Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng Sản Việt Nam
rung-na-uy-1543906918

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:24' 07-03-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:24' 07-03-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
RỪNG NA UY
Haruki Murakami
Trịnh Lữ dịch
Tên sách: Rừng Na Uy
Tác giả: Haruki Murakami
Người dịch: Trịnh Lữ
Thể loại: Văn học nước ngoài
Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn
Năm xuất bản: 2006
Khổ: 13x20.5 cm
–––––––
Nguồn: Vnthuquan
Sửa chính tả (TVE): tovanhung
Chuyển sang ebook (TVE): tovanhung
(Ebook được thực hiện đúng với bản in)
Ngày hoàn thành: 3/9/2006
http://www.thuvien-ebook.com
Lời người dịch
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Lời người dịch
Mối tình sâu sắc nhất của bạn có gắn liền với một bài hát nào
không? Một cảnh trí nào không? Như một căn phòng trong
đêm mưa mùa hạ? Một chiều thu ngoài bìa rừng hoang vắng?
Rừng Na-uy là tên một bài hát của nhóm nhạc Beatles nổi
tiếng. Lời cả có những câu “Tôi từng có một cô gái, mà có lẽ
đúng hơn là cô ấy đã từng có tôi… Cô dẫn tôi vào phòng và
bảo tôi ngồi đâu cũng được, nhưng tôi thấy chẳng có chiếc
ghế nào… Khi tỉnh dậy tôi chỉ có một mình, con chim ấy đã
bay đi rồi…” Giai điệu và cấu trúc bài hát rất giản dị. Những
sự kiện làm biến đổi cả cuộc đời ta thường gắn liền với những
cái ngẫu nhiên giản dị. Ký ức khi đã trưởng thành thường cũng
chỉ xúc động vì những điều giản dị. Và Rừng Na-uy là một câu
chuyện tình yêu giản dị.
Giản dị như sự thật.
Như bốn mùa.
Như Sống/Chết.
Như đại thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore đã viết về con tim
biết yêu: “Cái giàu cái nghèo của nó là vô biên, niềm vui nỗi
buồn của nó là trường cửu.” Cái giản dị của Rừng Na-uy là cái
giản dị chỉ có được khi người viết đã vượt lên hết những làm
dáng có bản chất kĩ thuật vốn rất khó tránh trong sáng tác để
chỉ bồi hồi kể lại những gì đang tuôn trào từ sâu thẳm cõi lòng
mình.
Rừng Na-uy không lãng mạn. Nó không lí tưởng hoá và do
vậy không bị lừa mị bởi chính những lí tưởng ấy của mình. Nó
dũng mãnh như mũi tên vừa bay ra khỏi cánh cung. Thẳng từ
cõi lòng bộc trực và chân xác của kiếp người. Đọc lời thoại
trong Rừng Na-uy, tôi chỉ mong mình cũng nói được như thế
với người mình yêu mến. Bị lôi cuốn theo những ý nghĩ và xúc
cảm trong Rừng Na-uy, tôi cũng chỉ mong mình dám nghĩ
được thành lời những gì vẫn cuộn tròn trong lòng mình như
vậy. Đọc Rừng Na-uy, tôi chợt nhớ ra rằng hình như mình đã
chỉ quen lừa mị bản thân, lừa mị người khác, để bôi trơn mọi
mối quan hệ xã hội vốn chỉ xoay quanh và bị chi phối bởi tiền
bạc, quyền lợi, danh vọng… Hình như tôi đã quên mất, hoặc
đã luôn có ý thức đè nén tất cả những gì gọi là tự nhiên và cao
cả của chính mình, hình như tất cả những “người bạn”, “người
yêu” kia chẳng phải vậy chút nào, vì đã có bao giờ tôi dám nói
thẳng lòng mình với họ và biết chắc rằng họ cũng đã nói thẳng
lòng họ với mình. Hình như tôi cũng đã chẳng phải là mình, vì
đã khi nào tôi thực sự dám nhìn nhận những khiếm khuyết
méo mó của mình, có ý thức công nhận chúng và biết vui với
chúng, cũng như công nhận và vui với những khiếm khuyết
của mọi người.
Con chim sắp chết, tiếng hót bi thương; con người hấp hối, lời
nói chân thành. Tại sao vậy? Chỉ có sự chết mới cứu vãn được
loài người khỏi nghiệp chướng dối trá hay chăng? Đọc Rừng
Na-uy, tôi thấm thía được một chân lí giản đơn, rằng “sự chết
không là đối nghịch của sự sống, mà là một phần của sự
sống”. Sống, tức là nuôi dưỡng Chết. Sự chết không phải là
chấm dứt, cũng chẳng phải là bắt đầu. Nó ở ngay đây rồi, được
chính sự sống nuôi dưỡng.
Và tôi hiểu được tại sao chỉ những nhân vật trung thực trong
trắng và dũng cảm trong Rừng Na-uy mới tự kết liễu cuộc đời
mình. Họ còn quá trẻ và không đủ kiên nhẫn để hy vọng cuộc
đời này sẽ nuôi dưỡng được một cái chết tự nhiên xứng đáng.
Và tôi cũng hiểu tại sao nhiều nhà văn lớn của Nhật Bản như
Osamu Dazai và Yasunari Kawabata cũng đã chọn cái chết để
khỏi phải chứng kiến cái đẹp và cái cao cả đang bị thời cuộc
làm nhục.
Cuộc khủng hoảng của thế hệ trẻ Nhật Bản cuối thập kỷ 1960
trong Rừng Na-uy không phải chỉ là sự đớn đau của linh hồn
và thân xác đang phải vượt ngưỡng ngây thơ, mà còn là sự thất
vọng lớn lao trước những biến đổi ngu xuẩn của thời cuộc:
phép lạ kinh tế của một đế quốc quân chủ thất trận đang khiến
cho lòng tin mù quáng vào Thiên Hoàng bị thay thế bởi tín
ngưỡng có tính toán vào sức mạnh của đồng tiền và những ước
lệ xã hội kèm theo.
Tôi đọc Rừng Na-uy và nhớ đến Hemingway, Paul Bowls,
Kerouac… đến những thế hệ trí thức trẻ tuổi Âu Mỹ sau hai
cuộc thế chiến vẫn được gọi là The lost generations - những
thế hệ bị tha hoá với chính sự thắng thế và hưng thịnh vật chất
của phương Tây, không tìm thấy chỗ đứng của mình trong
chốn phồn thực hãnh tiến ấy. Tôi nhớ đến Kundera và cái nhẹ
bỗng không thể chịu đựng nổi của kiếp người trong vòng xoáy
của những cuộc đổi thay bạo lực. Và tôi cũng nhớ đến câu nói
của Alexei Tolstoi: “Những cuộc chiến tranh rồi sẽ chấm dứt,
những cuộc cách mạng sẽ thôi gào thét, và sẽ chỉ còn lại mãi
mãi tấm lòng dịu dàng và êm ái của em.”
Trong Rừng Na-uy, thân xác là nơi trú ngụ và phương tiện
biểu cảm tự nhiên nhất của tình yêu. Không những hoàn toàn
không phải là một “dâm thư”, mà ngược lại, Rừng Na-uy là
cuốn tiểu thuyết bắt người đọc phải nhận thức được sự ngu
xuẩn của mọi thứ dâm tính trong thị trường văn chương, phim
ảnh, và trong chính ý nghĩ của con người. Rừng Na-uy chinh
phục được độc giả toàn thế giới vì nó đã giúp giới trẻ (và cả
những người không còn trẻ nữa) nhận ra cái cao cả theo nghĩa
triết học và tự nhiên của tình yêu. Cái cao cả không còn núp
bóng lí tưởng và lãng mạn, mà công khai trực tiếp trong tấm
lòng trung thực dũng mãnh của tuổi trẻ.
Đọc Rừng Na-uy rồi, tôi chắc bạn sẽ nghĩ nhiều về bản thân
mình. Về người mình yêu. Về bạn bè. Về bố mẹ anh chị em
trong nhà. Bạn sẽ nghĩ, và sẽ nhớ đến lời những nhân vật trong
Rừng Na-uy, và thực sự cảm thấy sung sướng vì máu nóng
đang chảy trong huyết quản bạn, vì bạn đang sống, vì tình yêu
là có thực. Và bạn sẽ muốn chạy đến với người mình yêu mến
nhất để nói rằng bạn hỡi, chúng ta hãy trung thực với nhau,
cùng làm quen và chấp nhận những bất toàn của nhau, vì chỉ
có vậy chúng ta mới có thể tìm thấy bình yên và hạnh phúc.
Nhân vật chính trong Rừng Na-uy tên là Toru Wantanabe.
Tôi đã thấy cái tên Toru và Watanabe này ở vài tác phẩm khác
của Murakami. Tự nhiên tôi giật mình: Murakami tuổi Kỷ
Sửu, mà trong tử vi Tây Phương thì tuổi Sửu là Taurus - vị
thần bò dũng mãnh đầy nhục cảm trong thần thoại Hy Lạp mà
tôi vẫn bắt gặp trong tranh vẽ của Picasso. Toru phải chăng là
một biến âm dí dỏm của Taurus theo lối Murakami? (Rừng
Na-uy dí dỏm lắm, bạn cứ đọc mà xem).
Và Watanabe phải chăng là âm thanh vọng lại từ mấy từ tiếng
Anh: “Want to be” - muốn được tồn tại, muốn sống, muốn
thành được như thế? Có lẽ sự chân thực và tình yêu dũng
mãnh của nhân vật Toru Watanabe đối với cả bản ngã và tha
nhân trong Rừng Na-uy cũng chính là mơ ước của tác giả. Thế
mới thật là tiểu thuyết! Đọc Rừng Na-uy rồi, tự nhiên ta thấy
mình tự nhủ rằng nào, hãy mạnh mẽ lên như thần bò huyền
thoại, và hãy biết “want to be”. Ấy là một vài xúc cảm riêng tư
của tôi khi đọc và dịch Rừng Na-uy.
Còn bạn, cuộc đời của bạn là cả một cõi riêng tư khác biệt, và
bạn sẽ còn tìm được nhiều cái hay cái lạ nữa khi đọc Rừng Nauy. Từng nghĩa trong tiểu thuyết cũng như xiêm y mỹ nhân,
lớp lang của nó hấp dẫn đến đâu là tuỳ ở lòng người lần mở,
và khi ta tưởng đã đến nơi thì hoá ra mới chỉ là bắt đầu. Cái
duyên của Murakami là ông động được đến tơ lòng sâu kín
của tất cả mọi người. Mong rằng những ân hưởng văn chương
và cuộc đời mà tôi đã nhận được từ ông vẫn nguyên vẹn trong
từng con chữ Việt mà tôi đã lựa chọn để kể lại Rừng Na-uy
cho bạn nghe với tấm lòng bồi hồi trân trọng của mình.
TRỊNH LỮ
Chương 1
Lúc ấy tôi đã ba mươi bảy tuổi, đang ngồi thắt chặt dây an
toàn khi chiếc 747 kềnh càng nhào xuống qua tầng mây dày
dặc về phía sân bay Hamburg. Những trận mưa tháng Mười
một lạnh lẽo thấm đâm mặt đất, khiến mọi vật ảm đạm như
trong một bức tranh phong cảnh Hà Lan ngày xưa: đám nhân
viên mặt đất trùm áo mưa, mảnh cờ u rũ trên nóc một toà nhà
vuông vức trong sân bay, một tấm biển quảng cáo xe BMW.
Chao ôi, lại nước Đức đây rồi.
Khi máy bay đang lăn bánh trên mặt đất, tiếng nhạc nhè nhẹ
bắt đầu trôi ra từ hệ thống loa trên trần: một bản hoà tấu không
lời ca khúc “Rừng Na-uy” của nhóm Beatles. Giai điệu ấy bao
giờ cũng khiến toàn thân tôi run rẩy, nhưng lần này, nó làm tôi
choáng váng hơn bao giờ hết.
Tôi cúi xuống, hai tay ôm mặt, cố giữ cho đầu mình khỏi nứt
ra. Chẳng mấy chốc một chiêu đãi viên người Đức đến hỏi
bằng tiếng Anh xem tôi có sao không.
“Không sao,” tôi nói, “tôi chỉ hơi chóng mặt.”
“Ông chắc vậy không?”
“Vâng, chỉ vậy thôi. Cám ơn cô.”
Cô ta mỉm cười bỏ đi, và âm nhạc chuyển sang một điệu hát
của Billy Joel. Tôi ngồi thẳng lên và nhìn qua cửa sổ về phía
những đám mây đen đang lơ lửng trên Biển Bắc, nghĩ đến
những mất mát trong cuộc đời mình: những thời đã qua không
bao giờ trở lại, những bạn bè đã chết hoặc biệt vô âm tín,
những cảm xúc mãi mãi không còn nữa.
Máy bay đã đến cửa lên xuống. Người ta bắt đầu tháo dây an
toàn và kéo hành lý xuống từ khoang trên ghế ngồi, trong khi
đó tôi chỉ thấy mình ngoài đồng cỏ. Tôi ngửi thấy cả mùi cỏ,
cảm thấy gió mơn man trên mặt, nghe thấy tiếng chim kêu.
Mùa thu 1969, lúc ấy tôi sắp hai mươi.
Cô chiêu đãi viên trở lại. Lần này thì cô ngồi xuống cạnh tôi
và hỏi xem tôi có ổn cả không.
“Tôi không sao, cám ơn cô, “tôi nói và mỉm cười. “Chỉ thấy
hơi bâng khuâng vậy thôi.”
“Tôi hiểu chuyện đó,” cô nói. “Tôi cũng thế, lâu lâu lại bị một
lần.”
Cô đứng lên và mỉm cười với tôi, vẻ thật đáng yêu.
“Vậy nhé, xin chúc ông một chuyến đi tốt đẹp. Auf
[1]
Wiedersehen”
“Auf Wiederseben.”
Mười tám năm đã trôi qua, nhưng tôi vẫn có thể nhớ lại từng
chi tiết của ngày hôm đó trên đồng cỏ. Được tắm rửa sạch sẽ
bởi những ngày mưa nhẹ nhàng mùa hạ, những rặng núi xanh
thẳm như rõ ràng hẳn lên. Làn gió nhẹ tháng Mười thổi đung
đưa những ngọn cỏ trắng cao lút đầu người. Một dải mây dài
lửng lơ vắt ngang vòm trời xanh im phăng phắc. Chỉ nhìn bầu
trời thăm thăm ấy thôi cũng đã thấy nao núng cả cõi lòng. Một
cơn gió ào qua đồng cỏ, qua mái tóc nàng, rồi lẻn vào rừng
khiến cây lá xào xạc và gửi lại những âm dội ngắn của tiếng
chó sủa ở rất xa - một âm thanh lung linh mờ ảo có vẻ đã vọng
đến chúng tôi từ ngưỡng cửa của một thế giới khác. Chúng tôi
không gặp ai. Chỉ thấy hai con chim màu đỏ giật mình nhảy
lên từ giữa đồng có và bay vụt vào rừng. Trong khi chúng tôi
lững thững bên nhau, Naoko nói với tôi về những cái giếng.
Ký ức thật ngộ. Khi còn ở trong cảnh thực thì tôi chẳng đề ý gì
đến nó. Không bao giờ tôi nghĩ đến nó như một cái gì đó sẽ để
lại một ấn tượng lâu dài, và chắc chắn là không thể tưởng
tượng rằng mười tám năm sau tôi sẽ nhớ lại nó đến từng chi
tiết. Ngày hôm đó tôi không quan tâm gì đến cảnh vật xung
quanh. Tôi còn nghĩ đến bản thân mình, đến cô gái đẹp đang
sánh bước với mình. Tôi đang nghĩ đến chuyện hai đứa với
nhau, rồi lại đến bản thân mình. Tôi vẫn còn ở cái tuổi, ở cái
đoạn của cuộc đời khi mọi cảnh trí, mọi cảm xúc, mọi ý nghĩ
đều chỉ quay về chính bản thân mình như một chiếc
boomerang.
Và tệ hơn nữa, tôi đang yêu. Mối tình đầy khúc mắc. Đầu óc
tôi không thể để ý đến cảnh vật xung quanh được.
Ấy vậy mà giờ đây cái đầu tiên trở lại với tôi lại là cảnh trí
đồng cỏ ngày hôm đó. Mùi cỏ, cảm giác hơi giá lạnh của ngọn
gió, đường viền của những dải đồi, tiếng sủa của một con chó:
đó là những thứ đầu tiên, và chúng hiện ra cực kì rõ ràng,
tưởng như tôi có thể giơ tay ra và vuốt ve chúng. Thế nhưng,
cho dù cảnh trí có rõ ràng đến mấy, vẫn không có ai trong đó
cả. Không ai hết. Naoko không có ở đó, và cả tôi cũng vậy.
Chúng tôi có thể biến đi đâu được chứ? Làm sao chuyện đó có
thể xảy ra được?
Tất cả những gì ngày đó còn có vẻ quan trọng - Naoko, cái bản
ngã tôi có lúc bấy giờ, và cái thế giới tôi có lúc ấy: chúng có
thế biến đi đâu được chứ? Thật sự là ngay cả gương mặt nàng
tôi cũng không thể nhớ lại được - không ngay lập tức, ít nhất
là thế. Tôi chỉ còn nắm giữ được một cái phông, đơn thuần
cảnh trí, không có một người nào ở cận cảnh hết.
Nói thật là nếu có thời gian, tôi vẫn có thể nhớ lại gương mặt
nàng. Tôi phải chắp nối các hình ảnh vào với nhau - bàn tay
lạnh tí xíu của nàng; mái tóc đen và duỗi thẳng của nàng, sờ
vào thật mịn và thật mát; một cái thuỳ châu tròn trịa mềm mại
và một nốt ruồi bé tí tẹo ngay bên dưới; chiếc áo khoác lông
lạc đà nàng mặc mùa đông; thói quen nhìn thẳng vào mắt tôi
mỗi khi nàng hỏi; giọng nói thỉnh thoảng lại hơi run run của
nàng (như thể nàng đang nói trên một đỉnh đồi lộng gió) - và
rồi gương mặt nàng bỗng ở đó, lúc nào cũng bắt đầu trong tư
thế nhìn nghiêng, vì Naoko với tôi luôn có lối sánh bước bên
nhau. Rồi nàng sẽ quay sang tôi, mỉm cười, hơi nghiêng đầu
một chút, bắt đầu nói, và nhìn sâu vào mắt tôi như đang cố dõi
theo một con cá nhỏ vừa bơi vụt qua một vùng nước của một
con suối trong vắt.
Dù sao, nhớ lại gương mặt Naoko là một việc mất thời gian.
Và khi năm tháng cứ qua đi, quãng thời gian ấy cứ kéo dài mãi
ra. Sự thật đáng buồn là cái mà tôi có thể nhớ lại được trong
năm giây chẳng mấy chốc đã phải mất mười, rồi ba mươi giây,
rồi trọn cả một phút - giống như bóng đổ cứ dài mãi ra cùng
hoàng hôn vậy. Sẽ đến ngày, tôi nghĩ vậy, những bóng đổ ấy sẽ
bị màn đêm nuốt chửng hết. Không có cách gì khác: kí ức tôi
đang ngày càng xa cách cái điểm mà Naoko thường đứng - nơi
cái bản ngã xưa cũ của tôi cũng thường ở đó. Và chỉ còn có
cảnh trí, cái cảnh đồng cỏ tháng Mười ấy, là còn trơ lại với tôi,
lần này qua lần khác, như khuôn hình tiêu biểu của một bộ
phim. Mỗi lần xuất hiện, nó lại kích dộng một chỗ nào đó
trong tâm trí tôi. Tỉnh dậy đi, nó nói, tôi vẫn ở đây mà. Hãy
tỉnh dậy và suy nghĩ: Hãy nghĩ xem tại sao tôi vẫn ở đây.
Những kích động ấy không bao giờ làm tôi đau đớn. Không có
tí đau đớn nào. Chỉ có một âm thanh trống rỗng vọng lại tử
mỗi lần kích động ấy. Và thậm chí cả cái đó nữa cũng sẽ phôi
pha một ngày nào đó. Nhưng ở sân bay Hamburg, những kích
động ấy lại mạnh hơn và lâu hơn thường lệ. Và đó chính là lý
do tại sao tôi viết cuốn sách này. Để suy nghĩ. Để hiểu. Chẳng
qua là cái tạng tôi nó thế. Tôi phải viết hết mọi thứ ra giấy để
cảm thấy rằng mình thực thấu hiểu chúng.
Bây giờ, hay xem hôm đó Naoko đang nói những chuyện gì?
Phải rồi, chuyện “giếng đồng”. Tôi chịu không thể biết liệu có
một cái giếng như thế hay không. Có thể nó là một hình ảnh
hoặc một dấu hiệu chỉ tồn tại trong con người Naoko, cũng
như mọi thứ khác mà nàng thường thêu dệt thành sự thật trong
tâm trí mình trong suốt những tháng ngày đen tối ấy. Vậy mà
một khi nàng đã tả nó cho tôi nghe, tôi không thể nghĩ đến
cảnh trí đồng có ấy mà không có cái giếng. Từ ngày ấy trở đi,
hình ảnh của một thứ mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy đã hoà
quyện khăng khít với cảnh trí thực của cánh đồng nằm ngay
trước mắt tôi. Tôi có thể mô tả cái giếng đến từng chi tiết nhỏ.
Nó nằm ngay ở nơi đồng cỏ kết thúc và rừng cây bắt đầu một
lỗ mở đen ngòm vào lòng đất, đường kính tới một thước, cỏ
mọc che đầy. Chẳng có gì đánh dấu chu vi của nó - không
hàng rào, không thành giếng bằng đá (ít nhất là không có
thành xây cao lên khỏi mặt đất). Nó chỉ là một cái lỗ, một cái
miệng rộng ngoác. Những phiến đá quanh miệng giếng đã bị
thời gian bào mòn, ngả một màu trắng nhem nhuốc lạ lùng.
Chúng nứt nẻ, vỡ nát, và một con thằn lằn nhỏ xanh lét vừa
trườn vào một kẽ nứt sâu hoắm. Ta có thể nghiêng người bên
mép giếng và nhìn xuống để chẳng thấy gì hết. Điều duy nhất
tôi biết về cái giếng là nó sâu khủng khiếp. Nó sâu đến độ
không thể đo được, và đầy chặt bóng tối, như thể toàn bộ bóng
tối của thế giới đã được nấu chảy và lèn vào đó đến tận cùng
đậm đặc của chúng.
“Nó sâu lắm, thực vậy,” Naoko nói, cẩn thận lựa từng lời. Đôi
khi nàng nói kiểu đó, chậm hẳn lại để tìm từng lời chính xác
mình cần. “Nhưng không ai biết nó ở đâu,” nàng nói tiếp.
“Mình chỉ biết chắc một điều là nó ở đâu đó quanh đây.”
Hai tay đút sâu trong túi áo chen bằng vải tuýt, nàng mỉm cười
với tôi như có ý “nói thật đấy!”
“Nếu vậy thì nguy hiểm vô cùng.” tôi nói. “Một cái giếng sâu,
nhưng không ai biết nó ở đâu. Ta có thể ngã vào nó và thế là
hết đời.”
“Hết đời. Aaaaaaaaaaaaa! Tũm một cái. Hết chuyện!”
“Chuyện ấy chắc phải xảy ra rồi.”
“Đúng thế, lâu lâu lại có một lần. Có thể hai hoặc ba năm một
lần. Tự nhiên có người biến mất, và không thể tìm thấy ông ta.
Và lúc ấy mọi người ở quanh đây lại bảo “Ồ, ông ấy ngã
xuống giếng đồng rồi.”
“Chết như thế thật chẳng ra sao cả,” tôi nói.
“Đúng vậy, chết thế thật khủng khiếp,” Naoko nói, tay phủi
một đám hạt cỏ vương trên áo. “Tốt nhất là mình gẫy cổ luôn,
nhưng có thể mình lại chỉ gẫy chân và không xoay xở gì được.
Mình kêu đến rách phổi nhưng không ai nghe thấy, và không
thể hy vọng sẽ có ai tìm thấy mình, rồi bọn nhện và rết sẽ bò
lên khắp người mình, xương của những nạn nhân trước lủng
củng khắp xung quanh, rồi thì tối mò và ướt lạnh, và mãi tít
trên đầu là cái chấm sáng tí ti như một mảnh trăng mùa đông.
Mình chết trong đó, ở ngay đâu đây, dần dà tí một, chỉ có một
mình.”
“Khiếp! Chỉ nghĩ đến chuyện ấy thôi là mình đã nổi da gà rồi,”
tôi nói. “Phải có ai tìm ra được cái của đó và xây một bức
tường xung quanh nó.”
“Nhưng không ai có thể tìm được nó. Tốt nhất là cậu đừng rời
khỏi lối mòn.”
“Yên trí, mình không làm thế đâu.”
Naoko rút bàn tay trái ra khỏi túi áo và nắm chặt lấy tay tôi.
“Cậu đừng lo,” nàng nói. “Cậu sẽ ổn thôi. Cậu có thể chạy
khắp quanh đây lúc nửa đêm mà cũng không bao giờ ngã
xuống cái giếng đó. Cả mình nữa, mình sẽ không ngã xuống
giếng chừng nào mình còn ở bên cậu.”
“Không bao giờ ư?”
“Không bao giờ!”
“Sao cậu chắc vậy?”
“Mình biết vậy thôi,” nàng nói, siết chặt tay tôi hơn và im lặng
bước bên tôi. “Mình biết những chuyện đó. Mình luôn luôn
đúng. Nó chẳng liên quan gì đến logic cả, mình chỉ cảm thấy
như thế thôi. Ví dụ nhé, khi mình thực sự gần gụi cậu như thế
này, mình không sợ một tí gì hết. Chẳng có gì đen tối hoặc xấu
xa có thể cám dỗ được mình.”
“Vậy thì đó là giải pháp rồi,” tôi nói. “Cậu chỉ cần luôn luôn ở
bên cạnh mình như thế này thôi.”
“Cậu nói thật đấy chứ?”
“Tất nhiên rồi.”
Naoko đứng dừng lại. Tôi cũng vậy. Nàng đặt hai tay lên vai
tôi và nhìn vào mắt tôi. Sâu trong hai đồng tử nàng có một
chất lỏng đen đặc đang xoáy tròn như một luồng gió xoáy lạ
kỳ. Cặp mắt đẹp đẽ của nàng nhìn sâu mãi vào tôi một lúc lâu,
rất lâu. Rồi nàng kiêng chân hết cỡ và chạm má nàng vào má
tôi. Cử chỉ ấm áp kì diệu ấy khiến con tim tôi ngừng đập trong
khoảnh khắc.
“Cám ơn cậu.”
“Không dám,” tôi đáp.
“Mình thật hạnh phúc vì cậu đã nói thế. Thật sự hạnh phúc,”
nàng nói với một nụ cười buồn rầu. “Nhưng không thể được.”
“Không thể được ư? Tại sao?”
“Chuyện đó sẽ không phải. Nó sẽ khủng khiếp lắm. Nó…”
Naoko bỗng ngậm miệng và lại bắt đầu bước đi. Tôi có thể
thấy đủ mọi ý nghĩ đang quay cuồng trong đầu nàng, và thay
vì chen vào chúng, tôi chỉ giữ im lặng và sánh bước với nàng.
“Nó sẽ không phải - không phải với cậu, không phải với
mình,” nàng nói sau một hồi lâu lặng lẽ.
“Không phải thế nào chứ?” tôi thì thầm.
“Cậu không thấy sao? Không thể có chuyện một người cứ
canh chừng một người khác mãi mãi và mãi mãi. Mình muốn
nói là, giả dụ chúng mình lấy nhau. Cậu sẽ phải đi làm hàng
ngày. Ai sẽ canh chừng mình khi cậu đi làm? Liệu mình có thể
dính chặt với cậu từng phút từng giây trong suốt cả cuộc đời
chúng ta chăng? Bình đẳng gì mà như vậy? Thứ quan hệ gì
đây? Chẳng chóng thì chầy cậu sẽ phát ốm vì mình. Cậu sẽ tự
hỏi cậu đang làm gì với cuộc đời của cậu, tại sao cậu phải
dành hết thời gian của cậu để canh chừng người đàn bà này.
Mình sẽ không thể chịu được chuyện đó. Nó không thể giải
quyết được bất kì vấn đề nào của mình.”
“Nhưng đến lúc ấy những vấn đề của cậu sẽ không còn nữa cơ
mà?” tôi nói, tay vỗ nhẹ vào lưng nàng. “Cuối cùng chúng sẽ
kết thúc. Và khi đó, chúng ta sẽ cùng nghĩ đến chuyện tiếp
theo. Có khi cậu lại phải giúp mình thì sao. Chúng ta không
sống theo nguyên tắc kế toán tài chính. Nếu cậu cần mình, hãy
cứ sử dụng mình. Cậu hiểu không? Tại sao cậu phải cứng nhắc
thế? Cậu hãy thoải mái đi nào, đừng cảnh giác nữa. Cậu căng
thẳng quá nên lúc nào cũng chỉ sợ gặp chuyện tồi tệ. Thả lỏng
người đi, và mọi thứ khác của cậu sẽ nhẹ nhàng hơn.”
“Làm sao cậu có thể nói vậy được?” nàng hỏi với giọng đã cạn
kiệt cảm xúc.
Giọng nói của Naoko đánh động rằng có thể tôi đã lỡ lời điều
gì đó.
“Thử nói xem, làm sao cậu có thể nói như vậy được chứ,”
nàng nói, trân trối nhìn xuống mặt đất dưới chân mình. “Cậu
chẳng nói được điều gì mà mình chưa biết. “Thả lỏng người
đi, và mọi thứ khác của cậu sẽ nhẹ nhàng hơn.” Nói thế với
mình thì có nghĩa gì? Nếu mình thả lỏng thân xác mình bây
giờ, mình sẽ tan rã. Mình đã luôn sống như thế này, và đó là
cách sống duy nhất mà mình biết. Nếu mình thả lỏng trong
một giây, mình sẽ không thể tìm được đường về. Mình sẽ tan
thành từng mảnh, và những mảnh ấy sẽ bị thổi tung đi khắp
nơi. Tại sao cậu không thấy được điều đó? Làm sao cậu có thể
nói đến chuyện canh chừng cho mình nếu như cậu không thể
thấy được điều đó?”
Tôi nín lặng.
“Mình hoang mang. Thực sự hoang mang. Và chuyện đó sâu
sắc hơn cậu tưởng rất nhiều. Sâu hơn… đen tối hơn… lạnh lẽo
hơn. Nhưng cậu hãy nói xem, làm sao mà cậu lại có thể ngủ
với mình lần ấy? Làm sao cậu có thể làm một chuyện như vậy
được? Tại sao cậu lại không để cho mình được yên thân một
mình?”
Bấy giờ chúng tôi đã đang bước đi trong cái yên ắng đáng sợ
của một khu rừng thông. Xác những con ve đã chết khô từ dạo
cuối hè rải rác khắp trên mặt lối đi, lạo xạo dưới gót giày. Như
thể tìm kiếm một thứ gì mà chúng tôi đã đánh mất, Naoko và
tôi tiếp tục chậm rãi bước theo lối mòn.
“Mình xin lỗi,” nàng nói, nắm lấy tay tôi và lắc đầu. “Mình
không định hành hạ cậu. Hãy cố đừng để những gì mình nói
làm cậu phiền lòng. Mình xin lỗi, thực lòng xin lỗi. Mình chỉ
giận dữ với bản thân mà thôi.”
“Có lẽ mình chưa thực hiểu cậu,” tôi nói. “Mình không được
thông minh lắm đâu. Chuyện gì cũng phải lâu lâu mình mới
hiểu ra. Nhưng nếu mình thực sự có thời gian, mình sẽ hiểu
cậu bằng được - hơn bất kì ai khác trên thế gian này.”
Chúng tôi dừng bước và đứng trong khu rừng yên ắng, lắng
nghe. Tôi dùng múi giày nghịch những quả thông và xác ve
sầu, rồi ngẩng nhìn những mảnh trời qua vòm lá thông. Hai tay
đút túi, Naoko đứng đó và suy nghĩ, mắt không nhìn vào đâu
cụ thể.
“Hãy nói xem, Toru”, nàng lên tiếng. “Cậu có yêu mình
không?”
“Cậu biết là mình yêu cậu mà.”
“Vậy cậu có thể giúp mình hai việc không?”
“Xin thưa, quí cô có thể có những ba điều ước kia!”
Naoko mỉm cười và lắc đầu. “Không, hai là đủ rồi. Một là cậu
hãy biết rằng mình rất biết ơn cậu đã đến tận đây thăm mình.
Mình hy vọng cậu sẽ hiểu là cậu đã làm cho mình hạnh phúc
biết bao nhiêu. Mình biết rằng nếu có cái gì có thể cứu được
mình, thì chính là niềm hạnh phúc này đây. Có thể mình không
biểu lộ được điều đó, nhưng thật là như vậy đấy.”
“Mình sẽ đến thăm cậu nữa mà,” tôi nói. “Thế còn điều ước
thứ hai?”
“Mình muốn cậu luôn luôn nhớ đến mình. Cậu sẽ nhớ rằng
mình đã tồn tại, rằng mình đã đứng cạnh cậu ở đây như thế
này chứ?”
“Lúc nào cũng vậy,” tôi nói. “Mình sẽ luôn luôn nhớ.”
Nàng bước đi và không nói gì nữa. Những tia sáng mùa thu
xiên qua cành lá nhảy nhót trên vai áo nàng. Một con chó lại
cất tiếng sủa, nghe gần hơn trước. Naoko trèo lên một gò nhỏ,
bước ra khỏi khu rừng và đi vội xuống một triền dốc thoai
thoai. Tôi theo nàng cách hai ba bước chân.
“Lại đây nào,” tôi gọi sau lưng nàng. “Cái giếng có thể ở đâu
đó quanh đây.” Naoko dừng lại và mỉm cười, rồi cầm lấy tay
tôi. Chúng tôi đi nốt quãng đường, vai kề vai.
“Cậu thực sự hứa là sẽ không quên mình chứ?” nàng hồi gần
như thì thầm.
“Mình sẽ không bao giờ quên cậu,” tôi nói. “Không bao giờ
mình có thể quên cậu.”
Vậy mà ký ức tôi đã ngày càng mờ nhạt đi, và tôi đã quên
nhiều thứ mất rồi. Viết bằng hồi ức như thế này, tôi thường có
những cơn sợ hãi đến thắt lòng. Nếu tôi đã quên mất điều quan
trọng nhất thì sao? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu ở đâu đó trong tôi
có một bến lú tối tăm nơi tất cả những ký ức thực sự quan
trọng bị chất đống lại và từ từ biến thành bùn đất?
Cho dù có như vậy đi nữa, đó là tất cả những gì tôi có. Ghì
chặt những ký ức không hoàn hảo, đang lu mờ và đã phôi pha
ấy trên ngực, tôi tiếp tục viết cuốn sách này với toàn bộ sức
căng tuyệt vọng của một người chết đói đang mút từng mẩu
xương nhặt được. Đó là cách duy nhất tôi biết để giữ lời hứa
với Naoko.
Một lần, lâu lắm rồi, khi tôi còn trẻ, khi ký ức tôi còn sống
động hơn giờ đây rất nhiều, tôi thường cố viết về nàng. Nhưng
tôi không thể viết được một dòng nào.
Tôi biết rằng nếu cái dòng đầu tiên ấy mà xong, phần còn lại
sẽ tự nó trào ra mặt giấy, nhưng tôi không thể làm được điều
đó. Mọi thứ còn quá sắc nét và rõ ràng, đến nỗi tôi không biết
phải bắt đầu từ đâu - kiểu như một tấm bản đồ có quá nhiều
chỉ dẫn đôi khi lại thành vô dụng.
Nhưng giờ đây, tôi hiểu rằng tất cả những gì mình có thể chất
lên con thuyền chữ nghĩa không hoàn hảo này chỉ là những ký
ức không hoàn hảo và những ý nghĩ không hoàn hảo. Những
ký ức về Naoko càng lu mờ trong tôi thì tôi lại càng hiểu nàng
sâu sắc hơn. Tôi cũng đã biết tại sao nàng xin tôi đừng quên
nàng. Bản thân Naoko biết điều đó, tất nhiên rồi. Nàng biết
rằng ký ức của tôi về nàng sẽ phôi pha. Và chính thế mà nàng
xin tôi đừng bao giờ quên nàng, hãy nhớ rằng nàng đã từng tồn
tại.
Ý nghĩ ấy xâm chiếm tôi với một nỗi đau tưởng chừng như
không thể chịu đựng nổi. Bởi lẽ Naoko chưa từng yêu tôi bao
giờ.
Chương 2
Đã có một thời, nhiều năm trước đây - đúng ra là hai mươi
năm trước đây - tôi đã sống trong một khu học xá. Tôi mười
tám tuổi và là sinh viên năm thứ nhất. Tôi mới đến Tokyo và
chưa sống một mình bao giờ nên cha mẹ tôi rất lo, và họ thu
xếp cho tôi ở trong một khu học xá tư nhân chứ không thuê
một căn phòng riêng cho tôi như hầu hết các sinh viên khác.
Khu học xá phục vụ cả ăn uống và nhiều tiện nghi khác nên có
thể sẽ giúp đứa con mười tám tuổi đầu còn lớ ngớ của họ sống
sót được. Và còn cả chuyện chi phí nữa. Ở khu học xá rẻ hơn
nhiều so với thuê phòng riêng. Chỉ cần chăn chiếu và một cái
đèn thôi là đủ, không phải mua thêm đồ đạc gì nhiều. Riêng tôi
vẫn muốn thuê một căn hộ và sống thoải mái một mình, nhưng
biết rằng cha mẹ còn phải trả tiền học và các thứ lệ phí khác
cho cái trường đại học tư mà mình đã đỗ vào, nên tôi không
dám đòi hỏi gì thêm. Ngoài ra, thực tình tôi cũng chẳng mấy
quan tâm đến nơi ăn chốn ở của mình.
Nằm trên một quả đồi ở trung tâm thành phố với tầm nhìn
rộng rãi, khu học xá có một khuôn viên vuông vức và có tường
[2]
bê-tông bao quanh. Một cái cây zelkova khổng lồ cao vút
mọc ngay ở sau chỗ cổng trước. Người ta nói nó đã một trăm
năm mươi tuổi là ít. Đứng dưới gốc mà nhìn lên thì những tán
lá xanh dày đặc của nó che kín hết cả trời.
Lối đi lát gạch từ cổng vào chạy vòng quanh cái cây ấy rồi tiếp
tục thẳng tuột qua giữa khu đất vuông của khu học xá. Hai dãy
nhà ba tầng bằng bê-tông nằm đối diện nhau qua lối đi ấy.
Chúng to lừng lững với rất nhiều cửa sổ và làm người ta có ấn
tượng như chúng là những toà chung cư được cải tạo thành
nhà tù hoặc là nhà tù cải tạo thành khu chung cư. Tuy nhiên
chúng không có vẻ gì là bẩn thỉu, mà cũng không gây cảm
giác tăm tối. Có thể nghe thấy tiếng radio vọng ra từ những
cửa sổ để mở, và tất cả cửa sổ đều mắc một loại rèm màu kem
mà nắng không thể làm bạc thêm được nữa.
Qua khỏi hai dãy nhà đó, lối đi dẫn đến một toà nhà sinh hoạt
chung có hai tầng, tầng dưới là nhà ăn và khu nhà tắm, tầng
trên có một giảng đường, các phòng họp, và bảy phòng dành
cho khách mà tôi không bao giờ biết họ là ai. Bên cạnh toà nhà
sinh hoạt chung ấy lại là một khu nhà ở nữa, cũng ba tầng.
Khắp khuôn viên vuông vức ấy phủ đầy những sân cỏ rộng rãi,
và nước phun từ các vòi tưới xoay tròn lấp loá dưới nắng trời.
Phía sau toà nhà sinh hoạt chung là một sân có dùng để chơi
bóng chày và bóng bầu dục, và sáu sân bóng quần. Khu học xá
có đủ thứ ta có thể cần đến.
Nó chỉ có mỗi một vấn đề: mùi vị chính trị của chính nó. Khu
học xá được đặt dưới quyền của một kiểu tổ chức mờ ám xoay
quanh một nhân vật cực hữu, và đối với tôi thì có một cái gì đó
rất xiên xẹo trong cách họ điều hành cơ sở này. Có thể thấy
điều đó trong cuốn sách nhỏ họ phát cho sinh viên mới đến và
trong cả nội quy của khu học xá. Họ tuyên bố rằng khu học xá
được thành lập theo “tinh thần chủ đạo” là “nỗ lực bồi dưỡng
nguồn nhân lực quốc dân thông qua chất lượng tối cao của
những cơ sở giáo dục”, và nhiều đại gia tài chính ủng hộ “tinh
thần” này đã đóng góp tiền riêng của họ vào việc xây dựng nó.
Đó là bộ mặt công khai của dự án, mặc dù bên dưới đó là gì thì
còn cực kỳ mơ hồ. Có người nói đây là một kiểu công trình
trốn thuế, có người lại coi đây là một màn trình diễn lấy danh
tiếng của những nhân vật góp vốn, lại cũng có người nói rằng
việc xây khu học xá chỉ là để che đậy hành vi chiếm đoạt một
miếng gan miếng tiết của bất động sản công cộng. Nhưng có
một chuyện chắc chắn là có thật: trong kí túc xá có một câu lạc
bộ đặc tuyển gồm toàn những sinh viên thượng lưu từ nhiều
trường đại học khác nhau. Họ lập ra nhưng “nhóm học tập”
họp nhau nhiều lần một tháng với sự tham gia của cả nhiều
sáng lập viên. Thành viên nào của câu lạc bộ này cũng chắc
chắn sẽ có công ăn việc làm ngon lành sau khi tốt nghiệp. Tôi
cũng chẳng biết trong những lý thuyết này, nếu có thể gọi thế,
có cái nào đúng không, nhưng tất cả chúng đều có chung một
giả định rằng có gì đó mờ ám về cơ sở này.
Dù sao, tôi cũng đã có hai năm - từ mùa xuân 1968 đến mùa
xuân 1970 - sống trong cái khu học xá “mờ ám” ấy. Cũng
không thể giải thích được tại sao tôi lại chịu đựng được nó lâu
đến thế. Về mặt sinh hoạt hàng ngày thì dù nó có là hữu
khuynh hay tả khuynh hoặc gì gì đi nữa thì cũng chẳng khác gì
đối với tôi.
Ngày nào cũng khởi đầu bằng một lễ kéo cờ trịnh trọng. Họ
chơi cả nhạc quốc thiều, tất nhiên rồi. Hai việc ấy không thể
thiếu nhau được. Cột cờ trồng ở chính giữa khu học xá, có thể
nhìn thấy từ cửa sổ của cả ba khu nhà ở.
Trưởng khu nhà ở phía đông (nơi tôi kí túc) là người phụ trách
lá cờ. Ông ta cao lớn, mắt diều hâu, tuổi trạc già năm mươi
non sáu mươi. Mớ tóc xù của ông đã điểm bạc, và cái cổ rám
nắng của ông có một vết sẹo dài. Người ta kháo nhau rằng ông
đã tốt nghiệp trường huấn luyện tình báo Nakano từ thời chiến
tranh, nhưng không ai biết chắc cả. Đứng cạnh ông là ...
Haruki Murakami
Trịnh Lữ dịch
Tên sách: Rừng Na Uy
Tác giả: Haruki Murakami
Người dịch: Trịnh Lữ
Thể loại: Văn học nước ngoài
Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn
Năm xuất bản: 2006
Khổ: 13x20.5 cm
–––––––
Nguồn: Vnthuquan
Sửa chính tả (TVE): tovanhung
Chuyển sang ebook (TVE): tovanhung
(Ebook được thực hiện đúng với bản in)
Ngày hoàn thành: 3/9/2006
http://www.thuvien-ebook.com
Lời người dịch
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Lời người dịch
Mối tình sâu sắc nhất của bạn có gắn liền với một bài hát nào
không? Một cảnh trí nào không? Như một căn phòng trong
đêm mưa mùa hạ? Một chiều thu ngoài bìa rừng hoang vắng?
Rừng Na-uy là tên một bài hát của nhóm nhạc Beatles nổi
tiếng. Lời cả có những câu “Tôi từng có một cô gái, mà có lẽ
đúng hơn là cô ấy đã từng có tôi… Cô dẫn tôi vào phòng và
bảo tôi ngồi đâu cũng được, nhưng tôi thấy chẳng có chiếc
ghế nào… Khi tỉnh dậy tôi chỉ có một mình, con chim ấy đã
bay đi rồi…” Giai điệu và cấu trúc bài hát rất giản dị. Những
sự kiện làm biến đổi cả cuộc đời ta thường gắn liền với những
cái ngẫu nhiên giản dị. Ký ức khi đã trưởng thành thường cũng
chỉ xúc động vì những điều giản dị. Và Rừng Na-uy là một câu
chuyện tình yêu giản dị.
Giản dị như sự thật.
Như bốn mùa.
Như Sống/Chết.
Như đại thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore đã viết về con tim
biết yêu: “Cái giàu cái nghèo của nó là vô biên, niềm vui nỗi
buồn của nó là trường cửu.” Cái giản dị của Rừng Na-uy là cái
giản dị chỉ có được khi người viết đã vượt lên hết những làm
dáng có bản chất kĩ thuật vốn rất khó tránh trong sáng tác để
chỉ bồi hồi kể lại những gì đang tuôn trào từ sâu thẳm cõi lòng
mình.
Rừng Na-uy không lãng mạn. Nó không lí tưởng hoá và do
vậy không bị lừa mị bởi chính những lí tưởng ấy của mình. Nó
dũng mãnh như mũi tên vừa bay ra khỏi cánh cung. Thẳng từ
cõi lòng bộc trực và chân xác của kiếp người. Đọc lời thoại
trong Rừng Na-uy, tôi chỉ mong mình cũng nói được như thế
với người mình yêu mến. Bị lôi cuốn theo những ý nghĩ và xúc
cảm trong Rừng Na-uy, tôi cũng chỉ mong mình dám nghĩ
được thành lời những gì vẫn cuộn tròn trong lòng mình như
vậy. Đọc Rừng Na-uy, tôi chợt nhớ ra rằng hình như mình đã
chỉ quen lừa mị bản thân, lừa mị người khác, để bôi trơn mọi
mối quan hệ xã hội vốn chỉ xoay quanh và bị chi phối bởi tiền
bạc, quyền lợi, danh vọng… Hình như tôi đã quên mất, hoặc
đã luôn có ý thức đè nén tất cả những gì gọi là tự nhiên và cao
cả của chính mình, hình như tất cả những “người bạn”, “người
yêu” kia chẳng phải vậy chút nào, vì đã có bao giờ tôi dám nói
thẳng lòng mình với họ và biết chắc rằng họ cũng đã nói thẳng
lòng họ với mình. Hình như tôi cũng đã chẳng phải là mình, vì
đã khi nào tôi thực sự dám nhìn nhận những khiếm khuyết
méo mó của mình, có ý thức công nhận chúng và biết vui với
chúng, cũng như công nhận và vui với những khiếm khuyết
của mọi người.
Con chim sắp chết, tiếng hót bi thương; con người hấp hối, lời
nói chân thành. Tại sao vậy? Chỉ có sự chết mới cứu vãn được
loài người khỏi nghiệp chướng dối trá hay chăng? Đọc Rừng
Na-uy, tôi thấm thía được một chân lí giản đơn, rằng “sự chết
không là đối nghịch của sự sống, mà là một phần của sự
sống”. Sống, tức là nuôi dưỡng Chết. Sự chết không phải là
chấm dứt, cũng chẳng phải là bắt đầu. Nó ở ngay đây rồi, được
chính sự sống nuôi dưỡng.
Và tôi hiểu được tại sao chỉ những nhân vật trung thực trong
trắng và dũng cảm trong Rừng Na-uy mới tự kết liễu cuộc đời
mình. Họ còn quá trẻ và không đủ kiên nhẫn để hy vọng cuộc
đời này sẽ nuôi dưỡng được một cái chết tự nhiên xứng đáng.
Và tôi cũng hiểu tại sao nhiều nhà văn lớn của Nhật Bản như
Osamu Dazai và Yasunari Kawabata cũng đã chọn cái chết để
khỏi phải chứng kiến cái đẹp và cái cao cả đang bị thời cuộc
làm nhục.
Cuộc khủng hoảng của thế hệ trẻ Nhật Bản cuối thập kỷ 1960
trong Rừng Na-uy không phải chỉ là sự đớn đau của linh hồn
và thân xác đang phải vượt ngưỡng ngây thơ, mà còn là sự thất
vọng lớn lao trước những biến đổi ngu xuẩn của thời cuộc:
phép lạ kinh tế của một đế quốc quân chủ thất trận đang khiến
cho lòng tin mù quáng vào Thiên Hoàng bị thay thế bởi tín
ngưỡng có tính toán vào sức mạnh của đồng tiền và những ước
lệ xã hội kèm theo.
Tôi đọc Rừng Na-uy và nhớ đến Hemingway, Paul Bowls,
Kerouac… đến những thế hệ trí thức trẻ tuổi Âu Mỹ sau hai
cuộc thế chiến vẫn được gọi là The lost generations - những
thế hệ bị tha hoá với chính sự thắng thế và hưng thịnh vật chất
của phương Tây, không tìm thấy chỗ đứng của mình trong
chốn phồn thực hãnh tiến ấy. Tôi nhớ đến Kundera và cái nhẹ
bỗng không thể chịu đựng nổi của kiếp người trong vòng xoáy
của những cuộc đổi thay bạo lực. Và tôi cũng nhớ đến câu nói
của Alexei Tolstoi: “Những cuộc chiến tranh rồi sẽ chấm dứt,
những cuộc cách mạng sẽ thôi gào thét, và sẽ chỉ còn lại mãi
mãi tấm lòng dịu dàng và êm ái của em.”
Trong Rừng Na-uy, thân xác là nơi trú ngụ và phương tiện
biểu cảm tự nhiên nhất của tình yêu. Không những hoàn toàn
không phải là một “dâm thư”, mà ngược lại, Rừng Na-uy là
cuốn tiểu thuyết bắt người đọc phải nhận thức được sự ngu
xuẩn của mọi thứ dâm tính trong thị trường văn chương, phim
ảnh, và trong chính ý nghĩ của con người. Rừng Na-uy chinh
phục được độc giả toàn thế giới vì nó đã giúp giới trẻ (và cả
những người không còn trẻ nữa) nhận ra cái cao cả theo nghĩa
triết học và tự nhiên của tình yêu. Cái cao cả không còn núp
bóng lí tưởng và lãng mạn, mà công khai trực tiếp trong tấm
lòng trung thực dũng mãnh của tuổi trẻ.
Đọc Rừng Na-uy rồi, tôi chắc bạn sẽ nghĩ nhiều về bản thân
mình. Về người mình yêu. Về bạn bè. Về bố mẹ anh chị em
trong nhà. Bạn sẽ nghĩ, và sẽ nhớ đến lời những nhân vật trong
Rừng Na-uy, và thực sự cảm thấy sung sướng vì máu nóng
đang chảy trong huyết quản bạn, vì bạn đang sống, vì tình yêu
là có thực. Và bạn sẽ muốn chạy đến với người mình yêu mến
nhất để nói rằng bạn hỡi, chúng ta hãy trung thực với nhau,
cùng làm quen và chấp nhận những bất toàn của nhau, vì chỉ
có vậy chúng ta mới có thể tìm thấy bình yên và hạnh phúc.
Nhân vật chính trong Rừng Na-uy tên là Toru Wantanabe.
Tôi đã thấy cái tên Toru và Watanabe này ở vài tác phẩm khác
của Murakami. Tự nhiên tôi giật mình: Murakami tuổi Kỷ
Sửu, mà trong tử vi Tây Phương thì tuổi Sửu là Taurus - vị
thần bò dũng mãnh đầy nhục cảm trong thần thoại Hy Lạp mà
tôi vẫn bắt gặp trong tranh vẽ của Picasso. Toru phải chăng là
một biến âm dí dỏm của Taurus theo lối Murakami? (Rừng
Na-uy dí dỏm lắm, bạn cứ đọc mà xem).
Và Watanabe phải chăng là âm thanh vọng lại từ mấy từ tiếng
Anh: “Want to be” - muốn được tồn tại, muốn sống, muốn
thành được như thế? Có lẽ sự chân thực và tình yêu dũng
mãnh của nhân vật Toru Watanabe đối với cả bản ngã và tha
nhân trong Rừng Na-uy cũng chính là mơ ước của tác giả. Thế
mới thật là tiểu thuyết! Đọc Rừng Na-uy rồi, tự nhiên ta thấy
mình tự nhủ rằng nào, hãy mạnh mẽ lên như thần bò huyền
thoại, và hãy biết “want to be”. Ấy là một vài xúc cảm riêng tư
của tôi khi đọc và dịch Rừng Na-uy.
Còn bạn, cuộc đời của bạn là cả một cõi riêng tư khác biệt, và
bạn sẽ còn tìm được nhiều cái hay cái lạ nữa khi đọc Rừng Nauy. Từng nghĩa trong tiểu thuyết cũng như xiêm y mỹ nhân,
lớp lang của nó hấp dẫn đến đâu là tuỳ ở lòng người lần mở,
và khi ta tưởng đã đến nơi thì hoá ra mới chỉ là bắt đầu. Cái
duyên của Murakami là ông động được đến tơ lòng sâu kín
của tất cả mọi người. Mong rằng những ân hưởng văn chương
và cuộc đời mà tôi đã nhận được từ ông vẫn nguyên vẹn trong
từng con chữ Việt mà tôi đã lựa chọn để kể lại Rừng Na-uy
cho bạn nghe với tấm lòng bồi hồi trân trọng của mình.
TRỊNH LỮ
Chương 1
Lúc ấy tôi đã ba mươi bảy tuổi, đang ngồi thắt chặt dây an
toàn khi chiếc 747 kềnh càng nhào xuống qua tầng mây dày
dặc về phía sân bay Hamburg. Những trận mưa tháng Mười
một lạnh lẽo thấm đâm mặt đất, khiến mọi vật ảm đạm như
trong một bức tranh phong cảnh Hà Lan ngày xưa: đám nhân
viên mặt đất trùm áo mưa, mảnh cờ u rũ trên nóc một toà nhà
vuông vức trong sân bay, một tấm biển quảng cáo xe BMW.
Chao ôi, lại nước Đức đây rồi.
Khi máy bay đang lăn bánh trên mặt đất, tiếng nhạc nhè nhẹ
bắt đầu trôi ra từ hệ thống loa trên trần: một bản hoà tấu không
lời ca khúc “Rừng Na-uy” của nhóm Beatles. Giai điệu ấy bao
giờ cũng khiến toàn thân tôi run rẩy, nhưng lần này, nó làm tôi
choáng váng hơn bao giờ hết.
Tôi cúi xuống, hai tay ôm mặt, cố giữ cho đầu mình khỏi nứt
ra. Chẳng mấy chốc một chiêu đãi viên người Đức đến hỏi
bằng tiếng Anh xem tôi có sao không.
“Không sao,” tôi nói, “tôi chỉ hơi chóng mặt.”
“Ông chắc vậy không?”
“Vâng, chỉ vậy thôi. Cám ơn cô.”
Cô ta mỉm cười bỏ đi, và âm nhạc chuyển sang một điệu hát
của Billy Joel. Tôi ngồi thẳng lên và nhìn qua cửa sổ về phía
những đám mây đen đang lơ lửng trên Biển Bắc, nghĩ đến
những mất mát trong cuộc đời mình: những thời đã qua không
bao giờ trở lại, những bạn bè đã chết hoặc biệt vô âm tín,
những cảm xúc mãi mãi không còn nữa.
Máy bay đã đến cửa lên xuống. Người ta bắt đầu tháo dây an
toàn và kéo hành lý xuống từ khoang trên ghế ngồi, trong khi
đó tôi chỉ thấy mình ngoài đồng cỏ. Tôi ngửi thấy cả mùi cỏ,
cảm thấy gió mơn man trên mặt, nghe thấy tiếng chim kêu.
Mùa thu 1969, lúc ấy tôi sắp hai mươi.
Cô chiêu đãi viên trở lại. Lần này thì cô ngồi xuống cạnh tôi
và hỏi xem tôi có ổn cả không.
“Tôi không sao, cám ơn cô, “tôi nói và mỉm cười. “Chỉ thấy
hơi bâng khuâng vậy thôi.”
“Tôi hiểu chuyện đó,” cô nói. “Tôi cũng thế, lâu lâu lại bị một
lần.”
Cô đứng lên và mỉm cười với tôi, vẻ thật đáng yêu.
“Vậy nhé, xin chúc ông một chuyến đi tốt đẹp. Auf
[1]
Wiedersehen”
“Auf Wiederseben.”
Mười tám năm đã trôi qua, nhưng tôi vẫn có thể nhớ lại từng
chi tiết của ngày hôm đó trên đồng cỏ. Được tắm rửa sạch sẽ
bởi những ngày mưa nhẹ nhàng mùa hạ, những rặng núi xanh
thẳm như rõ ràng hẳn lên. Làn gió nhẹ tháng Mười thổi đung
đưa những ngọn cỏ trắng cao lút đầu người. Một dải mây dài
lửng lơ vắt ngang vòm trời xanh im phăng phắc. Chỉ nhìn bầu
trời thăm thăm ấy thôi cũng đã thấy nao núng cả cõi lòng. Một
cơn gió ào qua đồng cỏ, qua mái tóc nàng, rồi lẻn vào rừng
khiến cây lá xào xạc và gửi lại những âm dội ngắn của tiếng
chó sủa ở rất xa - một âm thanh lung linh mờ ảo có vẻ đã vọng
đến chúng tôi từ ngưỡng cửa của một thế giới khác. Chúng tôi
không gặp ai. Chỉ thấy hai con chim màu đỏ giật mình nhảy
lên từ giữa đồng có và bay vụt vào rừng. Trong khi chúng tôi
lững thững bên nhau, Naoko nói với tôi về những cái giếng.
Ký ức thật ngộ. Khi còn ở trong cảnh thực thì tôi chẳng đề ý gì
đến nó. Không bao giờ tôi nghĩ đến nó như một cái gì đó sẽ để
lại một ấn tượng lâu dài, và chắc chắn là không thể tưởng
tượng rằng mười tám năm sau tôi sẽ nhớ lại nó đến từng chi
tiết. Ngày hôm đó tôi không quan tâm gì đến cảnh vật xung
quanh. Tôi còn nghĩ đến bản thân mình, đến cô gái đẹp đang
sánh bước với mình. Tôi đang nghĩ đến chuyện hai đứa với
nhau, rồi lại đến bản thân mình. Tôi vẫn còn ở cái tuổi, ở cái
đoạn của cuộc đời khi mọi cảnh trí, mọi cảm xúc, mọi ý nghĩ
đều chỉ quay về chính bản thân mình như một chiếc
boomerang.
Và tệ hơn nữa, tôi đang yêu. Mối tình đầy khúc mắc. Đầu óc
tôi không thể để ý đến cảnh vật xung quanh được.
Ấy vậy mà giờ đây cái đầu tiên trở lại với tôi lại là cảnh trí
đồng cỏ ngày hôm đó. Mùi cỏ, cảm giác hơi giá lạnh của ngọn
gió, đường viền của những dải đồi, tiếng sủa của một con chó:
đó là những thứ đầu tiên, và chúng hiện ra cực kì rõ ràng,
tưởng như tôi có thể giơ tay ra và vuốt ve chúng. Thế nhưng,
cho dù cảnh trí có rõ ràng đến mấy, vẫn không có ai trong đó
cả. Không ai hết. Naoko không có ở đó, và cả tôi cũng vậy.
Chúng tôi có thể biến đi đâu được chứ? Làm sao chuyện đó có
thể xảy ra được?
Tất cả những gì ngày đó còn có vẻ quan trọng - Naoko, cái bản
ngã tôi có lúc bấy giờ, và cái thế giới tôi có lúc ấy: chúng có
thế biến đi đâu được chứ? Thật sự là ngay cả gương mặt nàng
tôi cũng không thể nhớ lại được - không ngay lập tức, ít nhất
là thế. Tôi chỉ còn nắm giữ được một cái phông, đơn thuần
cảnh trí, không có một người nào ở cận cảnh hết.
Nói thật là nếu có thời gian, tôi vẫn có thể nhớ lại gương mặt
nàng. Tôi phải chắp nối các hình ảnh vào với nhau - bàn tay
lạnh tí xíu của nàng; mái tóc đen và duỗi thẳng của nàng, sờ
vào thật mịn và thật mát; một cái thuỳ châu tròn trịa mềm mại
và một nốt ruồi bé tí tẹo ngay bên dưới; chiếc áo khoác lông
lạc đà nàng mặc mùa đông; thói quen nhìn thẳng vào mắt tôi
mỗi khi nàng hỏi; giọng nói thỉnh thoảng lại hơi run run của
nàng (như thể nàng đang nói trên một đỉnh đồi lộng gió) - và
rồi gương mặt nàng bỗng ở đó, lúc nào cũng bắt đầu trong tư
thế nhìn nghiêng, vì Naoko với tôi luôn có lối sánh bước bên
nhau. Rồi nàng sẽ quay sang tôi, mỉm cười, hơi nghiêng đầu
một chút, bắt đầu nói, và nhìn sâu vào mắt tôi như đang cố dõi
theo một con cá nhỏ vừa bơi vụt qua một vùng nước của một
con suối trong vắt.
Dù sao, nhớ lại gương mặt Naoko là một việc mất thời gian.
Và khi năm tháng cứ qua đi, quãng thời gian ấy cứ kéo dài mãi
ra. Sự thật đáng buồn là cái mà tôi có thể nhớ lại được trong
năm giây chẳng mấy chốc đã phải mất mười, rồi ba mươi giây,
rồi trọn cả một phút - giống như bóng đổ cứ dài mãi ra cùng
hoàng hôn vậy. Sẽ đến ngày, tôi nghĩ vậy, những bóng đổ ấy sẽ
bị màn đêm nuốt chửng hết. Không có cách gì khác: kí ức tôi
đang ngày càng xa cách cái điểm mà Naoko thường đứng - nơi
cái bản ngã xưa cũ của tôi cũng thường ở đó. Và chỉ còn có
cảnh trí, cái cảnh đồng cỏ tháng Mười ấy, là còn trơ lại với tôi,
lần này qua lần khác, như khuôn hình tiêu biểu của một bộ
phim. Mỗi lần xuất hiện, nó lại kích dộng một chỗ nào đó
trong tâm trí tôi. Tỉnh dậy đi, nó nói, tôi vẫn ở đây mà. Hãy
tỉnh dậy và suy nghĩ: Hãy nghĩ xem tại sao tôi vẫn ở đây.
Những kích động ấy không bao giờ làm tôi đau đớn. Không có
tí đau đớn nào. Chỉ có một âm thanh trống rỗng vọng lại tử
mỗi lần kích động ấy. Và thậm chí cả cái đó nữa cũng sẽ phôi
pha một ngày nào đó. Nhưng ở sân bay Hamburg, những kích
động ấy lại mạnh hơn và lâu hơn thường lệ. Và đó chính là lý
do tại sao tôi viết cuốn sách này. Để suy nghĩ. Để hiểu. Chẳng
qua là cái tạng tôi nó thế. Tôi phải viết hết mọi thứ ra giấy để
cảm thấy rằng mình thực thấu hiểu chúng.
Bây giờ, hay xem hôm đó Naoko đang nói những chuyện gì?
Phải rồi, chuyện “giếng đồng”. Tôi chịu không thể biết liệu có
một cái giếng như thế hay không. Có thể nó là một hình ảnh
hoặc một dấu hiệu chỉ tồn tại trong con người Naoko, cũng
như mọi thứ khác mà nàng thường thêu dệt thành sự thật trong
tâm trí mình trong suốt những tháng ngày đen tối ấy. Vậy mà
một khi nàng đã tả nó cho tôi nghe, tôi không thể nghĩ đến
cảnh trí đồng có ấy mà không có cái giếng. Từ ngày ấy trở đi,
hình ảnh của một thứ mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy đã hoà
quyện khăng khít với cảnh trí thực của cánh đồng nằm ngay
trước mắt tôi. Tôi có thể mô tả cái giếng đến từng chi tiết nhỏ.
Nó nằm ngay ở nơi đồng cỏ kết thúc và rừng cây bắt đầu một
lỗ mở đen ngòm vào lòng đất, đường kính tới một thước, cỏ
mọc che đầy. Chẳng có gì đánh dấu chu vi của nó - không
hàng rào, không thành giếng bằng đá (ít nhất là không có
thành xây cao lên khỏi mặt đất). Nó chỉ là một cái lỗ, một cái
miệng rộng ngoác. Những phiến đá quanh miệng giếng đã bị
thời gian bào mòn, ngả một màu trắng nhem nhuốc lạ lùng.
Chúng nứt nẻ, vỡ nát, và một con thằn lằn nhỏ xanh lét vừa
trườn vào một kẽ nứt sâu hoắm. Ta có thể nghiêng người bên
mép giếng và nhìn xuống để chẳng thấy gì hết. Điều duy nhất
tôi biết về cái giếng là nó sâu khủng khiếp. Nó sâu đến độ
không thể đo được, và đầy chặt bóng tối, như thể toàn bộ bóng
tối của thế giới đã được nấu chảy và lèn vào đó đến tận cùng
đậm đặc của chúng.
“Nó sâu lắm, thực vậy,” Naoko nói, cẩn thận lựa từng lời. Đôi
khi nàng nói kiểu đó, chậm hẳn lại để tìm từng lời chính xác
mình cần. “Nhưng không ai biết nó ở đâu,” nàng nói tiếp.
“Mình chỉ biết chắc một điều là nó ở đâu đó quanh đây.”
Hai tay đút sâu trong túi áo chen bằng vải tuýt, nàng mỉm cười
với tôi như có ý “nói thật đấy!”
“Nếu vậy thì nguy hiểm vô cùng.” tôi nói. “Một cái giếng sâu,
nhưng không ai biết nó ở đâu. Ta có thể ngã vào nó và thế là
hết đời.”
“Hết đời. Aaaaaaaaaaaaa! Tũm một cái. Hết chuyện!”
“Chuyện ấy chắc phải xảy ra rồi.”
“Đúng thế, lâu lâu lại có một lần. Có thể hai hoặc ba năm một
lần. Tự nhiên có người biến mất, và không thể tìm thấy ông ta.
Và lúc ấy mọi người ở quanh đây lại bảo “Ồ, ông ấy ngã
xuống giếng đồng rồi.”
“Chết như thế thật chẳng ra sao cả,” tôi nói.
“Đúng vậy, chết thế thật khủng khiếp,” Naoko nói, tay phủi
một đám hạt cỏ vương trên áo. “Tốt nhất là mình gẫy cổ luôn,
nhưng có thể mình lại chỉ gẫy chân và không xoay xở gì được.
Mình kêu đến rách phổi nhưng không ai nghe thấy, và không
thể hy vọng sẽ có ai tìm thấy mình, rồi bọn nhện và rết sẽ bò
lên khắp người mình, xương của những nạn nhân trước lủng
củng khắp xung quanh, rồi thì tối mò và ướt lạnh, và mãi tít
trên đầu là cái chấm sáng tí ti như một mảnh trăng mùa đông.
Mình chết trong đó, ở ngay đâu đây, dần dà tí một, chỉ có một
mình.”
“Khiếp! Chỉ nghĩ đến chuyện ấy thôi là mình đã nổi da gà rồi,”
tôi nói. “Phải có ai tìm ra được cái của đó và xây một bức
tường xung quanh nó.”
“Nhưng không ai có thể tìm được nó. Tốt nhất là cậu đừng rời
khỏi lối mòn.”
“Yên trí, mình không làm thế đâu.”
Naoko rút bàn tay trái ra khỏi túi áo và nắm chặt lấy tay tôi.
“Cậu đừng lo,” nàng nói. “Cậu sẽ ổn thôi. Cậu có thể chạy
khắp quanh đây lúc nửa đêm mà cũng không bao giờ ngã
xuống cái giếng đó. Cả mình nữa, mình sẽ không ngã xuống
giếng chừng nào mình còn ở bên cậu.”
“Không bao giờ ư?”
“Không bao giờ!”
“Sao cậu chắc vậy?”
“Mình biết vậy thôi,” nàng nói, siết chặt tay tôi hơn và im lặng
bước bên tôi. “Mình biết những chuyện đó. Mình luôn luôn
đúng. Nó chẳng liên quan gì đến logic cả, mình chỉ cảm thấy
như thế thôi. Ví dụ nhé, khi mình thực sự gần gụi cậu như thế
này, mình không sợ một tí gì hết. Chẳng có gì đen tối hoặc xấu
xa có thể cám dỗ được mình.”
“Vậy thì đó là giải pháp rồi,” tôi nói. “Cậu chỉ cần luôn luôn ở
bên cạnh mình như thế này thôi.”
“Cậu nói thật đấy chứ?”
“Tất nhiên rồi.”
Naoko đứng dừng lại. Tôi cũng vậy. Nàng đặt hai tay lên vai
tôi và nhìn vào mắt tôi. Sâu trong hai đồng tử nàng có một
chất lỏng đen đặc đang xoáy tròn như một luồng gió xoáy lạ
kỳ. Cặp mắt đẹp đẽ của nàng nhìn sâu mãi vào tôi một lúc lâu,
rất lâu. Rồi nàng kiêng chân hết cỡ và chạm má nàng vào má
tôi. Cử chỉ ấm áp kì diệu ấy khiến con tim tôi ngừng đập trong
khoảnh khắc.
“Cám ơn cậu.”
“Không dám,” tôi đáp.
“Mình thật hạnh phúc vì cậu đã nói thế. Thật sự hạnh phúc,”
nàng nói với một nụ cười buồn rầu. “Nhưng không thể được.”
“Không thể được ư? Tại sao?”
“Chuyện đó sẽ không phải. Nó sẽ khủng khiếp lắm. Nó…”
Naoko bỗng ngậm miệng và lại bắt đầu bước đi. Tôi có thể
thấy đủ mọi ý nghĩ đang quay cuồng trong đầu nàng, và thay
vì chen vào chúng, tôi chỉ giữ im lặng và sánh bước với nàng.
“Nó sẽ không phải - không phải với cậu, không phải với
mình,” nàng nói sau một hồi lâu lặng lẽ.
“Không phải thế nào chứ?” tôi thì thầm.
“Cậu không thấy sao? Không thể có chuyện một người cứ
canh chừng một người khác mãi mãi và mãi mãi. Mình muốn
nói là, giả dụ chúng mình lấy nhau. Cậu sẽ phải đi làm hàng
ngày. Ai sẽ canh chừng mình khi cậu đi làm? Liệu mình có thể
dính chặt với cậu từng phút từng giây trong suốt cả cuộc đời
chúng ta chăng? Bình đẳng gì mà như vậy? Thứ quan hệ gì
đây? Chẳng chóng thì chầy cậu sẽ phát ốm vì mình. Cậu sẽ tự
hỏi cậu đang làm gì với cuộc đời của cậu, tại sao cậu phải
dành hết thời gian của cậu để canh chừng người đàn bà này.
Mình sẽ không thể chịu được chuyện đó. Nó không thể giải
quyết được bất kì vấn đề nào của mình.”
“Nhưng đến lúc ấy những vấn đề của cậu sẽ không còn nữa cơ
mà?” tôi nói, tay vỗ nhẹ vào lưng nàng. “Cuối cùng chúng sẽ
kết thúc. Và khi đó, chúng ta sẽ cùng nghĩ đến chuyện tiếp
theo. Có khi cậu lại phải giúp mình thì sao. Chúng ta không
sống theo nguyên tắc kế toán tài chính. Nếu cậu cần mình, hãy
cứ sử dụng mình. Cậu hiểu không? Tại sao cậu phải cứng nhắc
thế? Cậu hãy thoải mái đi nào, đừng cảnh giác nữa. Cậu căng
thẳng quá nên lúc nào cũng chỉ sợ gặp chuyện tồi tệ. Thả lỏng
người đi, và mọi thứ khác của cậu sẽ nhẹ nhàng hơn.”
“Làm sao cậu có thể nói vậy được?” nàng hỏi với giọng đã cạn
kiệt cảm xúc.
Giọng nói của Naoko đánh động rằng có thể tôi đã lỡ lời điều
gì đó.
“Thử nói xem, làm sao cậu có thể nói như vậy được chứ,”
nàng nói, trân trối nhìn xuống mặt đất dưới chân mình. “Cậu
chẳng nói được điều gì mà mình chưa biết. “Thả lỏng người
đi, và mọi thứ khác của cậu sẽ nhẹ nhàng hơn.” Nói thế với
mình thì có nghĩa gì? Nếu mình thả lỏng thân xác mình bây
giờ, mình sẽ tan rã. Mình đã luôn sống như thế này, và đó là
cách sống duy nhất mà mình biết. Nếu mình thả lỏng trong
một giây, mình sẽ không thể tìm được đường về. Mình sẽ tan
thành từng mảnh, và những mảnh ấy sẽ bị thổi tung đi khắp
nơi. Tại sao cậu không thấy được điều đó? Làm sao cậu có thể
nói đến chuyện canh chừng cho mình nếu như cậu không thể
thấy được điều đó?”
Tôi nín lặng.
“Mình hoang mang. Thực sự hoang mang. Và chuyện đó sâu
sắc hơn cậu tưởng rất nhiều. Sâu hơn… đen tối hơn… lạnh lẽo
hơn. Nhưng cậu hãy nói xem, làm sao mà cậu lại có thể ngủ
với mình lần ấy? Làm sao cậu có thể làm một chuyện như vậy
được? Tại sao cậu lại không để cho mình được yên thân một
mình?”
Bấy giờ chúng tôi đã đang bước đi trong cái yên ắng đáng sợ
của một khu rừng thông. Xác những con ve đã chết khô từ dạo
cuối hè rải rác khắp trên mặt lối đi, lạo xạo dưới gót giày. Như
thể tìm kiếm một thứ gì mà chúng tôi đã đánh mất, Naoko và
tôi tiếp tục chậm rãi bước theo lối mòn.
“Mình xin lỗi,” nàng nói, nắm lấy tay tôi và lắc đầu. “Mình
không định hành hạ cậu. Hãy cố đừng để những gì mình nói
làm cậu phiền lòng. Mình xin lỗi, thực lòng xin lỗi. Mình chỉ
giận dữ với bản thân mà thôi.”
“Có lẽ mình chưa thực hiểu cậu,” tôi nói. “Mình không được
thông minh lắm đâu. Chuyện gì cũng phải lâu lâu mình mới
hiểu ra. Nhưng nếu mình thực sự có thời gian, mình sẽ hiểu
cậu bằng được - hơn bất kì ai khác trên thế gian này.”
Chúng tôi dừng bước và đứng trong khu rừng yên ắng, lắng
nghe. Tôi dùng múi giày nghịch những quả thông và xác ve
sầu, rồi ngẩng nhìn những mảnh trời qua vòm lá thông. Hai tay
đút túi, Naoko đứng đó và suy nghĩ, mắt không nhìn vào đâu
cụ thể.
“Hãy nói xem, Toru”, nàng lên tiếng. “Cậu có yêu mình
không?”
“Cậu biết là mình yêu cậu mà.”
“Vậy cậu có thể giúp mình hai việc không?”
“Xin thưa, quí cô có thể có những ba điều ước kia!”
Naoko mỉm cười và lắc đầu. “Không, hai là đủ rồi. Một là cậu
hãy biết rằng mình rất biết ơn cậu đã đến tận đây thăm mình.
Mình hy vọng cậu sẽ hiểu là cậu đã làm cho mình hạnh phúc
biết bao nhiêu. Mình biết rằng nếu có cái gì có thể cứu được
mình, thì chính là niềm hạnh phúc này đây. Có thể mình không
biểu lộ được điều đó, nhưng thật là như vậy đấy.”
“Mình sẽ đến thăm cậu nữa mà,” tôi nói. “Thế còn điều ước
thứ hai?”
“Mình muốn cậu luôn luôn nhớ đến mình. Cậu sẽ nhớ rằng
mình đã tồn tại, rằng mình đã đứng cạnh cậu ở đây như thế
này chứ?”
“Lúc nào cũng vậy,” tôi nói. “Mình sẽ luôn luôn nhớ.”
Nàng bước đi và không nói gì nữa. Những tia sáng mùa thu
xiên qua cành lá nhảy nhót trên vai áo nàng. Một con chó lại
cất tiếng sủa, nghe gần hơn trước. Naoko trèo lên một gò nhỏ,
bước ra khỏi khu rừng và đi vội xuống một triền dốc thoai
thoai. Tôi theo nàng cách hai ba bước chân.
“Lại đây nào,” tôi gọi sau lưng nàng. “Cái giếng có thể ở đâu
đó quanh đây.” Naoko dừng lại và mỉm cười, rồi cầm lấy tay
tôi. Chúng tôi đi nốt quãng đường, vai kề vai.
“Cậu thực sự hứa là sẽ không quên mình chứ?” nàng hồi gần
như thì thầm.
“Mình sẽ không bao giờ quên cậu,” tôi nói. “Không bao giờ
mình có thể quên cậu.”
Vậy mà ký ức tôi đã ngày càng mờ nhạt đi, và tôi đã quên
nhiều thứ mất rồi. Viết bằng hồi ức như thế này, tôi thường có
những cơn sợ hãi đến thắt lòng. Nếu tôi đã quên mất điều quan
trọng nhất thì sao? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu ở đâu đó trong tôi
có một bến lú tối tăm nơi tất cả những ký ức thực sự quan
trọng bị chất đống lại và từ từ biến thành bùn đất?
Cho dù có như vậy đi nữa, đó là tất cả những gì tôi có. Ghì
chặt những ký ức không hoàn hảo, đang lu mờ và đã phôi pha
ấy trên ngực, tôi tiếp tục viết cuốn sách này với toàn bộ sức
căng tuyệt vọng của một người chết đói đang mút từng mẩu
xương nhặt được. Đó là cách duy nhất tôi biết để giữ lời hứa
với Naoko.
Một lần, lâu lắm rồi, khi tôi còn trẻ, khi ký ức tôi còn sống
động hơn giờ đây rất nhiều, tôi thường cố viết về nàng. Nhưng
tôi không thể viết được một dòng nào.
Tôi biết rằng nếu cái dòng đầu tiên ấy mà xong, phần còn lại
sẽ tự nó trào ra mặt giấy, nhưng tôi không thể làm được điều
đó. Mọi thứ còn quá sắc nét và rõ ràng, đến nỗi tôi không biết
phải bắt đầu từ đâu - kiểu như một tấm bản đồ có quá nhiều
chỉ dẫn đôi khi lại thành vô dụng.
Nhưng giờ đây, tôi hiểu rằng tất cả những gì mình có thể chất
lên con thuyền chữ nghĩa không hoàn hảo này chỉ là những ký
ức không hoàn hảo và những ý nghĩ không hoàn hảo. Những
ký ức về Naoko càng lu mờ trong tôi thì tôi lại càng hiểu nàng
sâu sắc hơn. Tôi cũng đã biết tại sao nàng xin tôi đừng quên
nàng. Bản thân Naoko biết điều đó, tất nhiên rồi. Nàng biết
rằng ký ức của tôi về nàng sẽ phôi pha. Và chính thế mà nàng
xin tôi đừng bao giờ quên nàng, hãy nhớ rằng nàng đã từng tồn
tại.
Ý nghĩ ấy xâm chiếm tôi với một nỗi đau tưởng chừng như
không thể chịu đựng nổi. Bởi lẽ Naoko chưa từng yêu tôi bao
giờ.
Chương 2
Đã có một thời, nhiều năm trước đây - đúng ra là hai mươi
năm trước đây - tôi đã sống trong một khu học xá. Tôi mười
tám tuổi và là sinh viên năm thứ nhất. Tôi mới đến Tokyo và
chưa sống một mình bao giờ nên cha mẹ tôi rất lo, và họ thu
xếp cho tôi ở trong một khu học xá tư nhân chứ không thuê
một căn phòng riêng cho tôi như hầu hết các sinh viên khác.
Khu học xá phục vụ cả ăn uống và nhiều tiện nghi khác nên có
thể sẽ giúp đứa con mười tám tuổi đầu còn lớ ngớ của họ sống
sót được. Và còn cả chuyện chi phí nữa. Ở khu học xá rẻ hơn
nhiều so với thuê phòng riêng. Chỉ cần chăn chiếu và một cái
đèn thôi là đủ, không phải mua thêm đồ đạc gì nhiều. Riêng tôi
vẫn muốn thuê một căn hộ và sống thoải mái một mình, nhưng
biết rằng cha mẹ còn phải trả tiền học và các thứ lệ phí khác
cho cái trường đại học tư mà mình đã đỗ vào, nên tôi không
dám đòi hỏi gì thêm. Ngoài ra, thực tình tôi cũng chẳng mấy
quan tâm đến nơi ăn chốn ở của mình.
Nằm trên một quả đồi ở trung tâm thành phố với tầm nhìn
rộng rãi, khu học xá có một khuôn viên vuông vức và có tường
[2]
bê-tông bao quanh. Một cái cây zelkova khổng lồ cao vút
mọc ngay ở sau chỗ cổng trước. Người ta nói nó đã một trăm
năm mươi tuổi là ít. Đứng dưới gốc mà nhìn lên thì những tán
lá xanh dày đặc của nó che kín hết cả trời.
Lối đi lát gạch từ cổng vào chạy vòng quanh cái cây ấy rồi tiếp
tục thẳng tuột qua giữa khu đất vuông của khu học xá. Hai dãy
nhà ba tầng bằng bê-tông nằm đối diện nhau qua lối đi ấy.
Chúng to lừng lững với rất nhiều cửa sổ và làm người ta có ấn
tượng như chúng là những toà chung cư được cải tạo thành
nhà tù hoặc là nhà tù cải tạo thành khu chung cư. Tuy nhiên
chúng không có vẻ gì là bẩn thỉu, mà cũng không gây cảm
giác tăm tối. Có thể nghe thấy tiếng radio vọng ra từ những
cửa sổ để mở, và tất cả cửa sổ đều mắc một loại rèm màu kem
mà nắng không thể làm bạc thêm được nữa.
Qua khỏi hai dãy nhà đó, lối đi dẫn đến một toà nhà sinh hoạt
chung có hai tầng, tầng dưới là nhà ăn và khu nhà tắm, tầng
trên có một giảng đường, các phòng họp, và bảy phòng dành
cho khách mà tôi không bao giờ biết họ là ai. Bên cạnh toà nhà
sinh hoạt chung ấy lại là một khu nhà ở nữa, cũng ba tầng.
Khắp khuôn viên vuông vức ấy phủ đầy những sân cỏ rộng rãi,
và nước phun từ các vòi tưới xoay tròn lấp loá dưới nắng trời.
Phía sau toà nhà sinh hoạt chung là một sân có dùng để chơi
bóng chày và bóng bầu dục, và sáu sân bóng quần. Khu học xá
có đủ thứ ta có thể cần đến.
Nó chỉ có mỗi một vấn đề: mùi vị chính trị của chính nó. Khu
học xá được đặt dưới quyền của một kiểu tổ chức mờ ám xoay
quanh một nhân vật cực hữu, và đối với tôi thì có một cái gì đó
rất xiên xẹo trong cách họ điều hành cơ sở này. Có thể thấy
điều đó trong cuốn sách nhỏ họ phát cho sinh viên mới đến và
trong cả nội quy của khu học xá. Họ tuyên bố rằng khu học xá
được thành lập theo “tinh thần chủ đạo” là “nỗ lực bồi dưỡng
nguồn nhân lực quốc dân thông qua chất lượng tối cao của
những cơ sở giáo dục”, và nhiều đại gia tài chính ủng hộ “tinh
thần” này đã đóng góp tiền riêng của họ vào việc xây dựng nó.
Đó là bộ mặt công khai của dự án, mặc dù bên dưới đó là gì thì
còn cực kỳ mơ hồ. Có người nói đây là một kiểu công trình
trốn thuế, có người lại coi đây là một màn trình diễn lấy danh
tiếng của những nhân vật góp vốn, lại cũng có người nói rằng
việc xây khu học xá chỉ là để che đậy hành vi chiếm đoạt một
miếng gan miếng tiết của bất động sản công cộng. Nhưng có
một chuyện chắc chắn là có thật: trong kí túc xá có một câu lạc
bộ đặc tuyển gồm toàn những sinh viên thượng lưu từ nhiều
trường đại học khác nhau. Họ lập ra nhưng “nhóm học tập”
họp nhau nhiều lần một tháng với sự tham gia của cả nhiều
sáng lập viên. Thành viên nào của câu lạc bộ này cũng chắc
chắn sẽ có công ăn việc làm ngon lành sau khi tốt nghiệp. Tôi
cũng chẳng biết trong những lý thuyết này, nếu có thể gọi thế,
có cái nào đúng không, nhưng tất cả chúng đều có chung một
giả định rằng có gì đó mờ ám về cơ sở này.
Dù sao, tôi cũng đã có hai năm - từ mùa xuân 1968 đến mùa
xuân 1970 - sống trong cái khu học xá “mờ ám” ấy. Cũng
không thể giải thích được tại sao tôi lại chịu đựng được nó lâu
đến thế. Về mặt sinh hoạt hàng ngày thì dù nó có là hữu
khuynh hay tả khuynh hoặc gì gì đi nữa thì cũng chẳng khác gì
đối với tôi.
Ngày nào cũng khởi đầu bằng một lễ kéo cờ trịnh trọng. Họ
chơi cả nhạc quốc thiều, tất nhiên rồi. Hai việc ấy không thể
thiếu nhau được. Cột cờ trồng ở chính giữa khu học xá, có thể
nhìn thấy từ cửa sổ của cả ba khu nhà ở.
Trưởng khu nhà ở phía đông (nơi tôi kí túc) là người phụ trách
lá cờ. Ông ta cao lớn, mắt diều hâu, tuổi trạc già năm mươi
non sáu mươi. Mớ tóc xù của ông đã điểm bạc, và cái cổ rám
nắng của ông có một vết sẹo dài. Người ta kháo nhau rằng ông
đã tốt nghiệp trường huấn luyện tình báo Nakano từ thời chiến
tranh, nhưng không ai biết chắc cả. Đứng cạnh ông là ...
 
Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn. (Barack Obama)





