THÔNG BÁO

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

SÁCH NÓI - KỸ NĂNG SÓNG

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH HAY CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    TRÍCH DẪN HAY

    Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Gioi_han_sinh_thai_xuong_rong.png Gioi_han_sinh_thai_cua_tam.png Gioi_han_sinh_thai_ca_ro_phi.png BANDOKINHTE.jpg HB_NHOMNUOC.jpg HB_MDDS.jpg Ban_do_cac_nuoc_Dong_Nam_A.jpg TDMNPB_tunhien.jpg

    KIẾN THỨC LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

    💕💕 💕💕Thư viện không phải là nơi để ghé qua trong vội vã, mà là nơi yên bình ta chọn dừng chân giữa bộn bề cuộc sống. Nơi đây, mỗi cuốn sách đều như một mảnh ghép của thời gian, gói ghém những tri thức và câu chuyện của biết bao thế hệ💕💕 💕💕

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng Sản Việt Nam

    rung-na-uy-1543906918

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 12h:24' 07-03-2024
    Dung lượng: 1.6 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    RỪNG NA UY
    Haruki Murakami
    Trịnh Lữ dịch
    Tên sách: Rừng Na Uy
    Tác giả: Haruki Murakami
    Người dịch: Trịnh Lữ
    Thể loại: Văn học nước ngoài
    Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn
    Năm xuất bản: 2006
    Khổ: 13x20.5 cm
    –––––––
    Nguồn: Vnthuquan
    Sửa chính tả (TVE): tovanhung
    Chuyển sang ebook (TVE): tovanhung
    (Ebook được thực hiện đúng với bản in)
    Ngày hoàn thành: 3/9/2006
    http://www.thuvien-ebook.com
    Lời người dịch
    Chương 1
    Chương 2
    Chương 3
    Chương 4
    Chương 5
    Chương 6
    Chương 7
    Chương 8
    Chương 9

    Chương 10
    Chương 11

    Lời người dịch
    Mối tình sâu sắc nhất của bạn có gắn liền với một bài hát nào
    không? Một cảnh trí nào không? Như một căn phòng trong
    đêm mưa mùa hạ? Một chiều thu ngoài bìa rừng hoang vắng?
    Rừng Na-uy là tên một bài hát của nhóm nhạc Beatles nổi
    tiếng. Lời cả có những câu “Tôi từng có một cô gái, mà có lẽ
    đúng hơn là cô ấy đã từng có tôi… Cô dẫn tôi vào phòng và
    bảo tôi ngồi đâu cũng được, nhưng tôi thấy chẳng có chiếc
    ghế nào… Khi tỉnh dậy tôi chỉ có một mình, con chim ấy đã
    bay đi rồi…” Giai điệu và cấu trúc bài hát rất giản dị. Những
    sự kiện làm biến đổi cả cuộc đời ta thường gắn liền với những
    cái ngẫu nhiên giản dị. Ký ức khi đã trưởng thành thường cũng
    chỉ xúc động vì những điều giản dị. Và Rừng Na-uy là một câu
    chuyện tình yêu giản dị.
    Giản dị như sự thật.
    Như bốn mùa.
    Như Sống/Chết.
    Như đại thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore đã viết về con tim
    biết yêu: “Cái giàu cái nghèo của nó là vô biên, niềm vui nỗi
    buồn của nó là trường cửu.” Cái giản dị của Rừng Na-uy là cái
    giản dị chỉ có được khi người viết đã vượt lên hết những làm
    dáng có bản chất kĩ thuật vốn rất khó tránh trong sáng tác để
    chỉ bồi hồi kể lại những gì đang tuôn trào từ sâu thẳm cõi lòng
    mình.
    Rừng Na-uy không lãng mạn. Nó không lí tưởng hoá và do
    vậy không bị lừa mị bởi chính những lí tưởng ấy của mình. Nó
    dũng mãnh như mũi tên vừa bay ra khỏi cánh cung. Thẳng từ
    cõi lòng bộc trực và chân xác của kiếp người. Đọc lời thoại
    trong Rừng Na-uy, tôi chỉ mong mình cũng nói được như thế
    với người mình yêu mến. Bị lôi cuốn theo những ý nghĩ và xúc
    cảm trong Rừng Na-uy, tôi cũng chỉ mong mình dám nghĩ
    được thành lời những gì vẫn cuộn tròn trong lòng mình như
    vậy. Đọc Rừng Na-uy, tôi chợt nhớ ra rằng hình như mình đã

    chỉ quen lừa mị bản thân, lừa mị người khác, để bôi trơn mọi
    mối quan hệ xã hội vốn chỉ xoay quanh và bị chi phối bởi tiền
    bạc, quyền lợi, danh vọng… Hình như tôi đã quên mất, hoặc
    đã luôn có ý thức đè nén tất cả những gì gọi là tự nhiên và cao
    cả của chính mình, hình như tất cả những “người bạn”, “người
    yêu” kia chẳng phải vậy chút nào, vì đã có bao giờ tôi dám nói
    thẳng lòng mình với họ và biết chắc rằng họ cũng đã nói thẳng
    lòng họ với mình. Hình như tôi cũng đã chẳng phải là mình, vì
    đã khi nào tôi thực sự dám nhìn nhận những khiếm khuyết
    méo mó của mình, có ý thức công nhận chúng và biết vui với
    chúng, cũng như công nhận và vui với những khiếm khuyết
    của mọi người.
    Con chim sắp chết, tiếng hót bi thương; con người hấp hối, lời
    nói chân thành. Tại sao vậy? Chỉ có sự chết mới cứu vãn được
    loài người khỏi nghiệp chướng dối trá hay chăng? Đọc Rừng
    Na-uy, tôi thấm thía được một chân lí giản đơn, rằng “sự chết
    không là đối nghịch của sự sống, mà là một phần của sự
    sống”. Sống, tức là nuôi dưỡng Chết. Sự chết không phải là
    chấm dứt, cũng chẳng phải là bắt đầu. Nó ở ngay đây rồi, được
    chính sự sống nuôi dưỡng.
    Và tôi hiểu được tại sao chỉ những nhân vật trung thực trong
    trắng và dũng cảm trong Rừng Na-uy mới tự kết liễu cuộc đời
    mình. Họ còn quá trẻ và không đủ kiên nhẫn để hy vọng cuộc
    đời này sẽ nuôi dưỡng được một cái chết tự nhiên xứng đáng.
    Và tôi cũng hiểu tại sao nhiều nhà văn lớn của Nhật Bản như
    Osamu Dazai và Yasunari Kawabata cũng đã chọn cái chết để
    khỏi phải chứng kiến cái đẹp và cái cao cả đang bị thời cuộc
    làm nhục.
    Cuộc khủng hoảng của thế hệ trẻ Nhật Bản cuối thập kỷ 1960
    trong Rừng Na-uy không phải chỉ là sự đớn đau của linh hồn
    và thân xác đang phải vượt ngưỡng ngây thơ, mà còn là sự thất
    vọng lớn lao trước những biến đổi ngu xuẩn của thời cuộc:
    phép lạ kinh tế của một đế quốc quân chủ thất trận đang khiến
    cho lòng tin mù quáng vào Thiên Hoàng bị thay thế bởi tín
    ngưỡng có tính toán vào sức mạnh của đồng tiền và những ước
    lệ xã hội kèm theo.

    Tôi đọc Rừng Na-uy và nhớ đến Hemingway, Paul Bowls,
    Kerouac… đến những thế hệ trí thức trẻ tuổi Âu Mỹ sau hai
    cuộc thế chiến vẫn được gọi là The lost generations - những
    thế hệ bị tha hoá với chính sự thắng thế và hưng thịnh vật chất
    của phương Tây, không tìm thấy chỗ đứng của mình trong
    chốn phồn thực hãnh tiến ấy. Tôi nhớ đến Kundera và cái nhẹ
    bỗng không thể chịu đựng nổi của kiếp người trong vòng xoáy
    của những cuộc đổi thay bạo lực. Và tôi cũng nhớ đến câu nói
    của Alexei Tolstoi: “Những cuộc chiến tranh rồi sẽ chấm dứt,
    những cuộc cách mạng sẽ thôi gào thét, và sẽ chỉ còn lại mãi
    mãi tấm lòng dịu dàng và êm ái của em.”
    Trong Rừng Na-uy, thân xác là nơi trú ngụ và phương tiện
    biểu cảm tự nhiên nhất của tình yêu. Không những hoàn toàn
    không phải là một “dâm thư”, mà ngược lại, Rừng Na-uy là
    cuốn tiểu thuyết bắt người đọc phải nhận thức được sự ngu
    xuẩn của mọi thứ dâm tính trong thị trường văn chương, phim
    ảnh, và trong chính ý nghĩ của con người. Rừng Na-uy chinh
    phục được độc giả toàn thế giới vì nó đã giúp giới trẻ (và cả
    những người không còn trẻ nữa) nhận ra cái cao cả theo nghĩa
    triết học và tự nhiên của tình yêu. Cái cao cả không còn núp
    bóng lí tưởng và lãng mạn, mà công khai trực tiếp trong tấm
    lòng trung thực dũng mãnh của tuổi trẻ.
    Đọc Rừng Na-uy rồi, tôi chắc bạn sẽ nghĩ nhiều về bản thân
    mình. Về người mình yêu. Về bạn bè. Về bố mẹ anh chị em
    trong nhà. Bạn sẽ nghĩ, và sẽ nhớ đến lời những nhân vật trong
    Rừng Na-uy, và thực sự cảm thấy sung sướng vì máu nóng
    đang chảy trong huyết quản bạn, vì bạn đang sống, vì tình yêu
    là có thực. Và bạn sẽ muốn chạy đến với người mình yêu mến
    nhất để nói rằng bạn hỡi, chúng ta hãy trung thực với nhau,
    cùng làm quen và chấp nhận những bất toàn của nhau, vì chỉ
    có vậy chúng ta mới có thể tìm thấy bình yên và hạnh phúc.
    Nhân vật chính trong Rừng Na-uy tên là Toru Wantanabe.
    Tôi đã thấy cái tên Toru và Watanabe này ở vài tác phẩm khác
    của Murakami. Tự nhiên tôi giật mình: Murakami tuổi Kỷ
    Sửu, mà trong tử vi Tây Phương thì tuổi Sửu là Taurus - vị
    thần bò dũng mãnh đầy nhục cảm trong thần thoại Hy Lạp mà
    tôi vẫn bắt gặp trong tranh vẽ của Picasso. Toru phải chăng là

    một biến âm dí dỏm của Taurus theo lối Murakami? (Rừng
    Na-uy dí dỏm lắm, bạn cứ đọc mà xem).
    Và Watanabe phải chăng là âm thanh vọng lại từ mấy từ tiếng
    Anh: “Want to be” - muốn được tồn tại, muốn sống, muốn
    thành được như thế? Có lẽ sự chân thực và tình yêu dũng
    mãnh của nhân vật Toru Watanabe đối với cả bản ngã và tha
    nhân trong Rừng Na-uy cũng chính là mơ ước của tác giả. Thế
    mới thật là tiểu thuyết! Đọc Rừng Na-uy rồi, tự nhiên ta thấy
    mình tự nhủ rằng nào, hãy mạnh mẽ lên như thần bò huyền
    thoại, và hãy biết “want to be”. Ấy là một vài xúc cảm riêng tư
    của tôi khi đọc và dịch Rừng Na-uy.
    Còn bạn, cuộc đời của bạn là cả một cõi riêng tư khác biệt, và
    bạn sẽ còn tìm được nhiều cái hay cái lạ nữa khi đọc Rừng Nauy. Từng nghĩa trong tiểu thuyết cũng như xiêm y mỹ nhân,
    lớp lang của nó hấp dẫn đến đâu là tuỳ ở lòng người lần mở,
    và khi ta tưởng đã đến nơi thì hoá ra mới chỉ là bắt đầu. Cái
    duyên của Murakami là ông động được đến tơ lòng sâu kín
    của tất cả mọi người. Mong rằng những ân hưởng văn chương
    và cuộc đời mà tôi đã nhận được từ ông vẫn nguyên vẹn trong
    từng con chữ Việt mà tôi đã lựa chọn để kể lại Rừng Na-uy
    cho bạn nghe với tấm lòng bồi hồi trân trọng của mình.
    TRỊNH LỮ

    Chương 1
    Lúc ấy tôi đã ba mươi bảy tuổi, đang ngồi thắt chặt dây an
    toàn khi chiếc 747 kềnh càng nhào xuống qua tầng mây dày
    dặc về phía sân bay Hamburg. Những trận mưa tháng Mười
    một lạnh lẽo thấm đâm mặt đất, khiến mọi vật ảm đạm như
    trong một bức tranh phong cảnh Hà Lan ngày xưa: đám nhân
    viên mặt đất trùm áo mưa, mảnh cờ u rũ trên nóc một toà nhà
    vuông vức trong sân bay, một tấm biển quảng cáo xe BMW.
    Chao ôi, lại nước Đức đây rồi.
    Khi máy bay đang lăn bánh trên mặt đất, tiếng nhạc nhè nhẹ
    bắt đầu trôi ra từ hệ thống loa trên trần: một bản hoà tấu không
    lời ca khúc “Rừng Na-uy” của nhóm Beatles. Giai điệu ấy bao
    giờ cũng khiến toàn thân tôi run rẩy, nhưng lần này, nó làm tôi
    choáng váng hơn bao giờ hết.
    Tôi cúi xuống, hai tay ôm mặt, cố giữ cho đầu mình khỏi nứt
    ra. Chẳng mấy chốc một chiêu đãi viên người Đức đến hỏi
    bằng tiếng Anh xem tôi có sao không.
    “Không sao,” tôi nói, “tôi chỉ hơi chóng mặt.”
    “Ông chắc vậy không?”
    “Vâng, chỉ vậy thôi. Cám ơn cô.”
    Cô ta mỉm cười bỏ đi, và âm nhạc chuyển sang một điệu hát
    của Billy Joel. Tôi ngồi thẳng lên và nhìn qua cửa sổ về phía
    những đám mây đen đang lơ lửng trên Biển Bắc, nghĩ đến
    những mất mát trong cuộc đời mình: những thời đã qua không
    bao giờ trở lại, những bạn bè đã chết hoặc biệt vô âm tín,
    những cảm xúc mãi mãi không còn nữa.
    Máy bay đã đến cửa lên xuống. Người ta bắt đầu tháo dây an
    toàn và kéo hành lý xuống từ khoang trên ghế ngồi, trong khi
    đó tôi chỉ thấy mình ngoài đồng cỏ. Tôi ngửi thấy cả mùi cỏ,
    cảm thấy gió mơn man trên mặt, nghe thấy tiếng chim kêu.
    Mùa thu 1969, lúc ấy tôi sắp hai mươi.

    Cô chiêu đãi viên trở lại. Lần này thì cô ngồi xuống cạnh tôi
    và hỏi xem tôi có ổn cả không.
    “Tôi không sao, cám ơn cô, “tôi nói và mỉm cười. “Chỉ thấy
    hơi bâng khuâng vậy thôi.”
    “Tôi hiểu chuyện đó,” cô nói. “Tôi cũng thế, lâu lâu lại bị một
    lần.”
    Cô đứng lên và mỉm cười với tôi, vẻ thật đáng yêu.
    “Vậy nhé, xin chúc ông một chuyến đi tốt đẹp. Auf
    [1]
    Wiedersehen”
    “Auf Wiederseben.”
    Mười tám năm đã trôi qua, nhưng tôi vẫn có thể nhớ lại từng
    chi tiết của ngày hôm đó trên đồng cỏ. Được tắm rửa sạch sẽ
    bởi những ngày mưa nhẹ nhàng mùa hạ, những rặng núi xanh
    thẳm như rõ ràng hẳn lên. Làn gió nhẹ tháng Mười thổi đung
    đưa những ngọn cỏ trắng cao lút đầu người. Một dải mây dài
    lửng lơ vắt ngang vòm trời xanh im phăng phắc. Chỉ nhìn bầu
    trời thăm thăm ấy thôi cũng đã thấy nao núng cả cõi lòng. Một
    cơn gió ào qua đồng cỏ, qua mái tóc nàng, rồi lẻn vào rừng
    khiến cây lá xào xạc và gửi lại những âm dội ngắn của tiếng
    chó sủa ở rất xa - một âm thanh lung linh mờ ảo có vẻ đã vọng
    đến chúng tôi từ ngưỡng cửa của một thế giới khác. Chúng tôi
    không gặp ai. Chỉ thấy hai con chim màu đỏ giật mình nhảy
    lên từ giữa đồng có và bay vụt vào rừng. Trong khi chúng tôi
    lững thững bên nhau, Naoko nói với tôi về những cái giếng.
    Ký ức thật ngộ. Khi còn ở trong cảnh thực thì tôi chẳng đề ý gì
    đến nó. Không bao giờ tôi nghĩ đến nó như một cái gì đó sẽ để
    lại một ấn tượng lâu dài, và chắc chắn là không thể tưởng
    tượng rằng mười tám năm sau tôi sẽ nhớ lại nó đến từng chi
    tiết. Ngày hôm đó tôi không quan tâm gì đến cảnh vật xung
    quanh. Tôi còn nghĩ đến bản thân mình, đến cô gái đẹp đang
    sánh bước với mình. Tôi đang nghĩ đến chuyện hai đứa với
    nhau, rồi lại đến bản thân mình. Tôi vẫn còn ở cái tuổi, ở cái
    đoạn của cuộc đời khi mọi cảnh trí, mọi cảm xúc, mọi ý nghĩ
    đều chỉ quay về chính bản thân mình như một chiếc
    boomerang.

    Và tệ hơn nữa, tôi đang yêu. Mối tình đầy khúc mắc. Đầu óc
    tôi không thể để ý đến cảnh vật xung quanh được.
    Ấy vậy mà giờ đây cái đầu tiên trở lại với tôi lại là cảnh trí
    đồng cỏ ngày hôm đó. Mùi cỏ, cảm giác hơi giá lạnh của ngọn
    gió, đường viền của những dải đồi, tiếng sủa của một con chó:
    đó là những thứ đầu tiên, và chúng hiện ra cực kì rõ ràng,
    tưởng như tôi có thể giơ tay ra và vuốt ve chúng. Thế nhưng,
    cho dù cảnh trí có rõ ràng đến mấy, vẫn không có ai trong đó
    cả. Không ai hết. Naoko không có ở đó, và cả tôi cũng vậy.
    Chúng tôi có thể biến đi đâu được chứ? Làm sao chuyện đó có
    thể xảy ra được?
    Tất cả những gì ngày đó còn có vẻ quan trọng - Naoko, cái bản
    ngã tôi có lúc bấy giờ, và cái thế giới tôi có lúc ấy: chúng có
    thế biến đi đâu được chứ? Thật sự là ngay cả gương mặt nàng
    tôi cũng không thể nhớ lại được - không ngay lập tức, ít nhất
    là thế. Tôi chỉ còn nắm giữ được một cái phông, đơn thuần
    cảnh trí, không có một người nào ở cận cảnh hết.
    Nói thật là nếu có thời gian, tôi vẫn có thể nhớ lại gương mặt
    nàng. Tôi phải chắp nối các hình ảnh vào với nhau - bàn tay
    lạnh tí xíu của nàng; mái tóc đen và duỗi thẳng của nàng, sờ
    vào thật mịn và thật mát; một cái thuỳ châu tròn trịa mềm mại
    và một nốt ruồi bé tí tẹo ngay bên dưới; chiếc áo khoác lông
    lạc đà nàng mặc mùa đông; thói quen nhìn thẳng vào mắt tôi
    mỗi khi nàng hỏi; giọng nói thỉnh thoảng lại hơi run run của
    nàng (như thể nàng đang nói trên một đỉnh đồi lộng gió) - và
    rồi gương mặt nàng bỗng ở đó, lúc nào cũng bắt đầu trong tư
    thế nhìn nghiêng, vì Naoko với tôi luôn có lối sánh bước bên
    nhau. Rồi nàng sẽ quay sang tôi, mỉm cười, hơi nghiêng đầu
    một chút, bắt đầu nói, và nhìn sâu vào mắt tôi như đang cố dõi
    theo một con cá nhỏ vừa bơi vụt qua một vùng nước của một
    con suối trong vắt.
    Dù sao, nhớ lại gương mặt Naoko là một việc mất thời gian.
    Và khi năm tháng cứ qua đi, quãng thời gian ấy cứ kéo dài mãi
    ra. Sự thật đáng buồn là cái mà tôi có thể nhớ lại được trong
    năm giây chẳng mấy chốc đã phải mất mười, rồi ba mươi giây,
    rồi trọn cả một phút - giống như bóng đổ cứ dài mãi ra cùng
    hoàng hôn vậy. Sẽ đến ngày, tôi nghĩ vậy, những bóng đổ ấy sẽ

    bị màn đêm nuốt chửng hết. Không có cách gì khác: kí ức tôi
    đang ngày càng xa cách cái điểm mà Naoko thường đứng - nơi
    cái bản ngã xưa cũ của tôi cũng thường ở đó. Và chỉ còn có
    cảnh trí, cái cảnh đồng cỏ tháng Mười ấy, là còn trơ lại với tôi,
    lần này qua lần khác, như khuôn hình tiêu biểu của một bộ
    phim. Mỗi lần xuất hiện, nó lại kích dộng một chỗ nào đó
    trong tâm trí tôi. Tỉnh dậy đi, nó nói, tôi vẫn ở đây mà. Hãy
    tỉnh dậy và suy nghĩ: Hãy nghĩ xem tại sao tôi vẫn ở đây.
    Những kích động ấy không bao giờ làm tôi đau đớn. Không có
    tí đau đớn nào. Chỉ có một âm thanh trống rỗng vọng lại tử
    mỗi lần kích động ấy. Và thậm chí cả cái đó nữa cũng sẽ phôi
    pha một ngày nào đó. Nhưng ở sân bay Hamburg, những kích
    động ấy lại mạnh hơn và lâu hơn thường lệ. Và đó chính là lý
    do tại sao tôi viết cuốn sách này. Để suy nghĩ. Để hiểu. Chẳng
    qua là cái tạng tôi nó thế. Tôi phải viết hết mọi thứ ra giấy để
    cảm thấy rằng mình thực thấu hiểu chúng.
    Bây giờ, hay xem hôm đó Naoko đang nói những chuyện gì?
    Phải rồi, chuyện “giếng đồng”. Tôi chịu không thể biết liệu có
    một cái giếng như thế hay không. Có thể nó là một hình ảnh
    hoặc một dấu hiệu chỉ tồn tại trong con người Naoko, cũng
    như mọi thứ khác mà nàng thường thêu dệt thành sự thật trong
    tâm trí mình trong suốt những tháng ngày đen tối ấy. Vậy mà
    một khi nàng đã tả nó cho tôi nghe, tôi không thể nghĩ đến
    cảnh trí đồng có ấy mà không có cái giếng. Từ ngày ấy trở đi,
    hình ảnh của một thứ mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy đã hoà
    quyện khăng khít với cảnh trí thực của cánh đồng nằm ngay
    trước mắt tôi. Tôi có thể mô tả cái giếng đến từng chi tiết nhỏ.
    Nó nằm ngay ở nơi đồng cỏ kết thúc và rừng cây bắt đầu một
    lỗ mở đen ngòm vào lòng đất, đường kính tới một thước, cỏ
    mọc che đầy. Chẳng có gì đánh dấu chu vi của nó - không
    hàng rào, không thành giếng bằng đá (ít nhất là không có
    thành xây cao lên khỏi mặt đất). Nó chỉ là một cái lỗ, một cái
    miệng rộng ngoác. Những phiến đá quanh miệng giếng đã bị
    thời gian bào mòn, ngả một màu trắng nhem nhuốc lạ lùng.
    Chúng nứt nẻ, vỡ nát, và một con thằn lằn nhỏ xanh lét vừa
    trườn vào một kẽ nứt sâu hoắm. Ta có thể nghiêng người bên
    mép giếng và nhìn xuống để chẳng thấy gì hết. Điều duy nhất

    tôi biết về cái giếng là nó sâu khủng khiếp. Nó sâu đến độ
    không thể đo được, và đầy chặt bóng tối, như thể toàn bộ bóng
    tối của thế giới đã được nấu chảy và lèn vào đó đến tận cùng
    đậm đặc của chúng.
    “Nó sâu lắm, thực vậy,” Naoko nói, cẩn thận lựa từng lời. Đôi
    khi nàng nói kiểu đó, chậm hẳn lại để tìm từng lời chính xác
    mình cần. “Nhưng không ai biết nó ở đâu,” nàng nói tiếp.
    “Mình chỉ biết chắc một điều là nó ở đâu đó quanh đây.”
    Hai tay đút sâu trong túi áo chen bằng vải tuýt, nàng mỉm cười
    với tôi như có ý “nói thật đấy!”
    “Nếu vậy thì nguy hiểm vô cùng.” tôi nói. “Một cái giếng sâu,
    nhưng không ai biết nó ở đâu. Ta có thể ngã vào nó và thế là
    hết đời.”
    “Hết đời. Aaaaaaaaaaaaa! Tũm một cái. Hết chuyện!”
    “Chuyện ấy chắc phải xảy ra rồi.”
    “Đúng thế, lâu lâu lại có một lần. Có thể hai hoặc ba năm một
    lần. Tự nhiên có người biến mất, và không thể tìm thấy ông ta.
    Và lúc ấy mọi người ở quanh đây lại bảo “Ồ, ông ấy ngã
    xuống giếng đồng rồi.”
    “Chết như thế thật chẳng ra sao cả,” tôi nói.
    “Đúng vậy, chết thế thật khủng khiếp,” Naoko nói, tay phủi
    một đám hạt cỏ vương trên áo. “Tốt nhất là mình gẫy cổ luôn,
    nhưng có thể mình lại chỉ gẫy chân và không xoay xở gì được.
    Mình kêu đến rách phổi nhưng không ai nghe thấy, và không
    thể hy vọng sẽ có ai tìm thấy mình, rồi bọn nhện và rết sẽ bò
    lên khắp người mình, xương của những nạn nhân trước lủng
    củng khắp xung quanh, rồi thì tối mò và ướt lạnh, và mãi tít
    trên đầu là cái chấm sáng tí ti như một mảnh trăng mùa đông.
    Mình chết trong đó, ở ngay đâu đây, dần dà tí một, chỉ có một
    mình.”
    “Khiếp! Chỉ nghĩ đến chuyện ấy thôi là mình đã nổi da gà rồi,”
    tôi nói. “Phải có ai tìm ra được cái của đó và xây một bức
    tường xung quanh nó.”

    “Nhưng không ai có thể tìm được nó. Tốt nhất là cậu đừng rời
    khỏi lối mòn.”
    “Yên trí, mình không làm thế đâu.”
    Naoko rút bàn tay trái ra khỏi túi áo và nắm chặt lấy tay tôi.
    “Cậu đừng lo,” nàng nói. “Cậu sẽ ổn thôi. Cậu có thể chạy
    khắp quanh đây lúc nửa đêm mà cũng không bao giờ ngã
    xuống cái giếng đó. Cả mình nữa, mình sẽ không ngã xuống
    giếng chừng nào mình còn ở bên cậu.”
    “Không bao giờ ư?”
    “Không bao giờ!”
    “Sao cậu chắc vậy?”
    “Mình biết vậy thôi,” nàng nói, siết chặt tay tôi hơn và im lặng
    bước bên tôi. “Mình biết những chuyện đó. Mình luôn luôn
    đúng. Nó chẳng liên quan gì đến logic cả, mình chỉ cảm thấy
    như thế thôi. Ví dụ nhé, khi mình thực sự gần gụi cậu như thế
    này, mình không sợ một tí gì hết. Chẳng có gì đen tối hoặc xấu
    xa có thể cám dỗ được mình.”
    “Vậy thì đó là giải pháp rồi,” tôi nói. “Cậu chỉ cần luôn luôn ở
    bên cạnh mình như thế này thôi.”
    “Cậu nói thật đấy chứ?”
    “Tất nhiên rồi.”
    Naoko đứng dừng lại. Tôi cũng vậy. Nàng đặt hai tay lên vai
    tôi và nhìn vào mắt tôi. Sâu trong hai đồng tử nàng có một
    chất lỏng đen đặc đang xoáy tròn như một luồng gió xoáy lạ
    kỳ. Cặp mắt đẹp đẽ của nàng nhìn sâu mãi vào tôi một lúc lâu,
    rất lâu. Rồi nàng kiêng chân hết cỡ và chạm má nàng vào má
    tôi. Cử chỉ ấm áp kì diệu ấy khiến con tim tôi ngừng đập trong
    khoảnh khắc.
    “Cám ơn cậu.”
    “Không dám,” tôi đáp.
    “Mình thật hạnh phúc vì cậu đã nói thế. Thật sự hạnh phúc,”
    nàng nói với một nụ cười buồn rầu. “Nhưng không thể được.”

    “Không thể được ư? Tại sao?”
    “Chuyện đó sẽ không phải. Nó sẽ khủng khiếp lắm. Nó…”
    Naoko bỗng ngậm miệng và lại bắt đầu bước đi. Tôi có thể
    thấy đủ mọi ý nghĩ đang quay cuồng trong đầu nàng, và thay
    vì chen vào chúng, tôi chỉ giữ im lặng và sánh bước với nàng.
    “Nó sẽ không phải - không phải với cậu, không phải với
    mình,” nàng nói sau một hồi lâu lặng lẽ.
    “Không phải thế nào chứ?” tôi thì thầm.
    “Cậu không thấy sao? Không thể có chuyện một người cứ
    canh chừng một người khác mãi mãi và mãi mãi. Mình muốn
    nói là, giả dụ chúng mình lấy nhau. Cậu sẽ phải đi làm hàng
    ngày. Ai sẽ canh chừng mình khi cậu đi làm? Liệu mình có thể
    dính chặt với cậu từng phút từng giây trong suốt cả cuộc đời
    chúng ta chăng? Bình đẳng gì mà như vậy? Thứ quan hệ gì
    đây? Chẳng chóng thì chầy cậu sẽ phát ốm vì mình. Cậu sẽ tự
    hỏi cậu đang làm gì với cuộc đời của cậu, tại sao cậu phải
    dành hết thời gian của cậu để canh chừng người đàn bà này.
    Mình sẽ không thể chịu được chuyện đó. Nó không thể giải
    quyết được bất kì vấn đề nào của mình.”
    “Nhưng đến lúc ấy những vấn đề của cậu sẽ không còn nữa cơ
    mà?” tôi nói, tay vỗ nhẹ vào lưng nàng. “Cuối cùng chúng sẽ
    kết thúc. Và khi đó, chúng ta sẽ cùng nghĩ đến chuyện tiếp
    theo. Có khi cậu lại phải giúp mình thì sao. Chúng ta không
    sống theo nguyên tắc kế toán tài chính. Nếu cậu cần mình, hãy
    cứ sử dụng mình. Cậu hiểu không? Tại sao cậu phải cứng nhắc
    thế? Cậu hãy thoải mái đi nào, đừng cảnh giác nữa. Cậu căng
    thẳng quá nên lúc nào cũng chỉ sợ gặp chuyện tồi tệ. Thả lỏng
    người đi, và mọi thứ khác của cậu sẽ nhẹ nhàng hơn.”
    “Làm sao cậu có thể nói vậy được?” nàng hỏi với giọng đã cạn
    kiệt cảm xúc.
    Giọng nói của Naoko đánh động rằng có thể tôi đã lỡ lời điều
    gì đó.
    “Thử nói xem, làm sao cậu có thể nói như vậy được chứ,”
    nàng nói, trân trối nhìn xuống mặt đất dưới chân mình. “Cậu
    chẳng nói được điều gì mà mình chưa biết. “Thả lỏng người

    đi, và mọi thứ khác của cậu sẽ nhẹ nhàng hơn.” Nói thế với
    mình thì có nghĩa gì? Nếu mình thả lỏng thân xác mình bây
    giờ, mình sẽ tan rã. Mình đã luôn sống như thế này, và đó là
    cách sống duy nhất mà mình biết. Nếu mình thả lỏng trong
    một giây, mình sẽ không thể tìm được đường về. Mình sẽ tan
    thành từng mảnh, và những mảnh ấy sẽ bị thổi tung đi khắp
    nơi. Tại sao cậu không thấy được điều đó? Làm sao cậu có thể
    nói đến chuyện canh chừng cho mình nếu như cậu không thể
    thấy được điều đó?”
    Tôi nín lặng.
    “Mình hoang mang. Thực sự hoang mang. Và chuyện đó sâu
    sắc hơn cậu tưởng rất nhiều. Sâu hơn… đen tối hơn… lạnh lẽo
    hơn. Nhưng cậu hãy nói xem, làm sao mà cậu lại có thể ngủ
    với mình lần ấy? Làm sao cậu có thể làm một chuyện như vậy
    được? Tại sao cậu lại không để cho mình được yên thân một
    mình?”
    Bấy giờ chúng tôi đã đang bước đi trong cái yên ắng đáng sợ
    của một khu rừng thông. Xác những con ve đã chết khô từ dạo
    cuối hè rải rác khắp trên mặt lối đi, lạo xạo dưới gót giày. Như
    thể tìm kiếm một thứ gì mà chúng tôi đã đánh mất, Naoko và
    tôi tiếp tục chậm rãi bước theo lối mòn.
    “Mình xin lỗi,” nàng nói, nắm lấy tay tôi và lắc đầu. “Mình
    không định hành hạ cậu. Hãy cố đừng để những gì mình nói
    làm cậu phiền lòng. Mình xin lỗi, thực lòng xin lỗi. Mình chỉ
    giận dữ với bản thân mà thôi.”
    “Có lẽ mình chưa thực hiểu cậu,” tôi nói. “Mình không được
    thông minh lắm đâu. Chuyện gì cũng phải lâu lâu mình mới
    hiểu ra. Nhưng nếu mình thực sự có thời gian, mình sẽ hiểu
    cậu bằng được - hơn bất kì ai khác trên thế gian này.”
    Chúng tôi dừng bước và đứng trong khu rừng yên ắng, lắng
    nghe. Tôi dùng múi giày nghịch những quả thông và xác ve
    sầu, rồi ngẩng nhìn những mảnh trời qua vòm lá thông. Hai tay
    đút túi, Naoko đứng đó và suy nghĩ, mắt không nhìn vào đâu
    cụ thể.

    “Hãy nói xem, Toru”, nàng lên tiếng. “Cậu có yêu mình
    không?”
    “Cậu biết là mình yêu cậu mà.”
    “Vậy cậu có thể giúp mình hai việc không?”
    “Xin thưa, quí cô có thể có những ba điều ước kia!”
    Naoko mỉm cười và lắc đầu. “Không, hai là đủ rồi. Một là cậu
    hãy biết rằng mình rất biết ơn cậu đã đến tận đây thăm mình.
    Mình hy vọng cậu sẽ hiểu là cậu đã làm cho mình hạnh phúc
    biết bao nhiêu. Mình biết rằng nếu có cái gì có thể cứu được
    mình, thì chính là niềm hạnh phúc này đây. Có thể mình không
    biểu lộ được điều đó, nhưng thật là như vậy đấy.”
    “Mình sẽ đến thăm cậu nữa mà,” tôi nói. “Thế còn điều ước
    thứ hai?”
    “Mình muốn cậu luôn luôn nhớ đến mình. Cậu sẽ nhớ rằng
    mình đã tồn tại, rằng mình đã đứng cạnh cậu ở đây như thế
    này chứ?”
    “Lúc nào cũng vậy,” tôi nói. “Mình sẽ luôn luôn nhớ.”
    Nàng bước đi và không nói gì nữa. Những tia sáng mùa thu
    xiên qua cành lá nhảy nhót trên vai áo nàng. Một con chó lại
    cất tiếng sủa, nghe gần hơn trước. Naoko trèo lên một gò nhỏ,
    bước ra khỏi khu rừng và đi vội xuống một triền dốc thoai
    thoai. Tôi theo nàng cách hai ba bước chân.
    “Lại đây nào,” tôi gọi sau lưng nàng. “Cái giếng có thể ở đâu
    đó quanh đây.” Naoko dừng lại và mỉm cười, rồi cầm lấy tay
    tôi. Chúng tôi đi nốt quãng đường, vai kề vai.
    “Cậu thực sự hứa là sẽ không quên mình chứ?” nàng hồi gần
    như thì thầm.
    “Mình sẽ không bao giờ quên cậu,” tôi nói. “Không bao giờ
    mình có thể quên cậu.”
    Vậy mà ký ức tôi đã ngày càng mờ nhạt đi, và tôi đã quên
    nhiều thứ mất rồi. Viết bằng hồi ức như thế này, tôi thường có
    những cơn sợ hãi đến thắt lòng. Nếu tôi đã quên mất điều quan
    trọng nhất thì sao? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu ở đâu đó trong tôi

    có một bến lú tối tăm nơi tất cả những ký ức thực sự quan
    trọng bị chất đống lại và từ từ biến thành bùn đất?
    Cho dù có như vậy đi nữa, đó là tất cả những gì tôi có. Ghì
    chặt những ký ức không hoàn hảo, đang lu mờ và đã phôi pha
    ấy trên ngực, tôi tiếp tục viết cuốn sách này với toàn bộ sức
    căng tuyệt vọng của một người chết đói đang mút từng mẩu
    xương nhặt được. Đó là cách duy nhất tôi biết để giữ lời hứa
    với Naoko.
    Một lần, lâu lắm rồi, khi tôi còn trẻ, khi ký ức tôi còn sống
    động hơn giờ đây rất nhiều, tôi thường cố viết về nàng. Nhưng
    tôi không thể viết được một dòng nào.
    Tôi biết rằng nếu cái dòng đầu tiên ấy mà xong, phần còn lại
    sẽ tự nó trào ra mặt giấy, nhưng tôi không thể làm được điều
    đó. Mọi thứ còn quá sắc nét và rõ ràng, đến nỗi tôi không biết
    phải bắt đầu từ đâu - kiểu như một tấm bản đồ có quá nhiều
    chỉ dẫn đôi khi lại thành vô dụng.
    Nhưng giờ đây, tôi hiểu rằng tất cả những gì mình có thể chất
    lên con thuyền chữ nghĩa không hoàn hảo này chỉ là những ký
    ức không hoàn hảo và những ý nghĩ không hoàn hảo. Những
    ký ức về Naoko càng lu mờ trong tôi thì tôi lại càng hiểu nàng
    sâu sắc hơn. Tôi cũng đã biết tại sao nàng xin tôi đừng quên
    nàng. Bản thân Naoko biết điều đó, tất nhiên rồi. Nàng biết
    rằng ký ức của tôi về nàng sẽ phôi pha. Và chính thế mà nàng
    xin tôi đừng bao giờ quên nàng, hãy nhớ rằng nàng đã từng tồn
    tại.
    Ý nghĩ ấy xâm chiếm tôi với một nỗi đau tưởng chừng như
    không thể chịu đựng nổi. Bởi lẽ Naoko chưa từng yêu tôi bao
    giờ.

    Chương 2
    Đã có một thời, nhiều năm trước đây - đúng ra là hai mươi
    năm trước đây - tôi đã sống trong một khu học xá. Tôi mười
    tám tuổi và là sinh viên năm thứ nhất. Tôi mới đến Tokyo và
    chưa sống một mình bao giờ nên cha mẹ tôi rất lo, và họ thu
    xếp cho tôi ở trong một khu học xá tư nhân chứ không thuê
    một căn phòng riêng cho tôi như hầu hết các sinh viên khác.
    Khu học xá phục vụ cả ăn uống và nhiều tiện nghi khác nên có
    thể sẽ giúp đứa con mười tám tuổi đầu còn lớ ngớ của họ sống
    sót được. Và còn cả chuyện chi phí nữa. Ở khu học xá rẻ hơn
    nhiều so với thuê phòng riêng. Chỉ cần chăn chiếu và một cái
    đèn thôi là đủ, không phải mua thêm đồ đạc gì nhiều. Riêng tôi
    vẫn muốn thuê một căn hộ và sống thoải mái một mình, nhưng
    biết rằng cha mẹ còn phải trả tiền học và các thứ lệ phí khác
    cho cái trường đại học tư mà mình đã đỗ vào, nên tôi không
    dám đòi hỏi gì thêm. Ngoài ra, thực tình tôi cũng chẳng mấy
    quan tâm đến nơi ăn chốn ở của mình.
    Nằm trên một quả đồi ở trung tâm thành phố với tầm nhìn
    rộng rãi, khu học xá có một khuôn viên vuông vức và có tường
    [2]
    bê-tông bao quanh. Một cái cây zelkova khổng lồ cao vút
    mọc ngay ở sau chỗ cổng trước. Người ta nói nó đã một trăm
    năm mươi tuổi là ít. Đứng dưới gốc mà nhìn lên thì những tán
    lá xanh dày đặc của nó che kín hết cả trời.
    Lối đi lát gạch từ cổng vào chạy vòng quanh cái cây ấy rồi tiếp
    tục thẳng tuột qua giữa khu đất vuông của khu học xá. Hai dãy
    nhà ba tầng bằng bê-tông nằm đối diện nhau qua lối đi ấy.
    Chúng to lừng lững với rất nhiều cửa sổ và làm người ta có ấn
    tượng như chúng là những toà chung cư được cải tạo thành
    nhà tù hoặc là nhà tù cải tạo thành khu chung cư. Tuy nhiên
    chúng không có vẻ gì là bẩn thỉu, mà cũng không gây cảm
    giác tăm tối. Có thể nghe thấy tiếng radio vọng ra từ những
    cửa sổ để mở, và tất cả cửa sổ đều mắc một loại rèm màu kem
    mà nắng không thể làm bạc thêm được nữa.

    Qua khỏi hai dãy nhà đó, lối đi dẫn đến một toà nhà sinh hoạt
    chung có hai tầng, tầng dưới là nhà ăn và khu nhà tắm, tầng
    trên có một giảng đường, các phòng họp, và bảy phòng dành
    cho khách mà tôi không bao giờ biết họ là ai. Bên cạnh toà nhà
    sinh hoạt chung ấy lại là một khu nhà ở nữa, cũng ba tầng.
    Khắp khuôn viên vuông vức ấy phủ đầy những sân cỏ rộng rãi,
    và nước phun từ các vòi tưới xoay tròn lấp loá dưới nắng trời.
    Phía sau toà nhà sinh hoạt chung là một sân có dùng để chơi
    bóng chày và bóng bầu dục, và sáu sân bóng quần. Khu học xá
    có đủ thứ ta có thể cần đến.
    Nó chỉ có mỗi một vấn đề: mùi vị chính trị của chính nó. Khu
    học xá được đặt dưới quyền của một kiểu tổ chức mờ ám xoay
    quanh một nhân vật cực hữu, và đối với tôi thì có một cái gì đó
    rất xiên xẹo trong cách họ điều hành cơ sở này. Có thể thấy
    điều đó trong cuốn sách nhỏ họ phát cho sinh viên mới đến và
    trong cả nội quy của khu học xá. Họ tuyên bố rằng khu học xá
    được thành lập theo “tinh thần chủ đạo” là “nỗ lực bồi dưỡng
    nguồn nhân lực quốc dân thông qua chất lượng tối cao của
    những cơ sở giáo dục”, và nhiều đại gia tài chính ủng hộ “tinh
    thần” này đã đóng góp tiền riêng của họ vào việc xây dựng nó.
    Đó là bộ mặt công khai của dự án, mặc dù bên dưới đó là gì thì
    còn cực kỳ mơ hồ. Có người nói đây là một kiểu công trình
    trốn thuế, có người lại coi đây là một màn trình diễn lấy danh
    tiếng của những nhân vật góp vốn, lại cũng có người nói rằng
    việc xây khu học xá chỉ là để che đậy hành vi chiếm đoạt một
    miếng gan miếng tiết của bất động sản công cộng. Nhưng có
    một chuyện chắc chắn là có thật: trong kí túc xá có một câu lạc
    bộ đặc tuyển gồm toàn những sinh viên thượng lưu từ nhiều
    trường đại học khác nhau. Họ lập ra nhưng “nhóm học tập”
    họp nhau nhiều lần một tháng với sự tham gia của cả nhiều
    sáng lập viên. Thành viên nào của câu lạc bộ này cũng chắc
    chắn sẽ có công ăn việc làm ngon lành sau khi tốt nghiệp. Tôi
    cũng chẳng biết trong những lý thuyết này, nếu có thể gọi thế,
    có cái nào đúng không, nhưng tất cả chúng đều có chung một
    giả định rằng có gì đó mờ ám về cơ sở này.
    Dù sao, tôi cũng đã có hai năm - từ mùa xuân 1968 đến mùa
    xuân 1970 - sống trong cái khu học xá “mờ ám” ấy. Cũng

    không thể giải thích được tại sao tôi lại chịu đựng được nó lâu
    đến thế. Về mặt sinh hoạt hàng ngày thì dù nó có là hữu
    khuynh hay tả khuynh hoặc gì gì đi nữa thì cũng chẳng khác gì
    đối với tôi.
    Ngày nào cũng khởi đầu bằng một lễ kéo cờ trịnh trọng. Họ
    chơi cả nhạc quốc thiều, tất nhiên rồi. Hai việc ấy không thể
    thiếu nhau được. Cột cờ trồng ở chính giữa khu học xá, có thể
    nhìn thấy từ cửa sổ của cả ba khu nhà ở.
    Trưởng khu nhà ở phía đông (nơi tôi kí túc) là người phụ trách
    lá cờ. Ông ta cao lớn, mắt diều hâu, tuổi trạc già năm mươi
    non sáu mươi. Mớ tóc xù của ông đã điểm bạc, và cái cổ rám
    nắng của ông có một vết sẹo dài. Người ta kháo nhau rằng ông
    đã tốt nghiệp trường huấn luyện tình báo Nakano từ thời chiến
    tranh, nhưng không ai biết chắc cả. Đứng cạnh ông là ...
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn. (Barack Obama)

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT CẨM GIÀNG II - HẢI DƯƠNG !