Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng Sản Việt Nam
Su Tu - Joseph Kessel

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:25' 07-03-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:25' 07-03-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
SƯ TỬ
Joseph Kessel
Making Ebook Project
BOOKAHOLIC CLUB
Tên sách: SƯ TỬ
Tác giả: Joseph Kessel
Nguyên tác: Le lion
Dịch giả: Châu Diên
Nhà xuất bản: Văn Học
Năm xuất bản: 1993
Số trang: 328
Khổ sách: 13 x 19 cm
Giá bìa: 13.000 đồng
Đánh máy: Thùy An, Nguyễn Ngọc Quỳnh Trang, Thùy Ty,
Quan Trường, Phương Lan, Lan Nguyễn, Cường
Kiểm tra: Hannah Le
Ảnh bìa: Hanki Nguyễn
Chế bản ebook: Thảo Đoàn
Ngày thực hiện: 30/08/2012
Making Ebook Project #258 - www. BookaholicClub. com
Bạn đang đọc ebook SƯ TỬ của tác giả Joseph Kessel do
Bookaholic Club chế bản theo Dự án chế bản Ebook
(Making Ebook Project).
Mong rằng ebook này sẽ mang đến cho bạn một tác phẩm
Văn học hay, giàu giá trị biểu cảm và nhân văn, với chất lượng
cao. Chúng tôi luôn cố gắng mang đến những chế bản ebook
tốt nhất, nếu trong quá trình chế bản có lỗi sai sót nào mong
bạn góp ý và cho chúng tôi biết những ebook mà đang mong
muốn.
Making Ebook Project của Bookaholic Club là một hoạt
động phi lợi nhuận, nhằm mục đích mang đến những chế bản
ebook hay, có giá trị với chất lượng tốt nhất mà chúng tôi có
thể với Cộng đồng đọc - người Việt. Tuy nhiên, nếu bạn có
khả năng xin hãy đọc tác phẩm này bằng sách trước hết vì lợi
ích cho Nhà xuất bản, bản quyền tác giả và góp phần phát triển
xây dựng nền Văn hóa đọc.
Hãy chỉ đọc chế bản này trong điều kiện bạn không
thể tìm đến ấn phẩm sách.
MỤC LỤC
GIỚI THIỆU TÁC GIẢ
TRƯỚC KHI VÀO TRUYỆN
PHẦN THỨ NHẤT
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
XIII
XIV
PHẦN THỨ HAI
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
XIII
XIV
XV
GIỚI THIỆU TÁC GIẢ
Joseph Kessel sinh ra ở Clara, Achentina, ngày 10-021898. Cha ông là người Nga gốc Do Thái chạy trốn sự truy nã
của Sa hoàng, sang Pháp học ngành Y. Nước Pháp trở thành
Tổ quốc tinh thần của gia đình Kessel từ đấy. Bác sĩ Kessel
tình nguyện đi làm thầy thuốc cho một khu di dân nông nghiệp
Do Thái ở Achentina, và Joseph Kessel ra đời ở Tân Thế Giới.
Khi gia đình trở về Pari, Joseph chuẩn bị thi cử nhân văn
khoa trong khi vẫn mơ ước trở thành một diễn viên hài kịch.
Nhưng một dịp tốt đã đến, cho phép ông làm việc tại tòa báo
Journal des débats, tờ báo hàng ngày có uy tín nhất ở Pari. Ở
tòa báo, người ta vẫn còn thấy chiếc ghế bành của
Chateaubriand để đó.
Thế rồi chiến tranh xảy ra, và vừa đúng lúc mười tám tuổi,
ông bỏ hẳn sân khấu và tạm thời bỏ nghề báo để làm phi công.
Chính trong nghề này mà ông tìm thấy nguồn cảm hứng cho
tiểu thuyết Phi đoàn. Nhà phê bình Henry Clouard cho rằng
Kessel là người đầu tiên viết mảng văn học về hàng không.
Năm 1919, Kessel tình nguyện sung vào quân đội viễn
chinh của Pháp sang Siberi. Ông đã kể lại chuyến đi ấy trong
tiểu thuyết Thời hoang dã. Ông trở về qua Trung Quốc, Ấn Độ
và khép lại vòng đi thế giới đầu tiên.
Sau đó, ông luôn luôn ở vị trí hàng đầu thuận lợi cho việc
quan sát thời sự. Ông tham gia cuộc nổi dậy của Ái Nhĩ Lan
chống lại nước Anh. Ông được chứng kiến những bước đầu
của chủ nghĩa phục quốc Do Thái. Hai mươi năm sau, ông
nhận được giấy nhập cảnh vào nước Ixraen non trẻ, tờ visa
mang số 1. Ông đi theo những người buôn nô lệ cuối cùng trên
biển Đỏ cùng với Henri de Monfreid. Ông được thấy những
bước đầu của bưu điện Hàng không cùng với Mermoz và Sain
Exupery. Ở nước Đức đang thời biến động, ông gặp “người
đàn ông mặc áo đen xoàng xĩnh, chẳng có vẻ gì lịch sự, chẳng
có vẻ gì quyền thế, chẳng có chút gì ưa nhìn, của một người
đàn ông nào đó, vẻ buồn buồn và khá tầm thường”. Người đó
là Hitler.
Sau cuộc chiến năm 40 mà ông bắt đầu trong một trung
đoàn công binh và kết thúc ở vị trí một phi công của nước
Pháp tự do, Joseph Kessel lại trở về nghề văn và nghề báo.
Ông được bầu và Viện Hàn Lâm Pháp tháng 11 năm 1962.
Ông mất năm 1979.
Joseph Kessel là tác giả của hơn hai mươi tiểu thuyết và
truyện như: Phi đoàn, Những trái tim trong trắng, Sư tử, Tiểu
đoàn trên không, Đoàn quân bóng tối, Chợ nô lệ, Người đàn
bà đi qua quán cà phê…
TRƯỚC KHI VÀO TRUYỆN
Tôi dâng tặng tiểu thuyết này tới cơ quan quản trị các
Vườn quốc gia Kênya đã có công bảo tồn sự sống hoang dã
miền đông Phi châu cho các thế hệ tới, để ca ngợi lòng tận tụy
nhiệt thành của những con người gánh vác trách nhiệm các
khu bảo tồn đó, đặc biệt để ca ngợi bạn tôi, ông giám đốc
Tabêrê, trong ngôi nhà anh tôi đã phác họa xong chủ đề câu
chuyện này.
Các sự kiện trong câu chuyện diễn ra tại bảo tồn Ambôlêsi.
Hẳn là mỗi khu vườn quốc gia đều có một vị giám đốc. Thế
nhưng tính các vị giám đốc trong cuốn sách này cũng như tính
các bà vợ và cô con gái ông lại hoàn toàn do tác giả tạo ra. Là
các nhân vật tiểu thuyết, các tính cách đó chẳng có chút gì
chung với gia đình Tabêrê cả. Dẫu sao tôi cũng ngỏ lời cám ơn
anh vì anh đã chia sẽ với tôi những kinh nghiệm lâu đời và
hiếm hoi của anh về các giống thú hoang. Không được anh
giúp sức, cuốn sách này hẳn đã không thể nào ra đời.
PHẦN THỨ NHẤT
I
Phải chăng nó đã vành mi mắt tôi để coi thử trong đó có
gì? Tôi không thể đoán chắc điều đó. Khi thức giấc, rõ ràng tôi
đã thấy như là có một ngọn bút lông mềm và nhám dạo dọc
khuôn mặt mình, thế nhưng khi tỉnh dậy hẳn thì tôi lại thấy nó
đang ngồi rất ngoan ở ngang tầm cái gối và nhìn tôi chăm chú.
Tầm vóc nó không lớn hơn một sọ dừa. Bộ lông mọc ngắn
của nó có màu vỏ dứa khô. Với bộ lông như thế từ đầu ngón
chân tới đỉnh hộp sọ, trông nó như thể mặc lông dệt. Riêng cái
mặt lại phủ bằng một thứ mặt nạ satanh đen, xuyên qua đó
long lanh hai giọt nước: đôi con mắt.
Trời chưa rạng hẳn, nhưng cây đèn bão đêm qua tôi quên
tắt vì mệt cũng đủ sáng để tôi nhìn thấy rành rành trên nền
tường vôi trắng vị sứ giả bất ngờ đó của bình minh.
Vài giờ sau, sự hiện diện của nó hẳn sẽ là chuyện bình
thường đối với tôi. Nó có cả bầy sống trên những cây cao xung
quanh gian lều; nhiều gia đình đông đủ giỡn chơi trên cùng
một cành cây. Nhưng bữa qua, lúc chiều sẩm tối mới tới đây,
người kiệt lực. Vì vậy, vào lúc này, tôi đã nín thở mà nhìn con
khỉ tí xíu ngồi rất gần mặt tôi.
Cả nó cũng không nhúc nhích. Cả đôi giọt nước bên trong
cái mặt nạ satanh đen cũng bất động.
Trong đôi mắt nhìn ấy không thấy sợ sệt, nghi kỵ và cả tò
mò nữa. Tôi chỉ là đối tượng cho một sự xem xét nghiêm túc,
vô tư.
Thế rồi cái đầu dệt lông ấy, to bằng nắm tay trẻ nhỏ ở tuổi
còn nằm trong nôi, bỗng ngoẹo về bên trái. Đôi mắt khôn
ngoan lộ ra một vẻ buồn rầu, thương hại. Nhưng đó là buồn
thương cho tôi.
Tưởng chừng đôi mắt ấy mong muốn cho tôi những
chuyện tốt lành, muốn đem cho tôi một lời khuyên. Nhưng lời
khuyên gì vậy?
Lúc đó hẳn tôi đã có một cử động vô ý. Thế là cái nắm tròn
màu ngà ngà vàng đó nhảy vụt lên, bay từ bàn này sang ghế
kia cho tới khung cửa sổ để ngỏ, và tan biến đi trong sương
mù buổi sáng.
Quần áo đi rừng của tôi từ đêm qua vứt đó vẫn y nguyên
dưới đất cạnh chân giường, gần cây đèn bão.
Tôi lấy mặc vào và đi ra ngoài hiên.
Bữa chiều qua, mặc dù trời tối mù mịt, tôi nhớ rằng có để ý
thấy những bụi gai lớn bao quanh gian lều mình ở, và trước
lều là một cánh rừng thưa mênh mông chạy dài hút trong màn
đêm bí ẩn. Nhưng lúc này sương mù đã che kín hết. Vật chuẩn
duy nhất cho tôi chỉ còn ngay trước mặt tôi, nối với trời cao
trên nóc thế giới, cái bàn khổng lồ chứa tuyết vĩnh cửu quanh
đỉnh núi Kilimanjarô.
Một tiếng động giống như có ai lăn vội những con xúc xắc
đã khiến tôi ngoảnh nhìn về những bậc cầu thang gỗ thô dẫn
tới hàng hiên. Một con linh dương thong thả, ung dung leo lên
các bậc tam cấp.
Một con linh dương thực sự, nhưng rất nhỏ xinh, tai nó
không chấm đầu gối tôi, sừng giống như những lá thông, và vó
chỉ to bằng móng tay.
Con vật kỳ diệu chui từ sương mù ra ấy chỉ dừng lại khi
gặp mắt cá chân tôi và nó ngẩng mõm lên với tôi. Tôi khom
xuống hết sức thận trọng và chìa bàn tay về phía cái đầu gọt
giũa hết sức đẹp đẽ, hết sức tinh tế. Con linh dương nhỏ không
cựa quậy. Tôi sờ vào hai cánh mũi nó, ve vuốt chúng.
Nó để mặc tôi, mắt nó nhìn chăm chú vào mắt tôi. Và trong
vẻ trìu mến câm lặng của đôi mắt ấy tôi thấy có điều gì đó
cũng hệt như khóe nhìn đến là buồn và đến là khôn ngoan của
chú khỉ con. Cả lần này nữa, tôi cũng không đủ khả năng để
hiểu.
Dường như muốn tạ lỗi vì không nói được, con linh dương
liếm các ngón tay tôi. Rồi nói khẽ khàng gỡ mồm khỏi tay tôi.
Sau đó, vó chân nó lại tạo ra trên bậc thang gỗ tiếng những
quân xúc xắc lăn đi. Nó đi khuất.
Tôi chỉ còn có một mình.
Nhưng trải qua mấy giây lát ấy, bình minh nhiệt đới vốn
ngắn ngủi lạ lùng đã nhường chỗ cho rạng đông.
Từ trong lòng bóng tối, ánh sáng đột ngột vọt ra, lộng lẫy,
sáng lóa, rạng rỡ. Tất cả bừng lên, long lanh, lấp lánh.
Những mũi tên hồng xuyên qua tuyết trên đỉnh
Kilimanjarô.
Khối sương mù dày đặc bị sức nóng mặt trời đào bới, phá
phách, hút đi, đã tản ra thành những màng mỏng, thành cột,
thành cuộn, thành đường xoắn, thành những khối, những giải,
những sợi, và thành vô vàn hạt nhỏ tựa như bột kim cương.
Cỏ lúc thường, khô cứng và màu vàng, lúc này trông mềm
ra và lộng lẫy sương mai.
Trên những cây mọc rải quanh lều tôi ở, ngọn cây có
những chùm gai lúc này đã được chuốt bóng lại, chim đang
hót và khỉ đang kêu choe chóe.
Và đằng trước hàng hiên, khói sương dần dần tan biến để
mở ra một khoảng ngắt xanh càng vô cùng khoáng đãng và bí
ẩn, và tít sâu trong đó vẫn còn những đám mây nho nhỏ mới tụ
đang chập chờn bay và đến lượt chúng cũng lại bốc đi nốt.
Tấm màn này vén lên tiếp tấm màn kia, trái đất mở màn
diễn những trò ban ngày và của muôn loài.
Sau hết, ở cuối cánh rừng thưa, nơi vẫn còn bám lại một
dải sương mờ nhẹ như lông tơ, thấy có bóng nước long lanh.
Hồ? Ao? Hay đầm nước lầy? Không phải loại nào cả, mà
chỉ là một vùng nước rộng. Bên dưới hẳn là có những mạch
nước ngầm yếu ớt và nước không đủ sức lan xa hơn nữa, chỉ
run rẩy lăn tăn giữa những đám cỏ cao, giữa những lau sậy và
những bụi cây rậm rạp.
Những con thú tụ tập bên đầm nước.
Trong chuyến viễn du tôi vừa thực hiện tại vùng Đông
Châu Phi, dọc theo các con đường lớn và đường mòn - Kivu,
Tanganyika, Uganda, Kenya - tôi đã thấy nhiều con thú đó.
Những bầy thú bị tiếng xe ầm ầm xua đuổi tan tác, những
bóng hình thoăn thoắt, hốt hoảng, rồi biến mất.
Đôi khi tôi cũng có dịp rình trong giây lát một con thú
hoang, việc đó chỉ thực hiện được từ rất xa hoặc kín đáo, có
thể nói là xem trộm cũng được.
Tôi đã chiêm ngưỡng những tư thế của những sinh mệnh tự
do và thuần khiết ở chốn rừng rậm khô khan với một tình cảm
đặc biệt pha lẫn thèm khát, hào hứng, ước ao và thất vọng.
Dường như được gặp lại một thiên đường tôi từng mơ ước,
từng quen biết từ thuở nào không còn nhớ nổi. Tôi đã kề
ngưỡng cửa thiên đường ấy mà không thể vượt qua.
Hết gặp gỡ này sang gặp gỡ khác, tôi chợt thấy có nhu cầu
- hẳn là một nhu cầu - trẻ con nhưng ngày càng thúc bách được thấy mình nhập vào cõi hồn nhiên trong trắng của những
buổi đầu đã rất xa xưa của thế giới.
Vì thế, trước khi trở lại châu Âu, tôi đã quyết định ghé qua
một trong những Vườn hoàng gia xứ Kênya, những khu bảo
tồn có những luật lệ cực kỳ khắt khe chở các thú hoang được
sống trong tất cả các hình thái đời sống của chúng.
Và giờ đây, chúng kia rồi.
Không phải những con thú tỉnh táo, nghi kỵ vì sợ sệt mà tụ
tập thành bầy, thành đàn, thành đám theo giòng, theo giống,
theo ngành, mà là những con thú hòa lẫn với nhau giữa cảnh
yên lành, vô tư buông thả trong đầm nước, những con thú sống
yên bình với rừng rậm, với chính chúng nó, và với hừng đông.
Tôi đứng khá xa nên không thề nhìn rõ từng cử động của
chúng hoặc hòa sắc các màu lông và da của chúng, nhưng
không vì đứng xa như vậy mà không thấy rằng bầy thú đông
có tới hàng trăm hàng nghìn con, đủ các loại chen chúc bên
nhau, và trong khoảng khắc sống đó chúng không biết thế nào
là sợ hãi hoặc vội vã.
Những linh dương, sơn dương, hươu cao cổ, linh dương
đầu bò, ngựa vằn, tê giác, trâu, voi - những con thú dừng chân
hoặc chuyển dịch tùy sở thích, tùy cơn khát, thả mặc cho sự
tình cờ.
Mặt trời vẫn còn dịu, soi xiên những tầng tuyết chất trên
đỉnh núi Kilimanjarô. Gió nhẹ sớm mai đùa rỡn với những
cụm mây mỏng còn sót lại. Được chút rớt sương mù rắc lên,
những mảng nước và đồng cỏ tràn ngập mồm thú và những
cánh mũi thú, những lườn thẫm màu, vàng, vằn, những sừng
thẳng nhọn, vểnh hoặc to sù, và những vòi những ngà, tạo
thành một tấm thảm hoang đường treo bên trái núi lớn Phi
châu.
Tôi không rõ mình đã rời hàng hiên và ra đi vào lúc nào.
Tôi chẳng còn chủ động nổi nữa. Tôi cảm thấy mình bị vẫy gọi
bởi những con thú để đi tới một cõi phúc đã có từ trước khi có
con người.
Tôi theo con đường mòn ven cánh rừng thưa, dọc theo tấm
màn che những cây và những bụi. Tôi càng đi tới, vẻ thần tiên
chẳng những không đổi thay, không tan biến, mà càng phong
phú thêm, càng thêm chất thực.
Mỗi bước tôi đi lên khiến tôi nhìn rõ hơn chúng, có biết
bao nhiêu ngành, những đường nét tinh tế cũng đa dạng biết
bao, sức mạnh của chúng cũng khác nhau biết chừng nào. Tôi
đã nhìn được rõ những bộ lông linh dương, những đầu trâu hãi
hùng, và những con voi như những tảng đá hoa cương.
Chúng vẫn đang gặm cỏ, đang hít nước, đang lang thang
búi này sang búi khác, vũng này sang vũng khác. Còn tôi cũng
tiếp tục đi. Vậy mà chúng vẫn cứ còn đó trong cảnh yên bình
của chúng, ở nơi chúng ngự trị, mỗi lát giây chúng càng thực
hơn, càng gần tầm tay tôi hơn. Tôi đã đi tới bìa rừng cây gai.
Chỉ cần tôi bước ra khỏi các bụi gai kín đáo, bước vào vùng
đất ẩm và long lanh nước, là tôi sẽ làm bạn được với những
con thú hoang trên miền đất riêng của chúng.
Không còn có gì ngăn tôi lại nữa. Những phản xạ vì thận
trọng, vì muốn được bảo toàn đã không còn nữa, nhường chỗ
cho một bản năng vừa thầm kín vừa mạnh mẽ, đang đẩy tôi
qua một vũ trụ khác hẳn.
Và bản năng đó đang sắp được thỏa mãn.
Đúng vào lúc ấy, có một lời cảnh cáo thầm trong lòng
khiến tôi dừng bước. Có một sự hiện diện gần kề đã chống lại
ý định của tôi. Đó không phải là sự hiện diện của một con vật.
Lúc này đây, tôi đã thuộc về thế giới của chúng rồi, tôi đã ở
trong vùng hạ trại của chúng rồi. Cái sinh mệnh mà tôi đoán
chừng ra - nhưng không rõ vì giác quan nào? - thuộc về giống
người.
Khi ấy tôi nghe thấy những tiếng sau, nói bằng tiếng Anh:
- Chú không được đi xa hơn.
Cái bóng người mảnh mai tôi chợt nhận ra dưới bóng một
bụi gai khổng lồ chỉ cách tôi chừng vài ba bước là nhiều.
Bóng người đó không tìm cách trốn lánh. Nhưng vì nó
hoàn toàn bất động và lại mặc một chiếc quần có yếm màu
xám đậm, nên dường như đã nhập làm một với cái thân cây nó
đang tựa vào.
Trước mặt tôi là một em bé khoảng chục tuổi, đầu để trần.
Một mái tóc đen cắt tròn che kín vầng trán. Khuôn mặt tròn,
sạm nắng, da rất nhẵn. Cái cổ dài và mảnh dẻ. Đôi mắt nâu to
dường như chẳng nhìn thấy tôi, vẫn đang nhìn không chớp vào
bầy thú.
Vì đôi mắt đó mà tôi có một cảm giác rất khó xử là đã bị
bắt gặp vào lúc mình còn tỏ ra trẻ dại hơn đứa trẻ con ấy.
Tôi khẽ hỏi lại:
- Không được tới kia ư? Cấm à?
Cái đầu tóc tròn khẽ gật, nhưng đôi mắt vẫn bám lấy
những vận động của các con thú.
Tôi lại hỏi:
- Đúng thế không?
- Còn ai biết rõ hơn cháu nữa? Cha cháu là giám đốc khu
Vườn hoàng gia này.
- Chú hiểu hết rồi, - tôi nói. - Ông giám đốc đã cử cậu con
trai giám sát tôi.
Thế là đôi mắt nâu to ngước nhìn tôi. Lần đầu tiên tôi được
thấy khuôn mặt nhỏ sạm nắng lộ ra một vẻ phù hợp với lứa
tuổi.
- Chú nhầm rồi, cháu đâu phải con trai, đứa nhỏ mang quần
có yếm màu xám nói. Cháu là con gái, và tên cháu là Patrixia.
II
Đó không phải lần đầu tiên Patrixia làm ngạc nhiên một
khách thăm như vậy. Vẻ tinh quái đắc thắng trên nét mặt em
cho thấy rõ điều đó.
Đồng thời, và hẳn cũng để khách tin hoàn toàn, nụ cười,
mắt nhìn, cái ngoẹo cổ, tất cả rộn lên một bản năng quyến rũ
muôn thuở mà thơ ngây, khiến cho cái bóng trẻ thơ kia mang
đúng màu vị đàn bà.
Còn tôi hẳn cũng phải có được cú choáng đó để trở lại
được với cái thực: kia, một em bé gái, một thân một mình,
trong rừng rậm, vào lúc bình minh, cách những con thú có vài
bước chân. Tôi nói:
- Bố mẹ cháu cho cháu đi chơi sớm và xa thế ư?
Patrixia không đáp lại. Những đường nét trên người em lại
bất động và nghiêm trang, khiến em lại trở về dáng dấp một
cậu trai. Em ngắm nhìn đàn thú hoang, cơ hồ như tôi chưa
từng có mặt ở đó.
Lúc này, từ những mạch cao của hừng đông, ánh sáng trút
xuống chan hòa và rung động. Bầy thú quanh vùng nước lốm
đốm ánh mặt trời nom càng dày đặc hơn, càng thực hơn.
Cái ước vọng đã run rủi tôi tới đó bỗng lại trỗi lên mạnh
mẽ hết sức. Đến phút cuối cùng, một em bé gái làm sao có thể
tước đoạt nổi của tôi điều đó. Tôi dấn một bước về phía cánh
rừng thưa.
Patrixia vẫn không quay đầu lại, nhưng nói:
- Chú không được đi tới đó.
- Cháu sẽ cho cha cháu biết và cha cháu sẽ đuổi chú khỏi
khu vườn chứ gì? - Tôi hỏi.
- Cháu không phải đứa mách lẻo, - Patrixia nói.
Em bé nhìn tôi thách thức. Danh dự trẻ thơ đầy tràn trong
đôi mắt ấy.
- Vậy cháu lo hộ chú sao? - Tôi hỏi nữa.
- Chú đủ lớn để tự biết giữ gìn, còn chuyện gì xảy ra cho
chú, cháu đâu cần biết, - Patrixia nói.
Cớ sao một khuôn mặt chưa có vết nhăn và tươi mát đến
thế lại có khả năng thay đổi như vậy? Và đột nhiên lãnh đạm
đến mức độc ác như vậy? Em bé gái đó ít quan tâm tới những
gì có thể xảy ra với tôi vì các cẳng vó, vì các ngà và sừng thú
vật. Hẳn cô bé có thể không chút rung động nhìn tôi bị giày
xéo, xổ ruột.
- Thế thì, tôi hỏi, thế thì tại sao cháu lại bảo chú…
- Chẳng có gì khó hiểu cả, - Patrixia nói.
Trí óc chậm hiểu của tôi bắt đầu làm cho cô bé khó chịu
cáu kỉnh. Trong đôi mắt to sâu thẳm của cô bé có những tia
sáng lóe lên.
- Hẳn chú phải thấy rằng, - cô bé nói tiếp, - các con thú
đang sống với nhau bình yên, thoải mái. Lúc này là thời gian
đẹp nhất trong ngày của chúng.
Phải chăng đó là do ảnh hưởng của thời khắc, của khung
cảnh? Từ cô bé tí tẹo kia tỏa ra một quyền lực đặc biệt. Đôi
lúc, dường như cô bé có hẳn một niềm tin chắc chắn và biết rõ
một chân lý chẳng liên quan gì với số tuổi đời của em cũng
như với các thông lệ của lý trí. Dường như cô bé đứng xa hẳn
các thói quen trí tuệ của con người.
- Chú chẳng muốn làm cho các con thú hoảng sợ, - tôi nói
với em bé. - Chú chỉ muốn sống cùng chúng một chút, sống
như chúng một chút.
Patrixia nhìn chăm chú và hồ nghi để đánh giá tôi.
- Chú yêu chúng thật à? - Bé hỏi tôi.
- Chắc là như vậy.
Đôi mắt to sâu thẳm bất động một giây lâu. Sau, trên
khuôn mặt nhạy cảm cực kỳ đó rạng rỡ một nụ cười tin cậy.
- Cháu cũng chắc là như vậy, - Patrixia nói.
Tôi thấy khó mà lý giải nổi vì sao nụ cười ấy cùng câu trả
lời ấy lại khiến tôi vui. Tôi bèn hỏi:
- Thế chú đi được chứ?
- Không, - Patrixia nói.
Bên trên cái cổ dài và mềm mại, cái đầu có mớ tóc cắt tròn
nhấn mạnh cho điều chối từ kia bằng cử động rất dịu dàng,
nhưng dứt khoát.
- Vì sao vậy? - Tôi hỏi.
Patrixia không chịu trả lời ngay. Bé tiếp tục im lặng ngó
nhìn tôi và suy tư. Và trong đôi mắt em tỏ ra có rất nhiều thiện
cảm. Nhưng đó là một nỗi thiện cảm có tính chất đặc biệt. Vô
tư, trang trọng, đầy sầu muộn, gợi mủi lòng và bất lực không
sao cứu giúp được.
Tôi đã từng thấy cái vẻ lạ kỳ đó. Ở đâu vậy? Tôi chợt nhớ
lại con khỉ bé tí tẹo và con linh dương nhỏ xíu đã tới thăm tôi
trong gian lều. Nỗi buồn bí ẩn trong đôi mắt động vật, tôi lại
thấy trong đôi mắt Patrixia, trong đáy sâu đôi mắt to và sẫm
kia. Nhưng ở em bé gái này em biết đường nói ra.
- Các con thú không cần tới chú, - sau cùng Patrixia nói. Nếu có chú, chúng không được nô giỡn yên bình, tự do, chúng
thích như thế, chúng quen như thế.
- Nhưng chú yêu chúng, - tôi nói, - và cháu biết chắc là
như vậy.
- Cũng chẳng ăn thua gì, - Patrixia cãi lại, - chúng đâu phải
là của dành riêng cho chú. Có thế mà chú lại không hiểu. Chú
không được đi!
Em bé cố tìm cách diễn đạt sao cho tôi hiểu, em khẽ nhún
đôi vai mảnh dẻ, và lại nói:
- Chú từ rất xa tới, và cũng quá muộn rồi.
Patrixia càng tựa mình sát nữa vào cây gai to. Vì em mặc
bộ quần áo màu xám và liền quần liền áo, nom em hình như
dính liền vào cái cây.
Ánh sáng ngày càng xuyên nhiều xuống dưới các búi cây
và những lùm cây lớn trong rừng rậm. Lớp thảm thực vật dưới
rừng trở thành những mảng vàng nhẹ nhõm. Từ những nơi ẩn
nấp đó nhiều thú hoang mới chui ra và tìm đến với cỏ với
nước.
Chẳng muốn làm ngáng trở những con thú đã có mặt ở đó,
những con mới tới tản khắp các vùng ven cánh rừng thưa. Có
những con tiến đến sát tấm màn thực vật phía sau đó có tôi
cùng Patrixia đang đứng. Nhưng ngay cả với những con thú
ấy, giờ đây tôi đã hiểu rằng chúng càng xa cách với tôi, ngoài
tầm tay với, khác nào những cánh đồng cỏ cho chúng ta là
những đồng tuyết lưu niên trên đỉnh Kilimanjarô nằm kia nơi
giới hạn của trời cao, của sớm mai và của thế giới.
- Quá xa… quá muộn… bé gái đã nói thế.
Tôi chẳng còn cách nào cưỡng lại niềm tin chắc chắn của
em bé, bởi vì khi nói thế em đã có đôi mắt nhìn cũng dịu hiền
như của con linh dương và cũng khôn ngoan như con khỉ bé tí.
Chợt tôi cảm được bàn tay của Patrixia nơi bàn tay tôi, và
tôi đã chẳng ngăn nổi một cái rùng mình, vì em tới bên tôi mà
không mảy may động đậy một ngọn cỏ một nhành lá. Chỏm
tóc em cao ngang tầm khuỷu tay tôi, và so với thân xác tôi em
thật nhỏ nhoi yếu đuối khôn cùng. Ấy thế nhưng, trong những
ngón tay nhỏ nứt nẻ và thô nắm lấy cổ tay tôi vẫn bộc lộ một ý
chí chở che tôi, an ủi tôi và Patrixia nói với tôi như nói với đứa
bé được người lớn định ban thưởng vì nó đã vâng lời, một sự
vâng lời khiến nó đau khổ:
- Có thể cháu sẽ dẫn chú tới một nơi khác. Ở đó chú sẽ hài
lòng, cháu hứa đấy.
Chỉ tới lúc đó tôi mới nhận ra cách nói đặc biệt của
Patrixia. Trước đó tôi mới chỉ thấy tâm trí mình ngạc nhiên
trước một nhân vật và một cung cách ứng xử. Nhưng lúc này
đây, tôi chợt thấy rằng cô bé đã dùng giọng nói theo cách thức
của những người không có quyền để lọt tai kẻ khác những gì
họ nói với nhau: bọn tù nhân, các kẻ đi rình mò, lũ người đi
gài bẫy. Tiếng nói không có độ rung, không âm hưởng, không
âm sắc, giọng nói không bộc lộ tình cảm, bí mật, giọng nói có
phần như là câm lặng.
Tôi cảm thấy rằng, một cách vô ý thức, tôi đã bắt chước
Patrixia trong lối hà tiện âm thanh đó.
Tôi bảo em:
- Có thể hiểu được rằng những con thú hoang dã nhất cũng
là bầu bạn của cháu.
Những ngón tay trẻ con đặt trên ngón tay tôi run rẩy vì
sung sướng. Bàn tay Patrixia chỉ còn là một bàn tay cô bé hạnh
phúc. Và khuôn mặt hướng về phía tôi, khuôn mặt rạng rỡ và
trong trẻo với đôi mắt to sẫm chợt sáng long lanh, ở khuôn mặt
ấy chỉ có sự thỏa thuê của một đứa trẻ vừa được nghe lời khen
nó ưng ý nhất đời.
- Chú biết không, - Patrixia nói (mặc dù xúc động đã khiến
đôi má sạm nắng của em bé ửng hồng, giọng nói của em vẫn
không âm vang và vẫn bí mật), - chú biết không, cha cháu quả
quyết rằng cháu hòa thuận với các con thú hơn cha cháu. Thế
mà, chú biết không, cha cháu đã từng sống cả đời với chúng.
Cha cháu quen biết chúng hết thảy. Ở Kênya và ở Uganđa, ở
Tanganiyka và ở Rôđêđi. Nhưng cha cháu nói rằng cháu khác
hẳn… Vâng, khác hẳn.
Patrixia gật gật đầu, mớ tóc cắt ngắn của em hơi vắt lên,
làm lộ phía trên của vầng trán càng hiền dịu và càng trắng trẻo.
Mắt em nhìn vào bàn tay tôi đang nắm gọn bàn tay em có
những móng tay sứt sở và có vệt đất bao quanh.
- Chú không phải thợ săn, - Patrixia nói.
- Chính vậy, - tôi nói, - nhưng làm sao cháu biết được?
Patrixia cười thầm.
- Ở đây, - bé nói, - chẳng ai giấu nổi cháu điều gì.
- Thế nhưng, - tôi nói, - chú chưa kịp nói chuyện với ai ở
đây hết, cũng chưa ai nhìn thấy chú hết.
- Chưa có ai? - Patrixia nói. - Thế Thauki thì sao, cái bác
làm công việc đón tiếp đã ghi tên chú vào sổ chiều qua ấy?
Còn Matra nữa, cái anh hầu mang hành lý cho chú ấy? Còn
Auôri, bác quét dọn gian lều cho chú nằm ấy?
- Những người da đen ấy, - tôi nói, - không thể biết nổi
chút gì về công việc của chú.
Trên nét mặt của Patrixia lại thấy vẻ tinh quái trẻ thơ đã
từng hiện ra rồi em cho tôi biết em là con gái.
- Còn anh lái xe của chú nữa? - Em hỏi. - Chú không kể
đến anh lái xe ư?
- Sao, Bôgô đấy ư?
- Bôgô biết rất rõ chú, - Patrixia nói. - Chẳng phải là từ hai
tháng nay anh ấy đã lái xe đưa chú đi các nước, cái xe chú thuê
ở Nairôbi ấy?
- Anh ta chẳng thể kể gì cho cháu nghe nhiều về chú, - tôi
nói. - Không còn ai lầm lì, ít lời hơn anh ta.
- Khi nói tiếng Anh, có thể như vậy, - Patrixia nói.
- Nghĩa là…
- Hẳn rồi, cháu biết nói tiếng Kikuyu cũng chẳng kém gì
anh ấy, - Patrixia giảng giải, - bởi vì chị hầu đầu tiên của cháu,
hồi còn bé tí, là người tộc Kikuyu. Và cháu còn biết cả tiếng
[1]
Xoahli , bởi vì dân bản địa thuộc tất cả các tộc đều biết nói
tiếng đó. Cháu biết cả tiếng Oakamba bởi vì người đưa đường
mà cha cháu ưng hơn cả là người tộc đó. Và cả tiếng Maxai
nữa, vì tộc người Maxai có quyền đi ngang và hạ trại trong
khu vườn này.
Patrixia vẫn tiếp tục mỉm cười, nhưng nụ cười đó chỉ biểu
lộ vẻ giễu cợt và vẻ bề trên. Một lần nữa nó lại phản ánh cái
niềm tin chắc chắn và thanh thản cùng những khả năng của
em, ấy là có thể giao tiếp được với những đời sống nguyên sơ
nhất theo những lề luật của cái vũ trụ riêng của chúng.
- Những người da đen ở đây thường tới kể cho cháu nghe
hết mọi chuyện, - Patrixia tiếp. - Cháu biết rõ công việc của họ
hơn cả cha cháu ấy. Cha cháu chỉ biết tiếng Xoahili, chưa kể
cha cháu nói ra cứ theo lối người da trắng. Cha cháu lại
nghiêm khắc nữa, nghề của cha cháu phải như vậy mà. Cháu
ấy à, cháu không khi nào mách lẻo cả. Người làm, người gác,
người phục dịch, ai ai cũng biết điều đó. Vì vậy nên họ có gì là
nói hết với cháu. Thauki, bác thư ký, nói rằng chú mang giấy
thông hành Pháp và chú ở Pari. Anh hầu mang hành lý nói với
cháu rằng va-li chú rất nặng vì rất nhiều sách. Anh hầu nhà
nghỉ bảo cháu: “Ông da trắng không thích anh đun nước nóng
cho ông tắm, và trước khi đi nghỉ ông chẳng ăn miếng gì vì
mệt quá”.
- Và chú sẽ còn ngủ, - tôi nói, - nếu như không có một vị
khách tới thăm đánh thức chú dậy rất sớm. Nhưng có khi vị
khách đó cũng tới báo cáo cháu rồi chưa biết chừng.
Tôi nói với Patrixia về con khỉ nhỏ và con linh dương bé tí
ti.
- Đúng rồi, Nicôlai và Xanhbơli đó, - Patrixia nói.
Trong đôi mắt em nhìn có chút âu yếm nhưng hơi có ý
khinh thường. Em bé nói thêm:
- Của cháu cả đấy. Thế nhưng chúng vẫn cho mọi người
vuốt ve, như vuốt ve con chó hoặc con mèo ấy.
- Ồ!… Thật thế ư? - Tôi nói.
Nhưng Patrixia hiểu sao nổi rằng em bé đã khiến tôi rầu
lòng khi em xếp hai sứ thần bí ẩn lúc bình minh đó của tôi vào
loại tầm thường và nô lệ.
- Đằng kia thì không như vậy, - bé em nói.
Cô bé chìa tay về phía những con vật tụ tập dọc theo khu
đồng cỏ và xung quanh những khu dự trữ nước dưới chân quả
núi lớn đầy tuyết và đầy mây. Bàn tay Patrixia run run và
giọng nói em cũng run run, và mặc dầu dù em cố giữ cho
giọng nói không âm vang và lạc âm sắc nhưng nó vẫn ròn rã,
hoặc ít ra cũng lộ vẻ đắm đuối mê say.
- Những con thú kia chẳng thuộc về ai hết, - Patrixia tiếp. Chúng không biết vâng lời. Ngay cả khi chúng đón nhận chú,
thì chúng vẫn tự do chứ không thuộc về chú. Muốn chơi với
chúng, chú phải biết rõ về gió, về mặt trời, về các đồng cỏ, biết
rõ vị các ngọn cỏ, các điểm nước. Và phải biết đoán tính khí
chúng. Và phải cẩn thận khi tới mùa chúng kết đôi với nhau và
phải lo tới sự an toàn của những đàn con. Ta phải biết lặng im,
biết đùa rỡn, biết chạy, biết thở cùng chúng.
- Cha cháu dạy cháu tất cả những điều đó chăng? - Tôi hỏi
- Cha cháu chẳng biết nổi một nửa những gì cháu biết, Patrixia trả lời. - Cha cháu không có thì giờ. Cha cháu quá già
rồi. Cháu học một mình, chỉ một mình thôi.
Patrixia chợt ngẩng mặt nhìn tôi, và tôi nhận ra trên khuôn
mặt nhỏ sạm nắng, bướng bỉnh và kiêu hãnh kia một tình cảm
dường như khó mà có ở đó được: một sự ngập ngừng gần như
là khiêm nhường.
- Chú à… chú cứ nói nhé… liệu chừng… cháu có làm cho
chú chán ngấy không nếu cháu cứ tiếp tục nói chuyện các con
thú mãi? - Patrixia hỏi.
Thấy tôi có vẻ ngạc nhiên, em bé nói tiếp rất nhanh:
- Mẹ cháu quả quyết rằng người lớn không thể nào thích
thú nổi các chuyện của cháu.
- Chú thì muốn dành cả ngày nghe những chuyện như thế,
- tôi đáp lại.
- Đúng đấy! Thật đấy!
Vẻ hứng khỏi của Patrixia làm tôi ngạc nhiên đến mức rất
thoải mái. Cô bé bấu chắc lấy bàn tay tôi. Những ngón tay em
nóng bỏng một cơn sốt đột ngột. Những móng tay em sứt sở
thành răng cưa bấu sâu vào da tôi. Tôi nghĩ bụng: những dấu
hiệu như vậy không chỉ biểu lộ một niềm vui vì đã thỏa thuê
một thách thức trẻ thơ. Chúng biểu lộ một đòi hỏi sâu sắc và
đứa trẻ không chịu chấp thuận cảnh luôn luôn phải thèm
thuồng. Ô hay, lẽ nào Patrixia mà cũng bị bắt buộc phải trả giá
cho các giấc mơ, các quyền lực của mình bằng sức nặng của
cô đơn?
Cô bé bắt đầu cất tiếng. Tiếng nói của em, mặc dù vẫn
nghẹt lại và đều đều, hoặc đúng hơn, chính vì vậy đã vang lên
tựa hồ một âm vang tự nhiên của rừng rậm.
Giọng nói em giữ thăng bằng lơ lửng giữa lao động tư duy
và sự cố gắng bất lực thâm nhập vào một điều duy nhất quan
trọng: bí ẩn của sự sáng tạo và của tạo vật. Giọng nói em mang
bộ mặt mê mẩn của xao động và âu lo, cũng tựa hồ như những
ngọn cỏ cao và những búi sậy mọc hoang mang bộ mặt của
những cơn gió êm đềm nhất, khiến từ trong lòng chúng thốt ra
tiếng rì rào kỳ diệu muôn thuở mà luôn luôn mới mẻ.
Cái tiếng nói ấy chẳng còn ích gì hết cho một quan hệ chật
chội và vô vị của con người. Nó có khả năng tạo ra một quan
hệ, một sự đổi trao giữa một bên là cảnh cùng khốn của con
người, cảnh tù túng nội tại của con người, với một bên là
vương quốc chân lý, tự do, vô tư đang nảy nở rạng rỡ trong
buổi sớm mai nơi châu Phi.
Từ những cuộc chạy chơi nào khắp khu Vườn hoàng gia,
và từ những đêm thức canh chừng nào giữa các bụi gai, nhờ sự
cảnh giác vô tận nào và nhờ sự thân tình bí ẩn nào mà Patrixia
đã có được những kinh nghiệm giờ đây em bộc bạch cùng tôi?
Những bầy thú cấm đoán đối với mọi người kia đã trở thành
cái xã hội quen thuộc của em. Em biết rõ các bầy, các đàn, các
nhân vật. Em thâm nhập được vào đó, ở đó em có các thói
quen, có các kẻ thù, có các thứ em nâng niu yêu quý.
Em biết rõ con trâu kia trước mặt chúng tôi đang đầm mình
trong bùn lỏng, tính nết nó rất hung hãn. Em biết rõ con voi
già kia với đôi ngà gãy, nó nghịch ngợm ngang với con voi
non nhất trong bầy, Còn con voi cái vợ nó với bộ da màu xám
gần như đen, cái con voi lúc này đang lấy vòi lùa đàn con
xuống nước, tính ưa sạch sẽ của nó gần như là một căn bệnh.
Giữa đàn linh dương mỗi con mang trên bộ lông vàng ở
sườn một vệt đen hình mũi tên kia, đó là những con linh
dương thuộc loại duyên dáng nhất và ...
Joseph Kessel
Making Ebook Project
BOOKAHOLIC CLUB
Tên sách: SƯ TỬ
Tác giả: Joseph Kessel
Nguyên tác: Le lion
Dịch giả: Châu Diên
Nhà xuất bản: Văn Học
Năm xuất bản: 1993
Số trang: 328
Khổ sách: 13 x 19 cm
Giá bìa: 13.000 đồng
Đánh máy: Thùy An, Nguyễn Ngọc Quỳnh Trang, Thùy Ty,
Quan Trường, Phương Lan, Lan Nguyễn, Cường
Kiểm tra: Hannah Le
Ảnh bìa: Hanki Nguyễn
Chế bản ebook: Thảo Đoàn
Ngày thực hiện: 30/08/2012
Making Ebook Project #258 - www. BookaholicClub. com
Bạn đang đọc ebook SƯ TỬ của tác giả Joseph Kessel do
Bookaholic Club chế bản theo Dự án chế bản Ebook
(Making Ebook Project).
Mong rằng ebook này sẽ mang đến cho bạn một tác phẩm
Văn học hay, giàu giá trị biểu cảm và nhân văn, với chất lượng
cao. Chúng tôi luôn cố gắng mang đến những chế bản ebook
tốt nhất, nếu trong quá trình chế bản có lỗi sai sót nào mong
bạn góp ý và cho chúng tôi biết những ebook mà đang mong
muốn.
Making Ebook Project của Bookaholic Club là một hoạt
động phi lợi nhuận, nhằm mục đích mang đến những chế bản
ebook hay, có giá trị với chất lượng tốt nhất mà chúng tôi có
thể với Cộng đồng đọc - người Việt. Tuy nhiên, nếu bạn có
khả năng xin hãy đọc tác phẩm này bằng sách trước hết vì lợi
ích cho Nhà xuất bản, bản quyền tác giả và góp phần phát triển
xây dựng nền Văn hóa đọc.
Hãy chỉ đọc chế bản này trong điều kiện bạn không
thể tìm đến ấn phẩm sách.
MỤC LỤC
GIỚI THIỆU TÁC GIẢ
TRƯỚC KHI VÀO TRUYỆN
PHẦN THỨ NHẤT
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
XIII
XIV
PHẦN THỨ HAI
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
XIII
XIV
XV
GIỚI THIỆU TÁC GIẢ
Joseph Kessel sinh ra ở Clara, Achentina, ngày 10-021898. Cha ông là người Nga gốc Do Thái chạy trốn sự truy nã
của Sa hoàng, sang Pháp học ngành Y. Nước Pháp trở thành
Tổ quốc tinh thần của gia đình Kessel từ đấy. Bác sĩ Kessel
tình nguyện đi làm thầy thuốc cho một khu di dân nông nghiệp
Do Thái ở Achentina, và Joseph Kessel ra đời ở Tân Thế Giới.
Khi gia đình trở về Pari, Joseph chuẩn bị thi cử nhân văn
khoa trong khi vẫn mơ ước trở thành một diễn viên hài kịch.
Nhưng một dịp tốt đã đến, cho phép ông làm việc tại tòa báo
Journal des débats, tờ báo hàng ngày có uy tín nhất ở Pari. Ở
tòa báo, người ta vẫn còn thấy chiếc ghế bành của
Chateaubriand để đó.
Thế rồi chiến tranh xảy ra, và vừa đúng lúc mười tám tuổi,
ông bỏ hẳn sân khấu và tạm thời bỏ nghề báo để làm phi công.
Chính trong nghề này mà ông tìm thấy nguồn cảm hứng cho
tiểu thuyết Phi đoàn. Nhà phê bình Henry Clouard cho rằng
Kessel là người đầu tiên viết mảng văn học về hàng không.
Năm 1919, Kessel tình nguyện sung vào quân đội viễn
chinh của Pháp sang Siberi. Ông đã kể lại chuyến đi ấy trong
tiểu thuyết Thời hoang dã. Ông trở về qua Trung Quốc, Ấn Độ
và khép lại vòng đi thế giới đầu tiên.
Sau đó, ông luôn luôn ở vị trí hàng đầu thuận lợi cho việc
quan sát thời sự. Ông tham gia cuộc nổi dậy của Ái Nhĩ Lan
chống lại nước Anh. Ông được chứng kiến những bước đầu
của chủ nghĩa phục quốc Do Thái. Hai mươi năm sau, ông
nhận được giấy nhập cảnh vào nước Ixraen non trẻ, tờ visa
mang số 1. Ông đi theo những người buôn nô lệ cuối cùng trên
biển Đỏ cùng với Henri de Monfreid. Ông được thấy những
bước đầu của bưu điện Hàng không cùng với Mermoz và Sain
Exupery. Ở nước Đức đang thời biến động, ông gặp “người
đàn ông mặc áo đen xoàng xĩnh, chẳng có vẻ gì lịch sự, chẳng
có vẻ gì quyền thế, chẳng có chút gì ưa nhìn, của một người
đàn ông nào đó, vẻ buồn buồn và khá tầm thường”. Người đó
là Hitler.
Sau cuộc chiến năm 40 mà ông bắt đầu trong một trung
đoàn công binh và kết thúc ở vị trí một phi công của nước
Pháp tự do, Joseph Kessel lại trở về nghề văn và nghề báo.
Ông được bầu và Viện Hàn Lâm Pháp tháng 11 năm 1962.
Ông mất năm 1979.
Joseph Kessel là tác giả của hơn hai mươi tiểu thuyết và
truyện như: Phi đoàn, Những trái tim trong trắng, Sư tử, Tiểu
đoàn trên không, Đoàn quân bóng tối, Chợ nô lệ, Người đàn
bà đi qua quán cà phê…
TRƯỚC KHI VÀO TRUYỆN
Tôi dâng tặng tiểu thuyết này tới cơ quan quản trị các
Vườn quốc gia Kênya đã có công bảo tồn sự sống hoang dã
miền đông Phi châu cho các thế hệ tới, để ca ngợi lòng tận tụy
nhiệt thành của những con người gánh vác trách nhiệm các
khu bảo tồn đó, đặc biệt để ca ngợi bạn tôi, ông giám đốc
Tabêrê, trong ngôi nhà anh tôi đã phác họa xong chủ đề câu
chuyện này.
Các sự kiện trong câu chuyện diễn ra tại bảo tồn Ambôlêsi.
Hẳn là mỗi khu vườn quốc gia đều có một vị giám đốc. Thế
nhưng tính các vị giám đốc trong cuốn sách này cũng như tính
các bà vợ và cô con gái ông lại hoàn toàn do tác giả tạo ra. Là
các nhân vật tiểu thuyết, các tính cách đó chẳng có chút gì
chung với gia đình Tabêrê cả. Dẫu sao tôi cũng ngỏ lời cám ơn
anh vì anh đã chia sẽ với tôi những kinh nghiệm lâu đời và
hiếm hoi của anh về các giống thú hoang. Không được anh
giúp sức, cuốn sách này hẳn đã không thể nào ra đời.
PHẦN THỨ NHẤT
I
Phải chăng nó đã vành mi mắt tôi để coi thử trong đó có
gì? Tôi không thể đoán chắc điều đó. Khi thức giấc, rõ ràng tôi
đã thấy như là có một ngọn bút lông mềm và nhám dạo dọc
khuôn mặt mình, thế nhưng khi tỉnh dậy hẳn thì tôi lại thấy nó
đang ngồi rất ngoan ở ngang tầm cái gối và nhìn tôi chăm chú.
Tầm vóc nó không lớn hơn một sọ dừa. Bộ lông mọc ngắn
của nó có màu vỏ dứa khô. Với bộ lông như thế từ đầu ngón
chân tới đỉnh hộp sọ, trông nó như thể mặc lông dệt. Riêng cái
mặt lại phủ bằng một thứ mặt nạ satanh đen, xuyên qua đó
long lanh hai giọt nước: đôi con mắt.
Trời chưa rạng hẳn, nhưng cây đèn bão đêm qua tôi quên
tắt vì mệt cũng đủ sáng để tôi nhìn thấy rành rành trên nền
tường vôi trắng vị sứ giả bất ngờ đó của bình minh.
Vài giờ sau, sự hiện diện của nó hẳn sẽ là chuyện bình
thường đối với tôi. Nó có cả bầy sống trên những cây cao xung
quanh gian lều; nhiều gia đình đông đủ giỡn chơi trên cùng
một cành cây. Nhưng bữa qua, lúc chiều sẩm tối mới tới đây,
người kiệt lực. Vì vậy, vào lúc này, tôi đã nín thở mà nhìn con
khỉ tí xíu ngồi rất gần mặt tôi.
Cả nó cũng không nhúc nhích. Cả đôi giọt nước bên trong
cái mặt nạ satanh đen cũng bất động.
Trong đôi mắt nhìn ấy không thấy sợ sệt, nghi kỵ và cả tò
mò nữa. Tôi chỉ là đối tượng cho một sự xem xét nghiêm túc,
vô tư.
Thế rồi cái đầu dệt lông ấy, to bằng nắm tay trẻ nhỏ ở tuổi
còn nằm trong nôi, bỗng ngoẹo về bên trái. Đôi mắt khôn
ngoan lộ ra một vẻ buồn rầu, thương hại. Nhưng đó là buồn
thương cho tôi.
Tưởng chừng đôi mắt ấy mong muốn cho tôi những
chuyện tốt lành, muốn đem cho tôi một lời khuyên. Nhưng lời
khuyên gì vậy?
Lúc đó hẳn tôi đã có một cử động vô ý. Thế là cái nắm tròn
màu ngà ngà vàng đó nhảy vụt lên, bay từ bàn này sang ghế
kia cho tới khung cửa sổ để ngỏ, và tan biến đi trong sương
mù buổi sáng.
Quần áo đi rừng của tôi từ đêm qua vứt đó vẫn y nguyên
dưới đất cạnh chân giường, gần cây đèn bão.
Tôi lấy mặc vào và đi ra ngoài hiên.
Bữa chiều qua, mặc dù trời tối mù mịt, tôi nhớ rằng có để ý
thấy những bụi gai lớn bao quanh gian lều mình ở, và trước
lều là một cánh rừng thưa mênh mông chạy dài hút trong màn
đêm bí ẩn. Nhưng lúc này sương mù đã che kín hết. Vật chuẩn
duy nhất cho tôi chỉ còn ngay trước mặt tôi, nối với trời cao
trên nóc thế giới, cái bàn khổng lồ chứa tuyết vĩnh cửu quanh
đỉnh núi Kilimanjarô.
Một tiếng động giống như có ai lăn vội những con xúc xắc
đã khiến tôi ngoảnh nhìn về những bậc cầu thang gỗ thô dẫn
tới hàng hiên. Một con linh dương thong thả, ung dung leo lên
các bậc tam cấp.
Một con linh dương thực sự, nhưng rất nhỏ xinh, tai nó
không chấm đầu gối tôi, sừng giống như những lá thông, và vó
chỉ to bằng móng tay.
Con vật kỳ diệu chui từ sương mù ra ấy chỉ dừng lại khi
gặp mắt cá chân tôi và nó ngẩng mõm lên với tôi. Tôi khom
xuống hết sức thận trọng và chìa bàn tay về phía cái đầu gọt
giũa hết sức đẹp đẽ, hết sức tinh tế. Con linh dương nhỏ không
cựa quậy. Tôi sờ vào hai cánh mũi nó, ve vuốt chúng.
Nó để mặc tôi, mắt nó nhìn chăm chú vào mắt tôi. Và trong
vẻ trìu mến câm lặng của đôi mắt ấy tôi thấy có điều gì đó
cũng hệt như khóe nhìn đến là buồn và đến là khôn ngoan của
chú khỉ con. Cả lần này nữa, tôi cũng không đủ khả năng để
hiểu.
Dường như muốn tạ lỗi vì không nói được, con linh dương
liếm các ngón tay tôi. Rồi nói khẽ khàng gỡ mồm khỏi tay tôi.
Sau đó, vó chân nó lại tạo ra trên bậc thang gỗ tiếng những
quân xúc xắc lăn đi. Nó đi khuất.
Tôi chỉ còn có một mình.
Nhưng trải qua mấy giây lát ấy, bình minh nhiệt đới vốn
ngắn ngủi lạ lùng đã nhường chỗ cho rạng đông.
Từ trong lòng bóng tối, ánh sáng đột ngột vọt ra, lộng lẫy,
sáng lóa, rạng rỡ. Tất cả bừng lên, long lanh, lấp lánh.
Những mũi tên hồng xuyên qua tuyết trên đỉnh
Kilimanjarô.
Khối sương mù dày đặc bị sức nóng mặt trời đào bới, phá
phách, hút đi, đã tản ra thành những màng mỏng, thành cột,
thành cuộn, thành đường xoắn, thành những khối, những giải,
những sợi, và thành vô vàn hạt nhỏ tựa như bột kim cương.
Cỏ lúc thường, khô cứng và màu vàng, lúc này trông mềm
ra và lộng lẫy sương mai.
Trên những cây mọc rải quanh lều tôi ở, ngọn cây có
những chùm gai lúc này đã được chuốt bóng lại, chim đang
hót và khỉ đang kêu choe chóe.
Và đằng trước hàng hiên, khói sương dần dần tan biến để
mở ra một khoảng ngắt xanh càng vô cùng khoáng đãng và bí
ẩn, và tít sâu trong đó vẫn còn những đám mây nho nhỏ mới tụ
đang chập chờn bay và đến lượt chúng cũng lại bốc đi nốt.
Tấm màn này vén lên tiếp tấm màn kia, trái đất mở màn
diễn những trò ban ngày và của muôn loài.
Sau hết, ở cuối cánh rừng thưa, nơi vẫn còn bám lại một
dải sương mờ nhẹ như lông tơ, thấy có bóng nước long lanh.
Hồ? Ao? Hay đầm nước lầy? Không phải loại nào cả, mà
chỉ là một vùng nước rộng. Bên dưới hẳn là có những mạch
nước ngầm yếu ớt và nước không đủ sức lan xa hơn nữa, chỉ
run rẩy lăn tăn giữa những đám cỏ cao, giữa những lau sậy và
những bụi cây rậm rạp.
Những con thú tụ tập bên đầm nước.
Trong chuyến viễn du tôi vừa thực hiện tại vùng Đông
Châu Phi, dọc theo các con đường lớn và đường mòn - Kivu,
Tanganyika, Uganda, Kenya - tôi đã thấy nhiều con thú đó.
Những bầy thú bị tiếng xe ầm ầm xua đuổi tan tác, những
bóng hình thoăn thoắt, hốt hoảng, rồi biến mất.
Đôi khi tôi cũng có dịp rình trong giây lát một con thú
hoang, việc đó chỉ thực hiện được từ rất xa hoặc kín đáo, có
thể nói là xem trộm cũng được.
Tôi đã chiêm ngưỡng những tư thế của những sinh mệnh tự
do và thuần khiết ở chốn rừng rậm khô khan với một tình cảm
đặc biệt pha lẫn thèm khát, hào hứng, ước ao và thất vọng.
Dường như được gặp lại một thiên đường tôi từng mơ ước,
từng quen biết từ thuở nào không còn nhớ nổi. Tôi đã kề
ngưỡng cửa thiên đường ấy mà không thể vượt qua.
Hết gặp gỡ này sang gặp gỡ khác, tôi chợt thấy có nhu cầu
- hẳn là một nhu cầu - trẻ con nhưng ngày càng thúc bách được thấy mình nhập vào cõi hồn nhiên trong trắng của những
buổi đầu đã rất xa xưa của thế giới.
Vì thế, trước khi trở lại châu Âu, tôi đã quyết định ghé qua
một trong những Vườn hoàng gia xứ Kênya, những khu bảo
tồn có những luật lệ cực kỳ khắt khe chở các thú hoang được
sống trong tất cả các hình thái đời sống của chúng.
Và giờ đây, chúng kia rồi.
Không phải những con thú tỉnh táo, nghi kỵ vì sợ sệt mà tụ
tập thành bầy, thành đàn, thành đám theo giòng, theo giống,
theo ngành, mà là những con thú hòa lẫn với nhau giữa cảnh
yên lành, vô tư buông thả trong đầm nước, những con thú sống
yên bình với rừng rậm, với chính chúng nó, và với hừng đông.
Tôi đứng khá xa nên không thề nhìn rõ từng cử động của
chúng hoặc hòa sắc các màu lông và da của chúng, nhưng
không vì đứng xa như vậy mà không thấy rằng bầy thú đông
có tới hàng trăm hàng nghìn con, đủ các loại chen chúc bên
nhau, và trong khoảng khắc sống đó chúng không biết thế nào
là sợ hãi hoặc vội vã.
Những linh dương, sơn dương, hươu cao cổ, linh dương
đầu bò, ngựa vằn, tê giác, trâu, voi - những con thú dừng chân
hoặc chuyển dịch tùy sở thích, tùy cơn khát, thả mặc cho sự
tình cờ.
Mặt trời vẫn còn dịu, soi xiên những tầng tuyết chất trên
đỉnh núi Kilimanjarô. Gió nhẹ sớm mai đùa rỡn với những
cụm mây mỏng còn sót lại. Được chút rớt sương mù rắc lên,
những mảng nước và đồng cỏ tràn ngập mồm thú và những
cánh mũi thú, những lườn thẫm màu, vàng, vằn, những sừng
thẳng nhọn, vểnh hoặc to sù, và những vòi những ngà, tạo
thành một tấm thảm hoang đường treo bên trái núi lớn Phi
châu.
Tôi không rõ mình đã rời hàng hiên và ra đi vào lúc nào.
Tôi chẳng còn chủ động nổi nữa. Tôi cảm thấy mình bị vẫy gọi
bởi những con thú để đi tới một cõi phúc đã có từ trước khi có
con người.
Tôi theo con đường mòn ven cánh rừng thưa, dọc theo tấm
màn che những cây và những bụi. Tôi càng đi tới, vẻ thần tiên
chẳng những không đổi thay, không tan biến, mà càng phong
phú thêm, càng thêm chất thực.
Mỗi bước tôi đi lên khiến tôi nhìn rõ hơn chúng, có biết
bao nhiêu ngành, những đường nét tinh tế cũng đa dạng biết
bao, sức mạnh của chúng cũng khác nhau biết chừng nào. Tôi
đã nhìn được rõ những bộ lông linh dương, những đầu trâu hãi
hùng, và những con voi như những tảng đá hoa cương.
Chúng vẫn đang gặm cỏ, đang hít nước, đang lang thang
búi này sang búi khác, vũng này sang vũng khác. Còn tôi cũng
tiếp tục đi. Vậy mà chúng vẫn cứ còn đó trong cảnh yên bình
của chúng, ở nơi chúng ngự trị, mỗi lát giây chúng càng thực
hơn, càng gần tầm tay tôi hơn. Tôi đã đi tới bìa rừng cây gai.
Chỉ cần tôi bước ra khỏi các bụi gai kín đáo, bước vào vùng
đất ẩm và long lanh nước, là tôi sẽ làm bạn được với những
con thú hoang trên miền đất riêng của chúng.
Không còn có gì ngăn tôi lại nữa. Những phản xạ vì thận
trọng, vì muốn được bảo toàn đã không còn nữa, nhường chỗ
cho một bản năng vừa thầm kín vừa mạnh mẽ, đang đẩy tôi
qua một vũ trụ khác hẳn.
Và bản năng đó đang sắp được thỏa mãn.
Đúng vào lúc ấy, có một lời cảnh cáo thầm trong lòng
khiến tôi dừng bước. Có một sự hiện diện gần kề đã chống lại
ý định của tôi. Đó không phải là sự hiện diện của một con vật.
Lúc này đây, tôi đã thuộc về thế giới của chúng rồi, tôi đã ở
trong vùng hạ trại của chúng rồi. Cái sinh mệnh mà tôi đoán
chừng ra - nhưng không rõ vì giác quan nào? - thuộc về giống
người.
Khi ấy tôi nghe thấy những tiếng sau, nói bằng tiếng Anh:
- Chú không được đi xa hơn.
Cái bóng người mảnh mai tôi chợt nhận ra dưới bóng một
bụi gai khổng lồ chỉ cách tôi chừng vài ba bước là nhiều.
Bóng người đó không tìm cách trốn lánh. Nhưng vì nó
hoàn toàn bất động và lại mặc một chiếc quần có yếm màu
xám đậm, nên dường như đã nhập làm một với cái thân cây nó
đang tựa vào.
Trước mặt tôi là một em bé khoảng chục tuổi, đầu để trần.
Một mái tóc đen cắt tròn che kín vầng trán. Khuôn mặt tròn,
sạm nắng, da rất nhẵn. Cái cổ dài và mảnh dẻ. Đôi mắt nâu to
dường như chẳng nhìn thấy tôi, vẫn đang nhìn không chớp vào
bầy thú.
Vì đôi mắt đó mà tôi có một cảm giác rất khó xử là đã bị
bắt gặp vào lúc mình còn tỏ ra trẻ dại hơn đứa trẻ con ấy.
Tôi khẽ hỏi lại:
- Không được tới kia ư? Cấm à?
Cái đầu tóc tròn khẽ gật, nhưng đôi mắt vẫn bám lấy
những vận động của các con thú.
Tôi lại hỏi:
- Đúng thế không?
- Còn ai biết rõ hơn cháu nữa? Cha cháu là giám đốc khu
Vườn hoàng gia này.
- Chú hiểu hết rồi, - tôi nói. - Ông giám đốc đã cử cậu con
trai giám sát tôi.
Thế là đôi mắt nâu to ngước nhìn tôi. Lần đầu tiên tôi được
thấy khuôn mặt nhỏ sạm nắng lộ ra một vẻ phù hợp với lứa
tuổi.
- Chú nhầm rồi, cháu đâu phải con trai, đứa nhỏ mang quần
có yếm màu xám nói. Cháu là con gái, và tên cháu là Patrixia.
II
Đó không phải lần đầu tiên Patrixia làm ngạc nhiên một
khách thăm như vậy. Vẻ tinh quái đắc thắng trên nét mặt em
cho thấy rõ điều đó.
Đồng thời, và hẳn cũng để khách tin hoàn toàn, nụ cười,
mắt nhìn, cái ngoẹo cổ, tất cả rộn lên một bản năng quyến rũ
muôn thuở mà thơ ngây, khiến cho cái bóng trẻ thơ kia mang
đúng màu vị đàn bà.
Còn tôi hẳn cũng phải có được cú choáng đó để trở lại
được với cái thực: kia, một em bé gái, một thân một mình,
trong rừng rậm, vào lúc bình minh, cách những con thú có vài
bước chân. Tôi nói:
- Bố mẹ cháu cho cháu đi chơi sớm và xa thế ư?
Patrixia không đáp lại. Những đường nét trên người em lại
bất động và nghiêm trang, khiến em lại trở về dáng dấp một
cậu trai. Em ngắm nhìn đàn thú hoang, cơ hồ như tôi chưa
từng có mặt ở đó.
Lúc này, từ những mạch cao của hừng đông, ánh sáng trút
xuống chan hòa và rung động. Bầy thú quanh vùng nước lốm
đốm ánh mặt trời nom càng dày đặc hơn, càng thực hơn.
Cái ước vọng đã run rủi tôi tới đó bỗng lại trỗi lên mạnh
mẽ hết sức. Đến phút cuối cùng, một em bé gái làm sao có thể
tước đoạt nổi của tôi điều đó. Tôi dấn một bước về phía cánh
rừng thưa.
Patrixia vẫn không quay đầu lại, nhưng nói:
- Chú không được đi tới đó.
- Cháu sẽ cho cha cháu biết và cha cháu sẽ đuổi chú khỏi
khu vườn chứ gì? - Tôi hỏi.
- Cháu không phải đứa mách lẻo, - Patrixia nói.
Em bé nhìn tôi thách thức. Danh dự trẻ thơ đầy tràn trong
đôi mắt ấy.
- Vậy cháu lo hộ chú sao? - Tôi hỏi nữa.
- Chú đủ lớn để tự biết giữ gìn, còn chuyện gì xảy ra cho
chú, cháu đâu cần biết, - Patrixia nói.
Cớ sao một khuôn mặt chưa có vết nhăn và tươi mát đến
thế lại có khả năng thay đổi như vậy? Và đột nhiên lãnh đạm
đến mức độc ác như vậy? Em bé gái đó ít quan tâm tới những
gì có thể xảy ra với tôi vì các cẳng vó, vì các ngà và sừng thú
vật. Hẳn cô bé có thể không chút rung động nhìn tôi bị giày
xéo, xổ ruột.
- Thế thì, tôi hỏi, thế thì tại sao cháu lại bảo chú…
- Chẳng có gì khó hiểu cả, - Patrixia nói.
Trí óc chậm hiểu của tôi bắt đầu làm cho cô bé khó chịu
cáu kỉnh. Trong đôi mắt to sâu thẳm của cô bé có những tia
sáng lóe lên.
- Hẳn chú phải thấy rằng, - cô bé nói tiếp, - các con thú
đang sống với nhau bình yên, thoải mái. Lúc này là thời gian
đẹp nhất trong ngày của chúng.
Phải chăng đó là do ảnh hưởng của thời khắc, của khung
cảnh? Từ cô bé tí tẹo kia tỏa ra một quyền lực đặc biệt. Đôi
lúc, dường như cô bé có hẳn một niềm tin chắc chắn và biết rõ
một chân lý chẳng liên quan gì với số tuổi đời của em cũng
như với các thông lệ của lý trí. Dường như cô bé đứng xa hẳn
các thói quen trí tuệ của con người.
- Chú chẳng muốn làm cho các con thú hoảng sợ, - tôi nói
với em bé. - Chú chỉ muốn sống cùng chúng một chút, sống
như chúng một chút.
Patrixia nhìn chăm chú và hồ nghi để đánh giá tôi.
- Chú yêu chúng thật à? - Bé hỏi tôi.
- Chắc là như vậy.
Đôi mắt to sâu thẳm bất động một giây lâu. Sau, trên
khuôn mặt nhạy cảm cực kỳ đó rạng rỡ một nụ cười tin cậy.
- Cháu cũng chắc là như vậy, - Patrixia nói.
Tôi thấy khó mà lý giải nổi vì sao nụ cười ấy cùng câu trả
lời ấy lại khiến tôi vui. Tôi bèn hỏi:
- Thế chú đi được chứ?
- Không, - Patrixia nói.
Bên trên cái cổ dài và mềm mại, cái đầu có mớ tóc cắt tròn
nhấn mạnh cho điều chối từ kia bằng cử động rất dịu dàng,
nhưng dứt khoát.
- Vì sao vậy? - Tôi hỏi.
Patrixia không chịu trả lời ngay. Bé tiếp tục im lặng ngó
nhìn tôi và suy tư. Và trong đôi mắt em tỏ ra có rất nhiều thiện
cảm. Nhưng đó là một nỗi thiện cảm có tính chất đặc biệt. Vô
tư, trang trọng, đầy sầu muộn, gợi mủi lòng và bất lực không
sao cứu giúp được.
Tôi đã từng thấy cái vẻ lạ kỳ đó. Ở đâu vậy? Tôi chợt nhớ
lại con khỉ bé tí tẹo và con linh dương nhỏ xíu đã tới thăm tôi
trong gian lều. Nỗi buồn bí ẩn trong đôi mắt động vật, tôi lại
thấy trong đôi mắt Patrixia, trong đáy sâu đôi mắt to và sẫm
kia. Nhưng ở em bé gái này em biết đường nói ra.
- Các con thú không cần tới chú, - sau cùng Patrixia nói. Nếu có chú, chúng không được nô giỡn yên bình, tự do, chúng
thích như thế, chúng quen như thế.
- Nhưng chú yêu chúng, - tôi nói, - và cháu biết chắc là
như vậy.
- Cũng chẳng ăn thua gì, - Patrixia cãi lại, - chúng đâu phải
là của dành riêng cho chú. Có thế mà chú lại không hiểu. Chú
không được đi!
Em bé cố tìm cách diễn đạt sao cho tôi hiểu, em khẽ nhún
đôi vai mảnh dẻ, và lại nói:
- Chú từ rất xa tới, và cũng quá muộn rồi.
Patrixia càng tựa mình sát nữa vào cây gai to. Vì em mặc
bộ quần áo màu xám và liền quần liền áo, nom em hình như
dính liền vào cái cây.
Ánh sáng ngày càng xuyên nhiều xuống dưới các búi cây
và những lùm cây lớn trong rừng rậm. Lớp thảm thực vật dưới
rừng trở thành những mảng vàng nhẹ nhõm. Từ những nơi ẩn
nấp đó nhiều thú hoang mới chui ra và tìm đến với cỏ với
nước.
Chẳng muốn làm ngáng trở những con thú đã có mặt ở đó,
những con mới tới tản khắp các vùng ven cánh rừng thưa. Có
những con tiến đến sát tấm màn thực vật phía sau đó có tôi
cùng Patrixia đang đứng. Nhưng ngay cả với những con thú
ấy, giờ đây tôi đã hiểu rằng chúng càng xa cách với tôi, ngoài
tầm tay với, khác nào những cánh đồng cỏ cho chúng ta là
những đồng tuyết lưu niên trên đỉnh Kilimanjarô nằm kia nơi
giới hạn của trời cao, của sớm mai và của thế giới.
- Quá xa… quá muộn… bé gái đã nói thế.
Tôi chẳng còn cách nào cưỡng lại niềm tin chắc chắn của
em bé, bởi vì khi nói thế em đã có đôi mắt nhìn cũng dịu hiền
như của con linh dương và cũng khôn ngoan như con khỉ bé tí.
Chợt tôi cảm được bàn tay của Patrixia nơi bàn tay tôi, và
tôi đã chẳng ngăn nổi một cái rùng mình, vì em tới bên tôi mà
không mảy may động đậy một ngọn cỏ một nhành lá. Chỏm
tóc em cao ngang tầm khuỷu tay tôi, và so với thân xác tôi em
thật nhỏ nhoi yếu đuối khôn cùng. Ấy thế nhưng, trong những
ngón tay nhỏ nứt nẻ và thô nắm lấy cổ tay tôi vẫn bộc lộ một ý
chí chở che tôi, an ủi tôi và Patrixia nói với tôi như nói với đứa
bé được người lớn định ban thưởng vì nó đã vâng lời, một sự
vâng lời khiến nó đau khổ:
- Có thể cháu sẽ dẫn chú tới một nơi khác. Ở đó chú sẽ hài
lòng, cháu hứa đấy.
Chỉ tới lúc đó tôi mới nhận ra cách nói đặc biệt của
Patrixia. Trước đó tôi mới chỉ thấy tâm trí mình ngạc nhiên
trước một nhân vật và một cung cách ứng xử. Nhưng lúc này
đây, tôi chợt thấy rằng cô bé đã dùng giọng nói theo cách thức
của những người không có quyền để lọt tai kẻ khác những gì
họ nói với nhau: bọn tù nhân, các kẻ đi rình mò, lũ người đi
gài bẫy. Tiếng nói không có độ rung, không âm hưởng, không
âm sắc, giọng nói không bộc lộ tình cảm, bí mật, giọng nói có
phần như là câm lặng.
Tôi cảm thấy rằng, một cách vô ý thức, tôi đã bắt chước
Patrixia trong lối hà tiện âm thanh đó.
Tôi bảo em:
- Có thể hiểu được rằng những con thú hoang dã nhất cũng
là bầu bạn của cháu.
Những ngón tay trẻ con đặt trên ngón tay tôi run rẩy vì
sung sướng. Bàn tay Patrixia chỉ còn là một bàn tay cô bé hạnh
phúc. Và khuôn mặt hướng về phía tôi, khuôn mặt rạng rỡ và
trong trẻo với đôi mắt to sẫm chợt sáng long lanh, ở khuôn mặt
ấy chỉ có sự thỏa thuê của một đứa trẻ vừa được nghe lời khen
nó ưng ý nhất đời.
- Chú biết không, - Patrixia nói (mặc dù xúc động đã khiến
đôi má sạm nắng của em bé ửng hồng, giọng nói của em vẫn
không âm vang và vẫn bí mật), - chú biết không, cha cháu quả
quyết rằng cháu hòa thuận với các con thú hơn cha cháu. Thế
mà, chú biết không, cha cháu đã từng sống cả đời với chúng.
Cha cháu quen biết chúng hết thảy. Ở Kênya và ở Uganđa, ở
Tanganiyka và ở Rôđêđi. Nhưng cha cháu nói rằng cháu khác
hẳn… Vâng, khác hẳn.
Patrixia gật gật đầu, mớ tóc cắt ngắn của em hơi vắt lên,
làm lộ phía trên của vầng trán càng hiền dịu và càng trắng trẻo.
Mắt em nhìn vào bàn tay tôi đang nắm gọn bàn tay em có
những móng tay sứt sở và có vệt đất bao quanh.
- Chú không phải thợ săn, - Patrixia nói.
- Chính vậy, - tôi nói, - nhưng làm sao cháu biết được?
Patrixia cười thầm.
- Ở đây, - bé nói, - chẳng ai giấu nổi cháu điều gì.
- Thế nhưng, - tôi nói, - chú chưa kịp nói chuyện với ai ở
đây hết, cũng chưa ai nhìn thấy chú hết.
- Chưa có ai? - Patrixia nói. - Thế Thauki thì sao, cái bác
làm công việc đón tiếp đã ghi tên chú vào sổ chiều qua ấy?
Còn Matra nữa, cái anh hầu mang hành lý cho chú ấy? Còn
Auôri, bác quét dọn gian lều cho chú nằm ấy?
- Những người da đen ấy, - tôi nói, - không thể biết nổi
chút gì về công việc của chú.
Trên nét mặt của Patrixia lại thấy vẻ tinh quái trẻ thơ đã
từng hiện ra rồi em cho tôi biết em là con gái.
- Còn anh lái xe của chú nữa? - Em hỏi. - Chú không kể
đến anh lái xe ư?
- Sao, Bôgô đấy ư?
- Bôgô biết rất rõ chú, - Patrixia nói. - Chẳng phải là từ hai
tháng nay anh ấy đã lái xe đưa chú đi các nước, cái xe chú thuê
ở Nairôbi ấy?
- Anh ta chẳng thể kể gì cho cháu nghe nhiều về chú, - tôi
nói. - Không còn ai lầm lì, ít lời hơn anh ta.
- Khi nói tiếng Anh, có thể như vậy, - Patrixia nói.
- Nghĩa là…
- Hẳn rồi, cháu biết nói tiếng Kikuyu cũng chẳng kém gì
anh ấy, - Patrixia giảng giải, - bởi vì chị hầu đầu tiên của cháu,
hồi còn bé tí, là người tộc Kikuyu. Và cháu còn biết cả tiếng
[1]
Xoahli , bởi vì dân bản địa thuộc tất cả các tộc đều biết nói
tiếng đó. Cháu biết cả tiếng Oakamba bởi vì người đưa đường
mà cha cháu ưng hơn cả là người tộc đó. Và cả tiếng Maxai
nữa, vì tộc người Maxai có quyền đi ngang và hạ trại trong
khu vườn này.
Patrixia vẫn tiếp tục mỉm cười, nhưng nụ cười đó chỉ biểu
lộ vẻ giễu cợt và vẻ bề trên. Một lần nữa nó lại phản ánh cái
niềm tin chắc chắn và thanh thản cùng những khả năng của
em, ấy là có thể giao tiếp được với những đời sống nguyên sơ
nhất theo những lề luật của cái vũ trụ riêng của chúng.
- Những người da đen ở đây thường tới kể cho cháu nghe
hết mọi chuyện, - Patrixia tiếp. - Cháu biết rõ công việc của họ
hơn cả cha cháu ấy. Cha cháu chỉ biết tiếng Xoahili, chưa kể
cha cháu nói ra cứ theo lối người da trắng. Cha cháu lại
nghiêm khắc nữa, nghề của cha cháu phải như vậy mà. Cháu
ấy à, cháu không khi nào mách lẻo cả. Người làm, người gác,
người phục dịch, ai ai cũng biết điều đó. Vì vậy nên họ có gì là
nói hết với cháu. Thauki, bác thư ký, nói rằng chú mang giấy
thông hành Pháp và chú ở Pari. Anh hầu mang hành lý nói với
cháu rằng va-li chú rất nặng vì rất nhiều sách. Anh hầu nhà
nghỉ bảo cháu: “Ông da trắng không thích anh đun nước nóng
cho ông tắm, và trước khi đi nghỉ ông chẳng ăn miếng gì vì
mệt quá”.
- Và chú sẽ còn ngủ, - tôi nói, - nếu như không có một vị
khách tới thăm đánh thức chú dậy rất sớm. Nhưng có khi vị
khách đó cũng tới báo cáo cháu rồi chưa biết chừng.
Tôi nói với Patrixia về con khỉ nhỏ và con linh dương bé tí
ti.
- Đúng rồi, Nicôlai và Xanhbơli đó, - Patrixia nói.
Trong đôi mắt em nhìn có chút âu yếm nhưng hơi có ý
khinh thường. Em bé nói thêm:
- Của cháu cả đấy. Thế nhưng chúng vẫn cho mọi người
vuốt ve, như vuốt ve con chó hoặc con mèo ấy.
- Ồ!… Thật thế ư? - Tôi nói.
Nhưng Patrixia hiểu sao nổi rằng em bé đã khiến tôi rầu
lòng khi em xếp hai sứ thần bí ẩn lúc bình minh đó của tôi vào
loại tầm thường và nô lệ.
- Đằng kia thì không như vậy, - bé em nói.
Cô bé chìa tay về phía những con vật tụ tập dọc theo khu
đồng cỏ và xung quanh những khu dự trữ nước dưới chân quả
núi lớn đầy tuyết và đầy mây. Bàn tay Patrixia run run và
giọng nói em cũng run run, và mặc dầu dù em cố giữ cho
giọng nói không âm vang và lạc âm sắc nhưng nó vẫn ròn rã,
hoặc ít ra cũng lộ vẻ đắm đuối mê say.
- Những con thú kia chẳng thuộc về ai hết, - Patrixia tiếp. Chúng không biết vâng lời. Ngay cả khi chúng đón nhận chú,
thì chúng vẫn tự do chứ không thuộc về chú. Muốn chơi với
chúng, chú phải biết rõ về gió, về mặt trời, về các đồng cỏ, biết
rõ vị các ngọn cỏ, các điểm nước. Và phải biết đoán tính khí
chúng. Và phải cẩn thận khi tới mùa chúng kết đôi với nhau và
phải lo tới sự an toàn của những đàn con. Ta phải biết lặng im,
biết đùa rỡn, biết chạy, biết thở cùng chúng.
- Cha cháu dạy cháu tất cả những điều đó chăng? - Tôi hỏi
- Cha cháu chẳng biết nổi một nửa những gì cháu biết, Patrixia trả lời. - Cha cháu không có thì giờ. Cha cháu quá già
rồi. Cháu học một mình, chỉ một mình thôi.
Patrixia chợt ngẩng mặt nhìn tôi, và tôi nhận ra trên khuôn
mặt nhỏ sạm nắng, bướng bỉnh và kiêu hãnh kia một tình cảm
dường như khó mà có ở đó được: một sự ngập ngừng gần như
là khiêm nhường.
- Chú à… chú cứ nói nhé… liệu chừng… cháu có làm cho
chú chán ngấy không nếu cháu cứ tiếp tục nói chuyện các con
thú mãi? - Patrixia hỏi.
Thấy tôi có vẻ ngạc nhiên, em bé nói tiếp rất nhanh:
- Mẹ cháu quả quyết rằng người lớn không thể nào thích
thú nổi các chuyện của cháu.
- Chú thì muốn dành cả ngày nghe những chuyện như thế,
- tôi đáp lại.
- Đúng đấy! Thật đấy!
Vẻ hứng khỏi của Patrixia làm tôi ngạc nhiên đến mức rất
thoải mái. Cô bé bấu chắc lấy bàn tay tôi. Những ngón tay em
nóng bỏng một cơn sốt đột ngột. Những móng tay em sứt sở
thành răng cưa bấu sâu vào da tôi. Tôi nghĩ bụng: những dấu
hiệu như vậy không chỉ biểu lộ một niềm vui vì đã thỏa thuê
một thách thức trẻ thơ. Chúng biểu lộ một đòi hỏi sâu sắc và
đứa trẻ không chịu chấp thuận cảnh luôn luôn phải thèm
thuồng. Ô hay, lẽ nào Patrixia mà cũng bị bắt buộc phải trả giá
cho các giấc mơ, các quyền lực của mình bằng sức nặng của
cô đơn?
Cô bé bắt đầu cất tiếng. Tiếng nói của em, mặc dù vẫn
nghẹt lại và đều đều, hoặc đúng hơn, chính vì vậy đã vang lên
tựa hồ một âm vang tự nhiên của rừng rậm.
Giọng nói em giữ thăng bằng lơ lửng giữa lao động tư duy
và sự cố gắng bất lực thâm nhập vào một điều duy nhất quan
trọng: bí ẩn của sự sáng tạo và của tạo vật. Giọng nói em mang
bộ mặt mê mẩn của xao động và âu lo, cũng tựa hồ như những
ngọn cỏ cao và những búi sậy mọc hoang mang bộ mặt của
những cơn gió êm đềm nhất, khiến từ trong lòng chúng thốt ra
tiếng rì rào kỳ diệu muôn thuở mà luôn luôn mới mẻ.
Cái tiếng nói ấy chẳng còn ích gì hết cho một quan hệ chật
chội và vô vị của con người. Nó có khả năng tạo ra một quan
hệ, một sự đổi trao giữa một bên là cảnh cùng khốn của con
người, cảnh tù túng nội tại của con người, với một bên là
vương quốc chân lý, tự do, vô tư đang nảy nở rạng rỡ trong
buổi sớm mai nơi châu Phi.
Từ những cuộc chạy chơi nào khắp khu Vườn hoàng gia,
và từ những đêm thức canh chừng nào giữa các bụi gai, nhờ sự
cảnh giác vô tận nào và nhờ sự thân tình bí ẩn nào mà Patrixia
đã có được những kinh nghiệm giờ đây em bộc bạch cùng tôi?
Những bầy thú cấm đoán đối với mọi người kia đã trở thành
cái xã hội quen thuộc của em. Em biết rõ các bầy, các đàn, các
nhân vật. Em thâm nhập được vào đó, ở đó em có các thói
quen, có các kẻ thù, có các thứ em nâng niu yêu quý.
Em biết rõ con trâu kia trước mặt chúng tôi đang đầm mình
trong bùn lỏng, tính nết nó rất hung hãn. Em biết rõ con voi
già kia với đôi ngà gãy, nó nghịch ngợm ngang với con voi
non nhất trong bầy, Còn con voi cái vợ nó với bộ da màu xám
gần như đen, cái con voi lúc này đang lấy vòi lùa đàn con
xuống nước, tính ưa sạch sẽ của nó gần như là một căn bệnh.
Giữa đàn linh dương mỗi con mang trên bộ lông vàng ở
sườn một vệt đen hình mũi tên kia, đó là những con linh
dương thuộc loại duyên dáng nhất và ...
 
Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn. (Barack Obama)





