quá khá của cha ông.
Lối thơ ấy, tiếng lòng hân hoan Tố Hữu lại tiếp tục rộng mở vươn tới
những giá trị vĩnh hằng khác:
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày
Nghìn năm là khoảng thời gian của hồi tưởng, của ngưỡng vọng,
của khát vọng mãnh liệt, của tấc lòng tri kỷ biết ơn của thế hệ hôm
nay. Đó còn là khoảng thời gian của thế hệ hôm nay trả lời cho nỗi
đau lịch sử của cha ông trong quá khứ. Một lần nữa cảm hứng ngợi
ca chắp bút cho Tố Hữu cất tiếng lòng tự hào trong khúc hát tràn
đầy hân hoan, hứng khởi, trong sự ngưỡng vọng trước một thiên tài.
Tiếng thơ của Nguyễn Du được ví như “tiếng mẹ”, mà “tiếng mẹ” thì
gần gũi, thiết tha quá. Đó là lời ru nhẹ nhàng ân tình, chan chứa tình
yêu thương và trong ấy gửi gắm bao mơ ước thật cao đẹp. Và vì thế
tiếng thơ của Nguyễn Du là tiếng ru của mẹ ân tình, ngọt ngào thổi
vào lòng bao thế hệ có sức mạnh thật lớn lao. Tình cảm ấy, khúc
hát ru ân tình ấy là lời nhắc nhở, thủ thỉ cho con- thế hệ hôm nay
vững bước trưởng thành.
Nghìn năm là khoảng thời gian của hồi tưởng, của ngưỡng vọng,
của khát vọng mãnh liệt, của tấc lòng tri kỷ biết ơn của thế hệ hôm
nay. Đó còn là khoảng thời gian của thế hệ hôm nay trả lời cho nỗi
đau lịch sử của cha ông trong quá khứ. Một lần nữa cảm hứng ngợi
ca chắp bút cho Tố Hữu cất tiếng lòng tự hào trong khúc hát tràn
đầy hân hoan, hứng khởi, trong sự ngưỡng vọng trước một thiên tài.
Tiếng thơ của Nguyễn Du được ví như “tiếng mẹ”, mà “tiếng mẹ” thì
gần gũi, thiết tha quá. Đó là lời ru nhẹ nhàng ân tình, chan chứa tình
yêu thương và trong ấy gửi gắm bao mơ ước thật cao đẹp. Và vì thế
tiếng thơ của Nguyễn Du là tiếng ru của mẹ ân tình, ngọt ngào thổi
vào lòng bao thế hệ có sức mạnh thật lớn lao. Tình cảm ấy, khúc
hát ru ân tình ấy là lời nhắc nhở, thủ thỉ cho con- thế hệ hôm nay
vững bước trưởng thành.
Bốn câu thơ, ba cặp lục bát song hành ấy là tình cảm, tiếng lòng
của chúng con thế hệ hôm nay đáp lời quá khứ. Đó cũng là lời hứa
chân thành nhất của thế hệ hôm nay cùng ngân vang theo nhịp đập
của quá khứ.
Bằng lối tập Kiều nhuần nhuyễn, sử dụng hình ảnh có tính gợi hình,
giọng điệu ân tình, ngọt ngào, đậm chất dân tộc, khổ thơ đã thể hiện
trọn vẹn phong cách thơ Tố Hữu: khuynh hướng thơ trữ tình – chính
trị, một giọng điệu tâm tình ngọt ngào và đậm đà tính dân tộc. Khổ
thơ khép lại nhưng lại mở ra một chân trời mới, tương lai mới trong
hành trình chống Mỹ hôm nay:
Sông Lam nước chảy bên đồi
Bỗng nghe trống giục ba hồi gọi quân
“Bài thơ là âm điệu của một cõi lòng bị sóng khuấy động, đang rung
lên đồng điệu đồng nhịp với sóng biển. Rạo rực đến xôn xao, khát
khao đến khắc khoải, có một hình tượng sóng được vẽ lên bằng một
âm điệu dập dồn, chìm nổi, miên man như hơi thở chạy suốt cả
bài…”.
Câu 4 (trang 45 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Bài thơ giúp bạn hiểu
thêm điều gì về nỗi lòng của Nguyễn Du và tác phẩm của ông?
Trả lời:
Hiểu thêm được sức lay động lòng người sâu xa, sức sống mãnh
liệt của Truyện Kiều; hiểu thêm sự kết tinh của hồn dân tộc trong
thơ Nguyễn Du.
Soạn bài Thực hành tiếng Việt trang 45 Tập 2 - Chân trời
sáng tạo
Câu 1 (trang 45 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Chỉ ra và nêu tác dụng
của biện pháp đối trong các trường hợp dưới đây:
a.Nỗi riêng riêng những bàn hoàn
Dầu chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
b.Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
(Nguyễn Du, Truyện
Kiều)
c.Nhẹ như bấc nặng như chì,
Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Trả lời:
a. Biện pháp đối: “Dầu chong trắng đĩa” - “lệ tràn thấm khăn”
→ Tác dụng: Với việc sử dụng phép đối, bài thơ đã tạo ra một sự
đối lập rõ ràng giữa sự đau buồn của nhân vật Thúy Kiều và sự
hạnh phúc của những người khác, tạo ra một hiệu ứng tâm lý mạnh
mẽ và tăng cường tính thuyết phục của bài thơ.
b. Biện pháp đối: “người ngoài cười nụ” - “người trong khóc thầm”
→ Tác dụng: Biện pháp đối đã tăng tính tương phản giữa hai trạng
thái cảm xúc của con người trong cùng một không gian nhưng lại
hoàn...
Soạn bài Tri thức ngữ văn trang 33 Tập 2 - Chân trời sáng
tạo
1. Điểm nhìn trong truyện thơ: Truyện thơ thường sử dụng điểm
nhìn ngôi thứ ba toàn tri. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, truyện
thơ cũng sử dụng điểm nhìn ngôi thứ ba hạn tri từ một số nhân vật
như điểm nhìn của nhân vật “anh” trong Tiễn dặn người yêu (truyện
thơ dân tộc Thái) hoặc điểm nhìn của nhân vật Thuý Kiều ở một số
đoạn trong Truyện Kiều (Nguyễn Du).
2. Nhân vật và đối thoại, độc thoại nội tâm: Nhân vật trong tác
phẩm truyện thường được khắc họa không chỉ thông qua các chi tiết
miêu tả ngoại hình, hành động mà còn qua ngôn ngữ giao tiếp và
đời sống nội tâm của nhân vật, tức là thông qua đối thoại, độc thoại
nội tâm.
3. Bút pháp miêu tả nội tâm trong truyện thơ Nôm và "Truyện
Kiều”: Việc miêu tả nội tâm của nhân vật trong truyện thơ Nôm bác
học có thể thực hiện theo nhiều cách: bằng lời đối thoại, độc thoại
của chính nhân vật bằng những dòng thơ miêu tả phong cảnh thiên
nhiên, hay kể, tả về hành vi, cử chỉ của nhân vật; qua các dòng thơ
mà người kể chuyện trực tiếp nhận xét, phân tích trạng thái tâm lí,
cảm xúc của nhân vật,... Trong đoạn độc thoại nội tâm của nhân vật
Từ Hải trên đây, tâm lí của Từ Hải được miêu tả trước hết qua nhận
xét trực tiếp của người kể chuyện (Từ công riêng hãy mười phân hồ
đồ) và sau đó, qua độc thoại nội tâm của Từ Hải.
4. Biện pháp tu từ đổi: đặc điểm và tác dụng:
Đối là biện pháp tu từ đặt những từ ngữ có âm thanh và ý nghĩa
tương phản hoặc tương hỗ vào vị trí cân xứng để tạo nên sự hài
hoà về ý nghĩa, đồng thời làm nên nhạc điệu cho câu thơ, câu văn.
Ví dụ:
Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Trong ví dụ trên, các từ trong hai vế “thành xây khói biếc” và “non
phơi bóng vàng” tạo thành từng cặp tương ứng, cân xứng với nhau
về nội dung giống nhau về từ loại (thành – non, xây – phơi, khói –
bóng, biếc – vàng), trái nhau về thanh điệu bằng trắc (biếc – vàng)
tạo nên vẻ đẹp hài hoà cho câu thơ.
Biện pháp tu từ đối được sử dụng trong thơ (đặc biệt là thể thơ
Đường luật bát cú), trong văn xuôi ở cấp độ câu, đoạn văn hoặc văn
bản. Ví dụ, biện pháp tu từ đổi trong hai câu 3 – 4 của bài Qua Đèo
Ngang (Bà Huyện Thanh Quan):
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lúc đác bên sông chợ mấy nhà.
Đây là biện pháp tu từ có tác dụng tạo sự cân xứng về ý nghĩa và
nhạc điệu, tạo nên cái đẹp hài hoà theo quan niệm truyền thống của
người Việt Nam. Tác dụng này thể hiện rất rõ trong hai dòng thơ
trên.
Ngoài ra, biện pháp này còn có tác dụng giúp miêu tả sự việc, cảnh
vật một cách cô đúc, khái quát mà không cần liệt kê, kể lể dài dòng.
Soạn bài Trao duyên - Chân trời sáng tạo
* Chuẩn bị đọc:
Câu hỏi (trang 38 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Trong cuộc sống, đôi
khi có những điều rất khó nói, nhưng vẫn phải tìm cách nói ra để
nhận được sự cảm thông, chia sẻ của một người nào đó. Đã bao
giờ bạn gặp một tình huống như vậy chưa? Hãy chia sẻ với các bạn
hoặc lắng nghư chia sẻ của bạn về trải nghiệm dó.
Trả lời:
- Đó là lần bản thân bị điểm kém trong bài thi văn cuối học kì. Do lo
sợ bị bố mẹ mắng nên không dám nói ra. Sau một thời gian suy
nghĩ kĩ, em đã quyết định nói với bố mẹ và mong bố mẹ có thể chia
sẻ với mình.
* Trải nghiệm cùng văn bản:
1. Theo dõi: Phân biệt lời của người kể chuyện và lời của nhân vật
trong đoạn này.
- Lời người kể chuyện từ “Nỗi riêng riêng những bàn hoàn……Dưới
đèn ghé đến ân cần hỏi han:”
- Lời nhân vật (xác định được thông qua dấu ngoặc kép để ngăn
cách lời người kể. lời nói của nhân vậtvật và dấu hai chấm để thông
báo cho người đọc đoạn thoại của nhân vật ở đoạn sau): “Cơ trời
dâu bể đa đoan ... Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây?” và câu thơ
“Lòng đương thổn thức đầy”
2. Suy luận: Cách mở đầu cho câu chuyện sắp nói với Thuý Vân
của Kiều có gì khác thường?
- Hai từ “cậy em” làm toát lên sự tin tưởng đến mức tuyệt đối của
Thúy Kiều ở người em gái thân yêu, trong lời mở đầu ấy chứa đựng
sự dằn vặt, day dứt và mới khiến Kiều trở nên băn khoăn, ngập
ngừng.
- Kiều là chị, vai vế và tuổi tác lớn hơn Thúy Vân nhưng lại có hành
động “lạy rồi sẽ thưa”.
→ Cách mở đầu cho câu chuyện sắp nói với Thúy Vân của Kiều đã
giúp cho không khí của thời khắc “trao duyên” trở nên trang trọng
hơn bao giờ hết.
3. Tưởng tượng: Bạn hình dung thế nào về dáng vẻ, tâm trạng,
giọng nói của Thuý Kiều trong đoạn từ dòng thơ 741 đến dòng 756
ở cuối văn bản?
- Kiều giằng xé trong nội tâm, đau đớn và nhớ thương Kim Trọng.
Tâm trạng đau đớn đến cùng cực của Thúy Kiều khi hướng về tình
yêu của mình và Kim Trọng.
* Suy ngẫm và phản hồi:
Nội dung chính:
Đoạn trích thể hiện bi kịch trong tình yêu của Thúy Kiều qua đó thể
hiện tiếng kêu đau đớn của tác giả về số phận con người trong xã
hội phong kiến.
Câu 1 (trang 41 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Việc “trao duyên” và cuộc
trò chuyện giữa chị em Thuý Kiều – Thuý Vân được thuật lại theo
ngôi kể nào? Những dấu hiệu nào giúp bạn nhận biết điều đó?
Trả lời:
- Việc “trao duyên” và cuộc trò chuyện giữa chị em Thuý Kiều –
Thuý Vân được thuật lại từ ngôi thứ ba.
- Dấu hiệu nhận biết:
+ Sự phân biệt giữa lời của người kể chuyện (bốn dòng thơ đầu, từ
“rằng”, hai dòng thơ cuối) và lời của nhân vật (đánh dấu bằng dấu
hai chấm, dấu gạch ngang và trích dẫn nguyên văn lời của các nhân
vật) cho thấy câu chuyện do một người kể chuyện (không phải nhân
vật) kể lại.
+ Cách người kể chuyện gọi tên nhân vật (“Thuý Vân”) và cách
thuật lại nguyên văn từ ngữ xưng gọi “chị”, “em” giữa hai chị em
Thuý Kiều – Thuý Vân.
Câu 2 (trang 41 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Xác định số dòng thơ biểu
đạt lời của mỗi nhân vật. Chỉ ra sự khác biệt về độ dài (tính bằng số
dòng thơ) giữa lời thoại của hai nhân vật và giải thích sự khác biệt
ấy.
Trả lời:
Nhân vật
Thúy Vân
Thúy Kiều
Số dòng thơ biểu đạt
4 dòng (thơ lục bát)
38 dòng (thơ lục bát)
lời thoại.
Tỉ lệ trên toàn văn bản.
4/48
38/48
Có sự khác biệt rất lớn về độ dài giữa lời thoại của Thúy Kiều so
với lời thoại của Thúy Vân, vì: Thúy Kiều là người kể, người nói
chính, nhờ cậy, gửi gắm, do vậy cần một câu chuyện có đầu có
đuôi, đầy tâm trạng và nỗi niềm. Lời của Kiều nhằm thực hiện mục
đích thuyết phục một vấn đề hết sức tế nhị, khó khăn. Trong khi đó,
Thúy Vân là người nghe, chia sẻ; chỉ cần “hỏi han” gợi chuyện cho
Kiều bày tỏ.
Câu 3 (trang 41 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Lời thoại của Thuý Vân
có vai trò như thế nào đối với sự tiến triển của câu chuyện?
Trả lời:
Những lời thoại của Thuý Vân lại chiếm giữ nhiều vai trò quan trọng
đối với sự tiến triển của câu chuyện:
- Lời “ân cần hỏi hạn” của Thuý Vân là một cách mang lại tình cảm
chị em ấm áp đối với người chị đang rất mực cô đơn với gánh nặng
tinh thần chưa biết chia sẻ cùng ai.
- Lời của Thuý Vân đã tạo một tình huống, cơ hội tự nhiên cho Thuý
Kiều kể chuyện, bày tỏ nỗi lòng.
- 'Thuý Kiều được lời như cởi tấm lòng, mạnh bạo, tự tin để trao
duyên, nhờ em thay mình lấy Kim Trọng.
- Thuý Vân chỉ ăn cẩn hỏi han rồi lặng lẽ, chăm chú lắng nghe
(không ngắt lời chị), nhờ đó câu chuyện và ý nguyện “trao duyên”
của Kiều được biểu đạt đầy đủ, trọn vẹn (đến mức nói xong nàng
ngất đi).
Câu 4 (trang 41 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Đọc kĩ lời thoại của Thuý
Kiều và cho biết:
a. Lời thoại của Kiều trong văn bản là tự sự, biểu cảm hay kết hợp
tự sự với biểu cảm?
b. Từ dòng thơ 741 đến dòng thơ 756, lời của Thuý Kiểu hướng đến
ai; là đối thoại, độc thoại hay độc thoại nội tâm?
Trả lời:
a. Lời thoại của Kiều trong văn bản có yếu tố trữ tình và yếu tố tự
sự.
b. Đoạn thơ từ dòng thơ 741 đến dòng thơ 756 để nhận ra sự thay
đổi đột ngột đối tượng người nghe trong lời thoại của Thuý Kiều ở
cuối cuộc “trao duyên:
– Thuý Kiều đang nói với Thuý Vân mà như đang nói với Kim Trọng
(đối thoại với người nghe vắng mặt, vẽ thực chất cũng gần như độc
thoại): Trăm nghìn gửi lạy tình quân, Tơ duyên ngắn ngủi có ngần
ấy thôi.
– Thuý Kiều đang nói Kim Trọng mà như đang nói với chính mình
(độc thoại trong khi đối thoại): Phận sao phận bạc như vôi, Đã đành
nước chảy hoa trôi lỡ làng.
– Thuý Kiều đang nói với bản thân rồi lại đột nhiên nói vọng tới Kim
Trọng (đối thoại mà như độc thoại): Ơi Kim Lang! Hơi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
= > Các trường hợp trên là những lời nói ra, nhưng không phải nói
với người đối diện. Cuối cuộc “trao duyên, dường như Thuý Kiều đã
quên đi Thuý Văn đang trước mặt để chỉ nghĩ đến Kim Trọng và sự
mất mát lớn lao của bản thân. Hình như nàng đang nói với người
yêu vắng mặt (Kim Trọng đang ở Liêu Dương cách xa nghìn trùng)
hoặc đang nói với chính mình (độc thoại). Đó không phải là lời nói
thẩm trong lòng nên không phải là độc thoại nội tâm. Có thể gọi đó
là dạng lời “nửa đối thoại nửa độc thoại” (hay lời “độc thoại hoá đối
thoại” theo quan niệm của Trần Đình Sử).
= > Dạng lời thoại như vậy có tác dụng thể hiện tâm trạng phức tạp
của Thuý Kiều trong cuộc “trao duyên”. Nguyễn Du đã hiểu rõ tâm
trạng đó và miêu tả một cách tường tận, sinh động với khả năng
thấu cảm của một nghệ sĩ thiên tài.
Câu 5 (trang 41 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Chỉ ra sự thay đổi trong
tâm trạng của Thuý Kiều trước, trong và sau khi trao kỉ vật cho Thuý
Vân.
Trả lời:
- Trước khi trao kỉ vật: Kiều một mình đắm chìm trong trạng thái bối
rối, thao thức, dằn vặt cao độ: Nỗi riêng riêng những bàn hoàn Dầu
chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn. Khi cơ hội đến từ lời “hỏi han” ân
cần của Thuý Vân, Thuý Kiều trước hết nói đến sự khó xử của
mình: Hở môi ra cũng thẹn thùng/ Để lòng thì phụ tấm lòng với ai;
sau đó là lời cậy nhờ tha thiết: Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em...
- Khi trao kỉ vật:
+ Thuý Kiều nói rõ từng thứ một: chiếc vành (vòng xuyến mà Kim
Trọng tặng Thuý Kiều); bức tờ mây (bức chữ thể nguyền, giao ước
kết đôi giữa hai người); phím đàn (phím đàn mà Thuý Kiều từng gảy
cho Kim Trọng nghe); mảnh hương nguyền (mảnh hương trầm đốt
trong đêm thề nguyền còn sót lại) ... Đó đều là những thứ vô cùng
quý giá đối với Kiều, nhưng đã trao duyên thì đành phải trao kỉ vật
làm tin.
+ Thuý Kiều đã phải vượt lên trên sự dằn vặt, lưu luyến, tiếc nuối khi
dùng đến các từ ngữ chỉ kỷ vật như “của chung” (Duyên này thì giữ
vật này của chung), “ngày xưa” (Phím đàn với mảnh hương nguyền
ngày xưa); trong lời nói với Thuý Vân, nàng hình dung mai sau mình
trở về như một hồn ma trong gió và cầu xin một niềm cảm thương,
một ân huệ khiêm nhường nhất: Dạ đài cách mặt khuất lời/ Rảy xin
chén nước cho người thác oan.
- Sau khi trao kỉ vật:
+ Trao xong kỉ vật, Kiểu càng nghĩ nhiều đến Kim Trọng và tình yêu.
Tình cảm nàng dành cho Kim Trọng và mối tình đầu phải tính đếm
bằng “muôn vàn”; ân tình nàng dành cho Kim Trọng cũng không sao
kể xiết nên đã bái biệt bằng “trăm nghìn... lạy” ...
+ Chợt nghĩ đến phận mình, nàng lâm vào trạng thái tột cùng đau
khổ, dằn vặt trước sự thật phũ phàng, mất mát không thể bù
đắp (Phận sao phận bạc như vôi/ Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ
làng). Rồi nàng nức nở gọi tên Kim Trọng và nói lời vĩnh biệt xót xa:
Ôi Kim Lang Hỡi Kim Lang! Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!.
Có lẽ Thuý Kiều đã dành hết sự tỉnh táo cuối cùng để hoàn thành
cái việc rất khó là thuyết phục Thuý Vân thay mình lấy Kim Trọng. Vì
thế, sau khi trao duyên, đối diện với Kim Trọng và với lương tâm thì
đã quá sức chịu đựng của nàng. Phải là người từng tích luỹ biết bao
nhiêu “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” trước những “bể
dâu” và phải là người có “con mắt nhìn suốt sáu cõi, tấm lòng nghĩ
suốt nghìn đời thì tác giả mới có thể miêu tả được nỗi lòng Thuý
Kiều sâu sắc, thần tình như vậy.
Câu 6 (trang 41 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Xác định chủ đề của văn
bản Trao duyên và cho biết, phần văn bản này có vai trò như thế
nào trong việc góp phần thể hiện chủ đề của Truyện Kiều.
Trả lời:
- Chủ đề của VB Trao duyên: Lời nói, tâm trạng, cảm xúc của Thuý
Kiều khi thuyết phục Thuý Vân thay mình lấy Kim Trọng.
- Vai trò của VB Trao duyên trong việc thể hiện chủ đề chung của
Truyện Kiều: Nếu xem chủ đề chung của Truyện Kiều là tiếng kêu
đau thương về cuộc đời ba chìm bảy nổi của nàng Kiểu thì Trao
duyên là tiếng kêu trước nỗi đau đầu đời của nàng. Nỗi đau này kéo
theo nhiều nỗi đau khác trong suốt mười lăm năm lưu lạc của Kiều.
* Bài tập sáng tạo (trang 41 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Vẽ một bức
tranh hay dựng một hoạt cảnh sân khấu hóa về cuộc trao duyên.
Trả lời:
Soạn bài Độc Tiểu thanh kí - Chân trời sáng tạo
* Chuẩn bị đọc:
Câu hỏi (trang 41 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Bạn hiểu thế nào là “tri
âm” và biết thanh ngữ, tục ngữ hay tác phẩm văn học nào nói về
chuyện “tri âm”? Hãy chia sẻ với các bạn trong lớp.
Trả lời:
- “tri âm” là cụm từ đề cập đến việc hai người có tình cảm sâu nặng
với nhau, có thể cảm nhận được những suy nghĩ, tình cảm, sự chia
sẻ và những điều không nói ra của đối phương một cách rõ ràng, dù
không cần phải nói ra.
- Những thành ngữ, tục ngữ hay tác phẩm văn học nói về chuyện “tri
âm”:
+ “Chữ người tử tù” - Nguyễn Tuân.
+ “Khóc Dương Khuê” - Nguyễn Khuyến.
* Trải nghiệm cùng văn bản:
1. Theo dõi: Đối chiếu bản phiên âm với bản dịch nghĩa theo từng
dòng, từng cặp câu để hiểu nghĩa và nội dung bài thơ.
- Nội dung bài thơ: nói về cuộc đời của một người phụ nữ tên là
Tiểu Thanh, người đã phải trải qua nhiều sóng gió trong cuộc đời
mình. Qua đó thể hiện được những cảm xúc, suy tư của tác giả về
số phận bất hạnh của người phụ nữ xã hội cũ.
2. Suy luận: Hai dòng thơ cuối có mối liên hệ như thế nào với sáu
dòng thơ đầu?
- Sáu dòng thơ đầu được sử dụng để miêu tả cuộc đời Tiểu Thanh,
những thăng trầm và nỗi đau trong cuộc đời của cô.
- Hai dòng thơ cuối đưa ra một khía cạnh nhìn khác về cuộc sống và
nhân sinh, và cũng giúp cho tác phẩm trở nên sâu sắc hơn trong
việc truyền tải thông điệp của mình đến độc giả.
* Suy ngẫm và phản hồi:
Nội dung chính:
Bài thơ “Độc “Tiểu Thanh kí”” thể hiện cảm xúc, suy tư của Nguyễn
Du về số phận bất hạnh của người phụ nữ có tài văn chương trong
xã hội phong kiến. Đồng thời, qua đó cũng thể hiện một phương
diện quan trọng trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du: xót xa
cho những giá trị tinh thần bị chà đạp.
Câu 1 (trang 43 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Chủ thể trữ tình và tác giả
ở tác phẩm này có phải là một? Căn cứ vào các chi tiết nào trong
văn bản để bạn xác định như vậy?
Trả lời:
- Chủ thể trữ tình: ngã/ ta.
- Căn cứ nhận biết chủ thể trữ tình: Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất
ngã/ ta ở dòng thơ thứ sáu: Phong vận kì oan ngã tự cư: Ta tự coi
như người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong
nhã. Từ đây, đọc ngược lên các dòng thơ trước, hoàn toàn có thể
hiểu rằng chủ thể của tất cả các dòng thơ 2, 3, 4, 5 cũng chính là
ngã/ ta, được ẩn đi. Bản dịch nghĩa trong SGK đã cho thấy điều này:
Vườn hoa bên Tây Hồ đã thành bãi hoang rồi,
(Chỉ mình ta) thương nàng trước cửa sổ qua một tập sách giấy
mỏng.
Son phấn có thần, khiến (ta) xót thương nàng sau khi nàng đã chết,
Văn chương không có số mệnh tốt, khiến (ta) khổ lụy vì tập thơ bị
đốt dở.
Những mối hận cổ kim, (ta) khó mà hỏi trời được.
Ta tự coi như người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết
phong nhã.
Câu 2 (trang 43 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Phân tích tình cảm, cảm
xúc của chủ thể trữ tình đối với số phận của nàng Tiểu Thanh (chú ý
từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ,... trong sự đối sánh giữa bản
phiên âm và bản dịch nghĩa, dịch thơ).
Trả lời:
Dòng thơ
Từ ngữ, hình ảnh,
Tác dụng thể hiện tình cảm, cảm xúc
biện pháp tu từ
1
Cảnh đẹp (Tây Hồ) hóa Hình ảnh gợi nỗi buồn thương trước sự
gò/ bãi hoang.
đổi thay, phai tàn của cái đẹp.
2
Nhất chỉ thư: tập sách - Hình ảnh gợi niềm thương xót, ái ngại
giấy mỏng.
trước thân phận bé mọn của nàng Tiểu
Thanh.
Độc điếu: một mình (ta)
thương khóc.
- Từ ngữ vừa trực tiếp biểu lộ tình cảm,
vừa cho thấy số phận hẩm hiu, cô độc
của Tiểu Thanh.
Son phấn có thần.
Biểu tượng thể hiện thái độ trân trọng,
niềm tin sẽ tìm gặp được tri âm ở hậu
thế.
Tập thơ bị đốt dở
Hình ảnh gợi niềm thương xót cho
những ai không có mệnh tốt như Tiểu
Thanh hay khách văn nhân.
3
4
5-6
Mối hận cổ kim (cổ kim Từ ngữ, biện pháp tu từ đối thể hiện nỗi
hận sự)…
đau đời và tiếng kêu thương cho số
phận của những ai tài hoa mà bạc
mệnh.
5-6
… trời khôn hỏi (thiên Từ ngữ, biện pháp tu từ đối thể hiện sự
nan vấn)
ai oán, tự đồng nhất mình với những kẻ
tài hoa mà bạc mệnh (điều này chuẩn bị
… ngã tự cư
cho tình ý sẽ thể hiện tiếp theo ở hai
dòng thơ 7 – 8).
Câu 3 (trang 43 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Hãy chỉ ra mối liên hệ về
nội dung giữa sáu dòng thơ đầu và hai dòng thơ cuối. Từ đó, bạn
hiểu gì về tâm sự của Nguyễn Du và thời đại của ông?
Trả lời:
- Sáu dòng thơ đầu: Niềm xót thương cho số kiếp hồng nhan bé
mọn, hẩm hiu, bất hạnh của nàng Tiểu Thanh.
- Hai dòng thơ cuối: Niềm xót thương cho bản thân (Tố Như) và nỗi
mong mỏi có bạn tri âm, ít ra là trong hậu thế. Tố Như là tên chữ
của Nguyễn Du. Nói “khóc cho Tổ Như” (khắp Tố Như) tức là nói tri
âm tri kỉ với Tố Như, hiểu nỗi lòng Tố Như, thương xót cho Tổ Như
như Tố Như thương xót cho Tiểu Thanh.
- Mối liên hệ giữa sáu dòng thơ đầu với hai dòng thơ cuối của văn
bản thoạt nhìn có vẻ như có sự đứt gãy, nhưng xem xét kĩ sẽ thấy
giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ. Đó là mối quan hệ tiếp nối tự
nhiên theo logic liên tưởng tương đồng. Tác giả trông người lại
ngẫm đến ta, thấy càng “thương người” thì càng “thương mình”. Cái
tên “Tố Như” xuất hiện ở dòng thơ thứ tám tuy có chút bất ngờ
nhưng lại được đặt trong sự đối sánh với cái tên Tiểu Thanh trong
nhan đề và sáu dòng thơ đầu. Cụm từ “ngã tự cư” trong dòng thơ
thứ sáu (Ta tự coi như người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ
lùng vì nết phong nhã) chính là cái bản lề giữa hai phần của bài thơ.
Câu 4 (trang 43 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Xác định cảm hứng chủ
đạo và thông điệp mà tác giả muốn gửi đến độc giả qua bài thơ. Từ
việc đọc hiểu bài thơ trên, bạn rút ra được lưu ý gì khi đọc một bài
thơ chữ Hán của Nguyễn Du?
Trả lời:
- Cảm hứng chủ đạo: Niềm thương cảm chân tình sâu xa đối với
những số phận như nàng Tiểu Thanh và những khách văn nhân
như bản thân nhà thơ Nguyễn Du.
- Thông điệp: Tình tri âm, tri kỉ hay là sự thấu cảm và tình thương
yêu giữa người với người là vô cùng quý báu, không thể thiếu trong
cuộc sống của mỗi người.
- Một số lưu ý khi đọc một bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du:
+ Cần tra cứu điển tích, điển cố hay nghĩa của từ khó thường được
nêu trong các cước chú.
+ Cần đối chiếu bản phiên âm chữ Hán với bản dịch nghĩa, dịch thơ.
+ Cần vận dụng tri thức nền về tác giả và thể loại.
+ Cần lưu ý đến mối quan hệ chỉnh thể độc đáo ở mỗi bài thơ.
Ví dụ: Khi đọc một bài thơ thất ngôn bát cú luật Đường như Độc
“Tiểu Thanh kí, ngoài việc theo sát bố cục đề – thực – luận – kết còn
phải chú ý đến mạch nội dung cảm xúc của bài thơ. Có như vậy mới
nhận biết và đánh giá được mối quan hệ nội dung cảm xúc giữa sáu
dòng thơ đầu với hai dòng thơ cuối bài Độc“Tiểu Thanh kể.
Câu 5 (trang 43 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Bình luận ý kiến cho rằng:
trong các nhân vật Tiểu Thanh (Độc “Tiểu Thanh kí), Thuý Kiều
(Truyện Kiều) đều có hình bóng của Nguyễn Du.
Trả lời:
- Hình bóng của tác giả có thể hiểu là hình ảnh hay dấu ấn con
người thực của tác giả. Hình bóng của một tác giả trong nhiều
trường hợp thường in đậm trong tác phẩm văn chương (truyện, kí,
thơ,...) – đứa con tinh thần của mình. Tuy nhiên, với mỗi thể loại,
hình ảnh hay dấu ấn ấy được thể hiện theo cách riêng. Trong tác
phẩm thơ trữ tình, hình bóng của tác giả nếu có, thường được thể
hiện trực tiếp; còn trong tác phẩm truyện (tác phẩm tự sự hư cấu),
hình bóng được thể hiện gián tiếp.
- Trong hai tác phẩm Độc Tiểu Thanh kí và Truyện Kiều, không khó
để người đọc nhận ra hình ảnh hay dấu ấn con người thực của tác
giả Nguyễn Du qua hai nhân vật nữ (Tiểu Thanh và Thuý Kiều), tuy
nhiên, cách thể hiện là khác nhau, theo đặc điểm riêng của thể loại.
+ Trong Độc Tiểu Thanh kí” – một bài thơ trữ tình – tác giả gần như
đã đồng nhất nỗi cô đơn, thiếu vắng tri âm của Tiểu Thanh với tình
trạng tương tự của Tố Như (tức Nguyễn Du), bất hạnh của Tiểu
Thanh cũng là bất hạnh của Nguyễn Du; thương xót Tiểu Thanh
cũng chính là cách Nguyễn Du thương xót mình (dĩ nhiên, không
nên quên rằng, ở đây, còn có một hình bóng khác của Nguyễn Du
đa sầu đa cảm trước “những điều trông thấy” qua hình ảnh chủ thể
trữ tình xưng “ta”).
+ Trong Truyện Kiều – một truyện thơ Nôm (hay một tiểu thuyết viết
bằng thơ Nôm) – hình bóng của Nguyễn Du phần nào được thể hiện
gián tiếp qua nhân vật Thuý Kiều. Có thể chỉ ra một số biểu hiện gần
gũi, tương đồng giữa số phận, cốt cách của Thuý Kiều với số phận,
cốt cách của Nguyễn Du. Chẳng hạn, có sự gần gũi, tương đồng
giữa cuộc đời chìm nổi của Thuý Kiều với cuộc đời chìm nổi, khốn
khó của Nguyễn Du; hoặc có sự tương đồng giữa cái đa sầu, đa
cảm của Thuý Kiều với cái đa sầu, đa cảm của Nguyễn Du;...
+ Hình bóng của Nguyễn Du qua hai tác phẩm thuộc hai thể loại lớn
trong sáng tác của ông cho thấy: Nguyễn Du đã dùng hết tâm huyết
cùng những trải nghiệm đau thương của chính mình để viết nên
những tác phẩm vừa là bức tranh sinh động về “những điều trông
thấy”, vừa là tiếng kêu thương, da diết mãi nỗi “đau đớn lòng”.
Soạn bài Kính gửi Cụ Nguyễn Du - Chân trời sáng tạo
* Suy ngẫm và phản hồi
Nội dung chính:
Bài thơ thể hiện cảm hứng ngợi ca lí tưởng nhân đạo của dân tộc
qua thơ Nguyễn Du. Đồng thời cũng thể hiện tình cảm và tâm huyết
của Tố Hữu đối với văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam và
niềm hy vọng của tác giả vào một tương lai tươi sáng.
Câu 1 (trang 45 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Tìm hiểu hoàn cảnh ra
đời của bài thơ. Hoàn cảnh đó giúp ích gì cho bạn trong việc đọc
hiểu bài thơ?
Trả lời:
- Hoàn cảnh sáng tác bài thơ: vào tháng 11 năm 1965, trong
chuyến đi công tác ở các tỉnh miền Trung, vào tháng 10 – 11 năm
1965, khi Tố Hữu ghé thăm quê hương Nguyễn Du thuộc huyện
Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Năm đó dân tộc ta bước vào giai đoạn
kháng chiến chống Mỹ rất ác liệt, cuộc kháng chiến để giành độc lập
dân tộc và thống nhất nước nhà. Và đây cũng là năm Việt Nam và
thế giới kỉ niệm 200 năm ngày sinh của Nguyễn Du.
- Những hiểu biết về hoàn cảnh ra đời của bài thơ như trên giúp
người đọc hiểu được lí do, thôi thúc tác giả sáng tác, hiểu đúng cảm
hứng chủ đạo cũng như thông điệp mà tác giả muốn gửi đến độc
giả. Chẳng hạn, phải hiểu hoàn cảnh sáng tác bài Kính gửi cụ
Nguyễn Du như vừa nêu, mới hiểu bài thơ thể hiện cảm hứng ngợi
ca lí tưởng nhân đạo của dân tộc qua thơ Nguyễn Du; hoặc mới
hiểu đúng thông điệp từ bài thơ: Cuộc kháng chiến giành độc lập
dân tộc và thống nhất đất nước của người Việt Nam hôm nay (thời
điểm bài thơ ra đời) luôn có sự đồng hành của các thế hệ cha ông
và các giá trị truyền thống.
Câu 2 (trang 45 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Nếu cần chọn một câu
thơ có khả năng bao quát nội dung toàn bài, bạn sẽ chọn câu nào?
Vì sao? Xác định chủ thể trữ tình và chủ đề của bài thơ.
Trả lời:
- Chọn câu: Bâng khuâng nhớ Cụ, thương thân nàng Kiều. Bài thơ
có hai nội dung lồng vào nhau: Nhớ ơn Nguyễn Du và thương thân
nàng Kiều. Câu thơ trên thâu tóm được cả hai nội dung đó.
- Chủ thể trữ tình: Chủ thể xưng “ta” – bạn đọc tri âm của Nguyễn
Du (xuất hiện ở cuối bài thơ: Hỡi người xưa của ta nay...). “Ta”
không chỉ là tác giả Tố Hữu mà bao gồm tất cả những ai yêu quý,
biết ơn Nguyễn Du, hiểu đúng giá trị vượt thời gian trong các tác
phẩm của ông. Đó cũng là cái “ta” nhân danh cộng đồng dân tộc và
thời đại “ra trận” chống thực dân, để quốc xâm lược.
- Chủ đề của bài thơ: Sức sống mãnh liệt vượt thời gian trong tác
phẩm của Nguyễn Du/ Cuộc đồng hành của thơ văn Nguyễn Du với
dân tộc, nhân dân trong thời đại chống thực dân, đế quốc xâm lược,
giành độc lập, tự do, mang lại hạnh phúc cho con người.
Câu 3 (trang 45 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Trình bày cảm nhận của
bạn về đoạn thơ sau:
Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày.
Trả lời:
Bài viết tham khảo
Cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của thi hào Nguyễn Du đã để lại cho
hậu thế biết bao yêu mến và tự hào. Kiệt tác Truyện Kiều đã chạm
đến trái tim của nhân loại. Cho đến nay “Truyện Kiều” vẫn là hòn
ngọc sáng nhất và là đỉnh cao chói lọi nhất của tiếng nói Việt Nam,
của văn học dân tộc. Thiên tuyệt bút này của Nguyễn Du là sự kết
tinh tinh hoa của cả quá trình mấy trăm năm hình thành và phát triển
nền văn học cổ điển viết bằng ngôn ngữ dân tộc. Trong bài “Kính
gửi cụ Nguyễn Du”, nhà thơ Tố Hữu đã bày tỏ tình cảm của mình về
truyện Kiều và Nguyễn Du bằng những lời thơ xúc động:
“Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”.
Bài thơ trừ bốn câu thơ đầu và cuối, tất cả có năm khổ thơ với ba
cặp lục bát tương xứng. Bằng hình thức tập Kiều nhuần nhuyễn,
sáng tạo, ngôn ngữ trong sáng, giản dị, giàu hình ảnh, những so
sánh bất ngờ… ấy đã diễn tả thật thành công tấm lòng của một
người con cúi mình trước đại thi hào vĩ đại của dân tộc Nguyễn Du,
một thi hào kỳ tài ấy đã chắp bút lên “Truyện Kiều”, một công trình
đồ sộ và có giá trị thật lớn lao, góp phần tăng giá trị đạo đức, nhận
thức vào kho tàng văn học Việt Nam. Cảm khái và ngưỡng mộ
trước tài năng ấy kết hợp với một tấm lòng khát vọng tìm về với quá
khứ xưa, Tố Hữu đã viết:
Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Tố Hữu đã ca ngợi giá trị nhân bản của tiếng thơ Nguyễn Du, một
tiếng thơ vang động đến hồn thiêng sông núi, đến tạo vật muôn loài.
Bằng cách sử dụng lối so sánh, ẩn dụ tài tình, nhà thơ đã nâng cao
tầm vóc, giá trị của thơ ca Nguyễn Du. Ông đã ví tiếng thơ ấy
là “non nước” vọng về từ ngàn năm trước, của thời gian xa xưa, của
quá khứ. Tiếng thơ ấy vọng về đây trong niềm tự hào, hân hoan,
đón nhận của một tấm lòng hậu thế muốn đền đáp tấm lòng cha ông
xưa. Nỗi niềm ấy, tình cảm ấy thật đáng ngưỡng vọng. Hai câu thơ
không những khái quát được tầm vóc, giá trị to lớn của tài năng
Nguyễn Du mà còn thể hiện sâu sắc tình cảm cao đẹp của Tố Hữu
– thế hệ hôm nay ngưỡng vọng về quá khá của cha ông.
Lối thơ ấy, tiếng lòng hân hoan Tố Hữu lại tiếp tục rộng mở vươn tới
những giá trị vĩnh hằng khác:
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày
Nghìn năm là khoảng thời gian của hồi tưởng, của ngưỡng vọng,
của khát vọng mãnh liệt, của tấc lòng tri kỷ biết ơn của thế hệ hôm
nay. Đó còn là khoảng thời gian của thế hệ hôm nay trả lời cho nỗi
đau lịch sử của cha ông trong quá khứ. Một lần nữa cảm hứng ngợi
ca chắp bút cho Tố Hữu cất tiếng lòng tự hào trong khúc hát tràn
đầy hân hoan, hứng khởi, trong sự ngưỡng vọng trước một thiên tài.
Tiếng thơ của Nguyễn Du được ví như “tiếng mẹ”, mà “tiếng mẹ” thì
gần gũi, thiết tha quá. Đó là lời ru nhẹ nhàng ân tình, chan chứa tình
yêu thương và trong ấy gửi gắm bao mơ ước thật cao đẹp. Và vì thế
tiếng thơ của Nguyễn Du là tiếng ru của mẹ ân tình, ngọt ngào thổi
vào lòng bao thế hệ có sức mạnh thật lớn lao. Tình cảm ấy, khúc
hát ru ân tình ấy là lời nhắc nhở, thủ thỉ cho con- thế hệ hôm nay
vững bước trưởng thành.
Nghìn năm là khoảng thời gian của hồi tưởng, của ngưỡng vọng,
của khát vọng mãnh liệt, của tấc lòng tri kỷ biết ơn của thế hệ hôm
nay. Đó còn là khoảng thời gian của thế hệ hôm nay trả lời cho nỗi
đau lịch sử của cha ông trong quá khứ. Một lần nữa cảm hứng ngợi
ca chắp bút cho Tố Hữu cất tiếng lòng tự hào trong khúc hát tràn
đầy hân hoan, hứng khởi, trong sự ngưỡng vọng trước một thiên tài.
Tiếng thơ của Nguyễn Du được ví như “tiếng mẹ”, mà “tiếng mẹ” thì
gần gũi, thiết tha quá. Đó là lời ru nhẹ nhàng ân tình, chan chứa tình
yêu thương và trong ấy gửi gắm bao mơ ước thật cao đẹp. Và vì thế
tiếng thơ của Nguyễn Du là tiếng ru của mẹ ân tình, ngọt ngào thổi
vào lòng bao thế hệ có sức mạnh thật lớn lao. Tình cảm ấy, khúc
hát ru ân tình ấy là lời nhắc nhở, thủ thỉ cho con- thế hệ hôm nay
vững bước trưởng thành.
Bốn câu thơ, ba cặp lục bát song hành ấy là tình cảm, tiếng lòng
của chúng con thế hệ hôm nay đáp lời quá khứ. Đó cũng là lời hứa
chân thành nhất của thế hệ hôm nay cùng ngân vang theo nhịp đập
của quá khứ.
Bằng lối tập Kiều nhuần nhuyễn, sử dụng hình ảnh có tính gợi hình,
giọng điệu ân tình, ngọt ngào, đậm chất dân tộc, khổ thơ đã thể hiện
trọn vẹn phong cách thơ Tố Hữu: khuynh hướng thơ trữ tình – chính
trị, một giọng điệu tâm tình ngọt ngào và đậm đà tính dân tộc. Khổ
thơ khép lại nhưng lại mở ra một chân trời mới, tương lai mới trong
hành trình chống Mỹ hôm nay:
Sông Lam nước chảy bên đồi
Bỗng nghe trống giục ba hồi gọi quân
“Bài thơ là âm điệu của một cõi lòng bị sóng khuấy động, đang rung
lên đồng điệu đồng nhịp với sóng biển. Rạo rực đến xôn xao, khát
khao đến khắc khoải, có một hình tượng sóng được vẽ lên bằng một
âm điệu dập dồn, chìm nổi, miên man như hơi thở chạy suốt cả
bài…”.
Câu 4 (trang 45 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Bài thơ giúp bạn hiểu
thêm điều gì về nỗi lòng của Nguyễn Du và tác phẩm của ông?
Trả lời:
Hiểu thêm được sức lay động lòng người sâu xa, sức sống mãnh
liệt của Truyện Kiều; hiểu thêm sự kết tinh của hồn dân tộc trong
thơ Nguyễn Du.
Soạn bài Thực hành tiếng Việt trang 45 Tập 2 - Chân trời
sáng tạo
Câu 1 (trang 45 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Chỉ ra và nêu tác dụng
của biện pháp đối trong các trường hợp dưới đây:
a.Nỗi riêng riêng những bàn hoàn
Dầu chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
b.Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
(Nguyễn Du, Truyện
Kiều)
c.Nhẹ như bấc nặng như chì,
Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Trả lời:
a. Biện pháp đối: “Dầu chong trắng đĩa” - “lệ tràn thấm khăn”
→ Tác dụng: Với việc sử dụng phép đối, bài thơ đã tạo ra một sự
đối lập rõ ràng giữa sự đau buồn của nhân vật Thúy Kiều và sự
hạnh phúc của những người khác, tạo ra một hiệu ứng tâm lý mạnh
mẽ và tăng cường tính thuyết phục của bài thơ.
b. Biện pháp đối: “người ngoài cười nụ” - “người trong khóc thầm”
→ Tác dụng: Biện pháp đối đã tăng tính tương phản giữa hai trạng
thái cảm xúc của con người trong cùng một không gian nhưng lại
hoàn...
 
Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn. (Barack Obama)





