Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng Sản Việt Nam
truoc-ngay-em-den-1543906650

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:17' 07-03-2024
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:17' 07-03-2024
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Trước ngày em đến
Tác giả: Jojo Moyes
Người dịch: Lê Trung
Nhà xuất bản Trẻ
Số trang: 599
Ngày xuất bản: 06-2015
Giá bìa: 150.000VND
Nguồn word: Leng Keng
Beta: Phạm Huỳnh Uyên Khôi
Làm ebook: Bảo Yên
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Ebook Trước ngày em đến được thực hiện bởi các thành
viên nhóm Our Shared eBooks và chỉ lưu hành nội bộ..
eBook này được làm với mục đích phi lợi nhuận, nhằm góp
phần nhỏ trong việc thúc đẩy VĂN HÓA ĐỌC cho các bạn
không có điều kiện mua sách giấy.
Hãy mua sách trong điều kiện có thể để ủng hộ tác giả, dịch
giả, NXB và đơn vị phát hành!
Do chúng tôi chưa thể liên hệ được với tác giả, dịch giả
cũng như NXB để xin phép nên rất mong tác giả, dịch giả và
bạn đọc thông cảm và lượng thứ.
Bản quyền eBook © Our Shared eBooks, 2016.
Dự án #3 | facebook.com/groups/OurSharedEbooks
Jojo Moyes là nhà văn và nhà báo. Cô đã làm việc tại tờ
Independent mười năm trước khi chuyển sang sáng tác hoàn
toàn. Các tác phẩm thành công của cô có thể kể đến The ship
of Brides (Con tàu chở các cô dâu), Foreign Fruit (Trái lạ)
và gần đây nhất là tác phẩm The Last Letter from Your Love
(Bức thư tình cuối). Hiện cô sống tại Essex cùng chồng và ba
con.
Lou Clark biết nhiều thứ. Cô biết từ trạm xe buýt đến nhà
có bao nhiêu bước chân. Cô ý thức được rằng mình thích
làm việc trong quán cà-phê Bánh Bơ, cũng như cô không
còn yêu gã bạn trai Patrick nữa. Điều Lou không thể nào
ngờ tới chính là cô sắp bị mất việc và sắp sửa phải đối diện
với một chuyện kinh hoàng.
Will Traynor thì thừa hiểu tai nạn mô-tô đã cướp đi mọi
ước muốn sống của anh. Anh biết rằng mọi thứ trong cuộc
đời này chẳng có ý nghĩa gì, cũng như niềm vui là một thứ
gì đó ở đâu đâu ngoài tầm với. Anh còn biết được làm cách
nào để đặt dấu chấm hết cho tất cả những điều này. Tuy
nhiên, điều Will không thể tưởng tượng nổi là Lou sắp sửa
làm náo loạn cuộc đời anh. Cả hai đều không biết rằng họ
sẽ làm thay đổi nhau.
“Cuốn tiểu thuyết xúc động này sẽ khiến tim bạn tan chảy.”
- Tạp chí Heat “Một câu chuyện về cuộc đời nhỏ-những-giấc-mơ-lớn sẽ
thêm vị ngon cho cốc ca cao của bạn.”
- Báo Daily Mail “Thật cuốn hút và lãng mạn.”
- Báo Daily Telegraph “Một quyển sách sâu sắc, tuyệt vời. Tôi đã hoàn toàn bị
cuốn hút. Thực sự yêu thích.”
- Sophie Kinsella –
“Cảm động vô cùng và lãng mạn quá đỗi.”
- Tạp chí Woman “Cực kỳ cảm động.”
- Báo The Times “Ấm áp, duyên dáng và sâu sắc.”
- Tạp chí Company “Thật cảm động.”
- Tạp chí Marie Claire “Rất khéo.”
- Tạp chí Choice -
Mở đầu
Chương 01 ✿ Chương 02 ✿ Chương 03
Chương 04 ✿ Chương 05 ✿ Chương 06
Chương 07 ✿ Chương 08 ✿ Chương 09
Chương 10 ✿ Chương 11 ✿ Chương 12
Chương 13 ✿ Chương 14 ✿ Chương 15
Chương 16 ✿ Chương 17 ✿ Chương 18
Chương 19 ✿ Chương 20 ✿ Chương 21
Chương 22 ✿ Chương 23 ✿ Chương 24
Chương 25 ✿ Chương 26 ✿ Chương 27
Phần kết
Lời cảm ơn
Tặng Charles, với tất cả tình yêu của em.
Mở Đầu
2007
Khi anh chui ra khỏi phòng tắm thì cô dậy rồi, cô đang chống
tay lên gối và giở phần phật những cuốn sách bướm du lịch đặt
bên cạnh giường anh. Mặc một chiếc áo phông của anh, mái
tóc dài rối bời của cô tự nhiên gợi ra những ý nghĩ về đêm
trước. Anh đứng đó, vừa tận hưởng khoảnh khắc hồi tưởng
ngắn ngủi ấy vừa lau nước trên tóc bằng khăn tắm.
Cô ngẩng lên khỏi một cuốn sách bướm và bĩu môi. Có lẽ cô
đã hơi quá tuổi làm trò bĩu môi, nhưng vì họ đi chơi với nhau
chưa được bao lâu nên cái bĩu môi ấy vẫn thật dễ thương.
“Thực sự chúng ta phải làm gì đó dính dáng tới leo núi hay
trườn vách núi sao? Đây là kỳ nghỉ đúng nghĩa đầu tiên cùng
nhau của chúng ta, thế mà thật tình trong mấy cuốn sách bướm
này chẳng có hành trình nào không buộc ta phải quăng quật
bản thân hoặc…” Cô vờ nhún vai. “…mặc áo nỉ.”
Cô liệng xấp sách bướm xuống giường, duỗi đôi cánh tay màu
caramel qua đầu. Giọng cô khàn khàn, kết quả của những giờ
họ thiếu ngủ. “Một chuyến nghỉ dưỡng hạng sang ở Bali thì
sao? Chúng ta có thể nằm trên cát… dành nhiều giờ chăm sóc
toàn thân… nhiều đêm dài thư giãn…”
“Đi nghỉ kiểu ấy thì anh xin kiếu. Anh cần phải làm gì đó.”
“Như kiểu quẳng mình ra khỏi máy bay ấy hả?”
“Em thử trò đó đi đã rồi hẵng phê phán chứ.”
Cô làm mặt xấu. “Nếu anh không phiền thì phải nói là em sẽ
vẫn cứ chỉ trích nó.”
Áo sơ mi của anh hơi dính vào làn da ẩm. Anh vừa chải tóc
vừa bật điện thoại, rồi nhăn mặt khi thấy danh sách tin nhắn
lập tức lũ lượt hiện ra trên màn hình nhỏ bé.
“Tốt thôi,” anh nói. “Anh phải đi đây. Tự lo bữa sáng nhé.”
Anh vươn người tới giường để hôn cô. Mùi cơ thể cô thật ấm,
thật thơm và vô cùng gợi cảm. Anh hít vào hương tóc cô, và
trong một thoáng ngẩn cả người khi cô vòng tay quanh cổ kéo
anh xuống giường.
“Cuối tuần này chúng ta vẫn đi chơi xa đấy chứ?”
Anh miễn cưỡng chui ra khỏi vòng tay cô. “Tùy xem hợp đồng
này thế nào. Giờ thì tất cả còn hơi mông lung. Vẫn có khả
năng anh sẽ phải ở New York. Nhưng mà thứ Năm tới chỗ nào
đẹp ăn tối nhé? Em chọn nhà hàng đi.” Bộ đồ da mặc chạy xe
máy của anh treo sau cánh cửa, anh với tay lấy xuống.
Cô nheo mắt. “Ăn tối. Có hay không có Mr BlackBerry đây?”
“Gì cơ?”
“Mr
BlackBerry khiến em thấy mình giống Miss
Gooseberry[1]” Cô lại bĩu môi. “Em cảm thấy luôn có người
thứ ba tranh giành sự chú ý của anh.”
“Anh sẽ chuyển điện thoại sang chế độ im lặng.”
[1] Thành ngữ “Play gooseberry” có nghĩa là “Đi kèm một cô
gái hoặc đôi tình nhân để canh gác, giữ gìn.”
“Will Traynor!” Cô la lên. “Cũng phải có lúc anh tắt điện thoại
chứ.”
“Không phải tối qua anh tắt máy đó sao?”
“Đó là vì anh bị câu thúc thôi.”
Anh cười nhăn nhở. “Từ nay chúng ta gọi nó như thế nhé.”
Anh mặc bộ đồ da vào. Và hình ảnh Lissa đeo bám trong trí
tưởng tượng của anh cuối cùng cũng tan biến. Anh vắt chiếc
jacket chạy xe qua cánh tay, rồi hôn gió cô khi đi ra.
Có đến 22 tin nhắn trên chiếc BlackBerry của anh, tin đầu tiên
đến từ New York lúc 3:42 sáng. Một số rắc rối về luật pháp.
Anh đi thang máy xuống tầng hầm để xe, cố cập nhật cho
mình những sự kiện tối qua.
“Chào buổi sáng, ngài Traynor.”
Ông bảo vệ bước ra khỏi phòng trực. Căn phòng được xây kín
đáo để tránh mưa nắng, dù ở dưới này chẳng lấy đâu ra mưa
nắng mà tránh. Đợi khi Will tự hỏi không biết ông ta làm gì ở
dưới này lúc trời còn mờ đất như thế, gí mắt vào chiếc camera
quan sát và thanh ba-đờ-xốc láng coóng của những chiếc xe
con giá 60.000 bảng không bao giờ nhem bẩn.
Anh xốc chiếc jacket da vào người. “Ngoài trời thế nào
Mick?”
“Tệ lắm. Mưa như xối.”
Will dừng bước. “Thật sao? Trời không ủng hộ chạy xe máy
à?”
Mick lắc đầu. “Không đâu thưa ngài. Trừ phi ngài có áo phao.
Hoặc muốn chết.”
Will nhìn chằm chằm vào chiếc xe, rồi cởi bộ đồ da ra. Lissa
nghĩ gì thì nghĩ, anh không phải kiểu người thích làm những
trò liều lĩnh vô bổ. Anh mở hộp đựng đồ trên xe rồi bỏ bộ đồ
da vào, khóa hộp lại rồi thảy chìa khóa cho Mick, ông tóm gọn
nó bằng một tay. “Tra chìa khóa vào cửa nhà tôi được không?”
“Được chứ. Ngài muốn tôi gọi taxi cho ngài không?”
“Không đâu. Nhúng ướt cả hai chúng ta để làm gì chứ.”
Mick ấn nút mở cửa lưới tự động và Will bước ra, vẫy tay tỏ ý
cảm ơn. Bình minh quanh anh mờ tối và ì ầm sấm động, giao
thông khu Trung tâm London đã đông đúc và chậm chạp dù
lúc này mới bảy rưỡi. Anh dựng cổ áo ôm quanh cổ, sải bước
xuống đường đi tới ga đầu mối, ở đó rất có khả năng anh sẽ
đón được taxi. Đường mưa trơn trượt, ánh sáng bàng bạc tỏa
trên vỉa hè loang loáng.
Anh thầm nguyền rủa trong khi dò xét những người mặc comlê đứng bên lề đường. Từ bao giờ mà toàn thể London bắt đầu
dậy sớm tới thế? Ai ai cũng có chung cái ý tưởng ấy.
Anh đang nghĩ xem mình đứng chỗ nào là tốt nhất thì điện
thoại reo. Rupert gọi.
“Tớ đang trên đường tới. Đang cố bắt taxi đây.” Thoáng thấy
bóng một chiếc taxi có đèn tín hiệu màu cam lướt tới, anh rảo
bước về phía nó, thầm hy vọng không ai khác nhìn thấy. Một
chiếc xe buýt rầm rầm lao qua, nối đuôi là chiếc xe tải có bộ
phanh kêu ken két khiến anh chẳng nghe thấy Rupert nói gì.
“Không nghe ra cậu nói gì cả, Rupe,” Anh hét át tiếng ồn xe
cộ. “Cậu nói lại đi.” Trong một thoáng không gian lặng lẽ như
trên đảo hoang, xe cộ lướt qua như luồng gió, anh có thể nhìn
thấy rõ chiếc đèn màu cam tỏa sáng, thế là anh giơ bàn tay còn
rảnh lên, hy vọng người lái xe có thể nhìn thấy mình qua màn
mưa dày đặc.
“Cậu phải gọi cho Jeff bên New York đi. Ông ấy vẫn đang
thức chờ cậu đấy. Tối qua bọn tớ đã ra sức liên lạc với cậu.”
“Có chuyện gì vậy?”
“Vướng mắc pháp luật. Hai điều khoản người ta đang tạm
ngừng… chữ ký… giấy tờ…” Giọng Rupert bạt đi vì một
chiếc xe con lướt qua, lốp xe xào xạo trong nước.
“Tớ chẳng nghe gì cả.”
Chiếc taxi đã trông thấy anh. Nó chạy chậm lại, bắn tung một
vạt nước lớn trong khi lừ đừ lăn bánh bên kia đường. Anh để ý
thấy người đàn ông mặc quần đùi thể thao ở phía xa thất vọng
đi chậm lại khi nhận ra chắc hẳn Will sẽ tới được chiếc taxi
trước anh ta. Will thầm có cảm giác chiến thắng. “Nghe này,
bảo Cally để sẵn giấy tờ trên bàn tớ nhé,” anh gào lên. “Mười
phút nữa tớ có mặt.”
Anh liếc nhìn cả hai bên rồi cắm đầu chạy mấy bước cuối băng
qua đường tới chỗ chiếc taxi, từ “Blackfriars” đã ở sẵn trên
môi. Mưa luồn xuống qua khe hở giữa cổ áo và thân áo anh.
Thể nào khi tới được văn phòng anh cũng đã ướt như chuột
lột, dù chỉ đi bộ một quãng ngắn thế này. Có thể anh sẽ phải
bảo thư ký ra ngoài kiếm cho anh một chiếc sơ-mi khác.
“Và chúng ta cần giải quyết xong hoạt động đánh giá với trách
nhiệm cao nhất này trước khi Martin tới…”
Anh liếc nhìn về phía âm thanh chói tai, một tiếng còi dữ dội.
Anh thấy hông chiếc taxi đen bóng ngay trước mặt mình, tay
tài xế đã hạ cửa kính xuống, và từ khóe mắt anh thấy một thứ
chưa rõ là gì, một thứ đang lao về phía anh với tốc độ kinh
hoàng.
Anh quay về phía nó, và trong một phần nghìn giây ấy anh
nhận ra rằng anh đang ở trong đường chạy của nó, rằng anh
không có cách nào thoát ra khỏi đường chạy của nó. Bàn tay
anh bất thần xòe ra, làm chiếc Blackberry rơi xuống đất. Anh
nghe thấy một tiếng hét, có thể đó là tiếng của chính anh. Thứ
cuối cùng anh nhìn thấy là một chiếc găng tay da, một gương
mặt dưới mũ bảo hiểm, nỗi bàng hoàng trong đôi mắt của
người đàn ông ấy phản chiếu nỗi bàng hoàng của chính anh.
Có một tiếng nổ khi mọi thứ vỡ tan tành.
Rồi chẳng còn lại gì.
Chương 1
2009
Bến xe buýt cách nhà 158 bước chân, nhưng có thể kéo ra
thành 180 bước nếu không rảo cẳng, ví như phải lúc đang đi
giày đế bục chẳng hạn. Hoặc khi đi đôi giày mua từ một cửa
hàng từ thiện, đôi giày có nơ bướm trên ngón chân nhưng
không ôm gót, thế nên chẳng lạ khi nó hạ xuống chỉ còn 1.99
bảng. Tôi rẽ qua góc vào đường nhà chúng tôi (68 bước) thì
thấy ngay ngôi nhà - một căn nhà liên kế bốn phòng ngủ nằm
trong dãy những căn nhà liên kế có ba đến bốn phòng ngủ. Xe
của bố vẫn ở bên ngoài, thế có nghĩa là bố vẫn chưa đi làm.
Sau lưng tôi, mặt trời cấp ló sau Lâu dài Stortfold, bóng tòa
lâu đài đổ dài như sáp chảy xuống phủ chụp đấy tôi. Khi tôi
còn nhỏ, cha con tôi thường chơi trò đấu súng với cái bóng dài
ngoằng của chính mình, con đường chạy trước nhà là đấu
trường O. K. Corral. Nếu phải ngày khác, có lẽ tôi đã kể cho
bạn nghe bao chuyện từng xảy ra với tôi trên tuyến đường này:
nơi bố dạy tôi đi xe đạp mà không có bánh phụ; nơi bà
Doherty có mái tóc giả rẽ ngôi lệch thường làm bánh kiểu xứ
Wales cho chúng tôi; nơi mà năm mười một tuổi, Treena thọc
tay vào bờ rào quậy một tổ ong vò vẽ để rồi chúng tôi vừa
chạy vừa la hò ầm ĩ suốt dọc đường trở lại lâu đài.
Chiếc xe đạp ba bánh của Thomas nằm chổng vó trên con
đường, thế nên khi đã khép cổng lại sau lưng, tôi kéo nó vào
dưới thềm rồi mở cửa nhà. Khí ấm ùa vào tôi như một túi khí
bung ra; mẹ rất sợ cái lạnh nên luôn giữ nhà ấm áp quanh năm.
Bố thì luôn mở cửa sổ, phàn nàn rằng mẹ tiêu phí bao nhiêu
tiền của gia đình. Ông nói tiền sưởi nhà tôi còn cao hơn GDP
của một đất nước be bé ở châu Phi.
“Con đó à, con yêu?”
“Vâng ạ.” Tôi treo áo khoác lên móc, phải chật vật lắm mới
kiếm được chỗ cho nó giữa đống quần áo khác.
“Mà đứa nào đấy nhỉ? Lou à? Hay Treena?”
“Lou ạ.”
Tôi ngó quanh cửa phòng khách. Bố tôi úp mặt lên sofa, cánh
tay ông chọc sâu vào giữa đống gối nệm, như thể chúng đã
nuốt gọn cả cánh tay ông. Thomas, thằng cháu lên năm của tôi,
đang ngồi trên mông ông, chăm chú ngắm nhìn ông.
“Hãng đồ chơi Lego.” Bố ngoảnh bên nhìn tôi, mặt nhăn nhúm
vì nỗ lực. “Sao người ta phải làm những mảnh nhỏ thế này bố
cũng chẳng biết nữa. Con có thấy cánh tay trái của Obi-Wan
Kenobi không?”
“Nó nằm trên đầu đĩa DVD đấy ạ. Con nghĩ thằng bé đã đổi
hai cánh tay của Obi với hai cánh tay của Indiana Jones.”
“À, có vẻ như giờ Obi không thể nào mang cánh tay màu be
được nữa. Chúng ta phải có cánh tay màu đen.”
“Chuyện đó thì có gì đáng lo đâu bố. Chẳng phải ở tập hai
Darth Vader chặt đứt cánh tay của Obi sao?” Tôi chỉ vào má
mình để bảo Thomas hôn. “Mẹ đâu bố?”
“Trên lầu. Thế thì sao chứ? Một mảnh ghép hai bảng đấy!”
Tôi ngước lên, chỉ nghe được tiếng lách cách của cầu ủi. Mẹ
tôi, Josie Clark, không bao giờ ngồi không. Đó là một chuyện
để tự hào. Điển hình nhất là cảnh bà đứng trên cái thang ngoài
trời để sơn cửa sổ, thỉnh thoảng lại ngừng lại, vẫy vẫy tay,
trong khi cả nhà chúng tôi đang ăn đồ nướng.
“Con có thể cầm cái cánh tay chết tiệt này cho bố được không?
Thằng bé bắt bố tìm nửa tiếng rồi, mà giờ bố phải chuẩn bị đi
làm.”
“Bố phải làm đêm à?”
“Ừ. Năm rưỡi.”
Tôi liếc nhìn đồng hồ. “Thật ra mới bốn rưỡi mà.”
Ông rút cánh tay ra khỏi đống gối rồi xem đồng hồ. “Thế con
làm gì ở nhà lúc còn sớm thế này?”
Tôi khe khẽ lắc đầu như thể mình không hiểu được câu hỏi ấy,
rồi đi vào bếp.
Ông ngoại đang ngồi trên chiếc ghế quen thuộc bên cửa sổ
gian bếp, nghiên cứu một bảng Sudoku. Bác sĩ thăm bệnh tại
nhà đã nói với chúng tôi rằng trò đó tốt cho tính tập trung của
ông, giúp ông dễ tập trung hơn sau khi bị tai biến. Tôi ngờ
rằng mình là người duy nhất để ý thấy ông chỉ điền bừa vào tất
cả các ô trống bất kể con số nào ngẫu nhiên xuất hiện trong
đầu.
“Chào ông.”
Ông ngước lên mỉm cười. “Ông muốn uống trà không ạ?”
Ông lắc đầu, hơi mở miệng.
“Nước mát nhé?”
Ông gật đầu.
Tôi mở cửa tủ lạnh. “Không có nước táo rồi.” Tôi sực nhớ ra
nước táo quá đắt. “Nước ngọt Ribena nhé?”
Ông lắc đầu.
“Nước lọc?”
Ông gật đầu, lẩm bẩm gì đó nghe như cảm ơn khi tôi đưa ly
nước cho ông.
Mẹ tôi đi vào bếp, bưng một giỏ bự đựng đồ mới giặt được
gấp gọn gàng. Mẹ tôi huơ huơ một đôi tất. “Của con à?”
“Chắc là của Treena đấy.”
“Thế mà mẹ cứ tưởng. Màu mè gì mà kỳ cục. Mẹ nghĩ đôi này
đi tông với bộ pyjama màu mận chín của bố con. Con về sớm
thế. Định đi đâu à?”
“Không ạ.” Tôi vặn vòi hứng một ly nước đầy rồi uống.
“Chốc nữa Patrick có tới không? Ban nãy nó gọi đấy. Con tắt
điện thoại à?”
“Ừm.”
“Nó nói nó đặt xong chỗ cho kỳ nghỉ của hai đứa rồi. Bố con
nói ông ấy có nghe về chỗ đó trên ti-vi. Chỗ bọn con thích
nằm ở đâu ấy nhỉ? Ipsos? Kalypsos?”
“Skiathos.”
“Đúng là nó rồi. Con phải kiểm tra lại khách sạn thật cẩn thận
nhé. Kiểm tra qua internet ấy. Lúc trưa khi đang ăn, bố con và
ông ngoại xem thấy gì đó trên bản tin. Hình như người ta đang
xây mấy tòa nhà, nửa số ngân sách được duyệt rồi đấy, chưa
tới tận nơi thì con chưa biết chắc được gì đâu. Bố ơi, bố uống
trà không ạ? Lou không mời bố à?” Mẹ tôi bật ấm nước lên rồi
liếc nhìn tôi. Có lẽ cuối cùng bà cũng nhận ra nãy giờ tôi chưa
nói gì. “Con ổn cả chứ con yêu? Trông con nhợt nhạt kinh
khủng.”
Bà đưa tay kiểm tra trán tôi, như thể tôi còn bé bỏng lắm chứ
không phải đã hai sáu tuổi.
“Con không nghĩ bọn con sẽ đi nghỉ đâu.”
Tay mẹ tôi khựng lại. Ánh mắt bà vẫn chứa cái vẻ thấu hiểu
vốn có từ thời tôi còn thơ dại. “Con với Pat đang trục trặc à?”
“Mẹ à, con…”
“Mẹ không định can thiệp đâu. Chỉ có điều hai đứa đã bên
nhau lâu lắm rồi. Cũng tự nhiên thôi nếu đôi khi mọi chuyện
trở nên hơi bế tắc. Ý mẹ là, mẹ với bố con, bố mẹ…”
“Con mất việc rồi.”
Giọng tôi khiến cả không gian lặng như tờ. Những từ ấy cứ
treo lơ lửng ở đó, rất lâu sau khi âm thanh đã tắt ngấm chúng
mới chịu tự mình biến đi.
“Con làm sao cơ?”
“Frank đóng cửa quán cà-phê. Từ ngày mai.” Tôi giơ ra chiếc
phong bì hơi ẩm do tôi đã quá hoang mang mà siết chặt trên
suốt đường về nhà. Suốt 180 bước chân từ bến xe buýt. “Ông
ấy đưa con ba tháng lương.”
Hôm nay cũng bắt đầu như bao ngày khác. Ai ai tôi biết cũng
đều chẳng ưa gì sáng thứ Hai, nhưng với tôi thì không thành
vấn đề. Tôi luôn thích đến quán Bánh Bơ thật sớm, đỏ lửa đun
bình trà to đùng để trong góc, bưng mấy thùng đựng sữa và
bánh mì từ sân sau vào trong, và trò chuyện với Frank trong
lúc chúng tôi chuẩn bị mở cửa tiệm.
Tôi thích hơi ấm nồng hương thịt xông khói của quán cà-phê,
luồng khí lạnh khẽ ùa vào khi cửa mở ra khép lại, tiếng trò
chuyện rì rầm, và khi không gian yên lặng thì có tiếng cái đài
của Frank một mình ngân nga nho nhỏ trong góc. Cái quán
này không phải một nơi thời thượng - tường vẫn dán tranh
phong cảnh tòa lâu đài trên đồi, mặt bàn vẫn đóng phoóc-mica, thực đơn chẳng thay đổi gì kể từ ngày tôi vào làm, ngoài
vài thay đổi ở mục lựa chọn thanh sô-cô-la và mục bánh sô-côla và bánh xốp ăn kèm với bánh kem.
Nhưng điều quan trọng nhất là tôi rất yêu mến khách. Tôi
thích Kev và Angelo, thợ sửa ống nước, hầu như sáng nào
cũng đến và trêu chọc Frank rằng không biết người ông lấy ở
đâu ra lắm thịt thế. Tôi thích Quý bà Bồ công anh, biệt danh
đặt cho mái tóc trắng lạ kỳ của bà cụ, sáng thứ Hai cho tới
sáng thứ Năm nào cụ cũng ăn một trái trứng và khoai tây
chiên, ngồi đọc báo miễn phí của tiệm, và uống một mạch hai
tách trà. Tôi luôn cố trò chuyện với cụ. Tôi ngờ đó là cuộc trò
chuyện duy nhất trong suốt ngày dài của cụ.
Tôi thích khách du lịch, những người dừng chân trên hành
trình lên xuống tòa lâu đài, thích lũ học trò ồn ào chí chóe ghé
qua sau buổi tan trường, thích khách quen từ công sở dọc con
đường, thích hai cô thợ làm đầu Nina và Cherie biết số ca-lo
của từng món mà Bánh Bơ đưa ra. Ngay cả những vị khách
khó tính nhất, như cô nàng tóc đỏ chủ quán đồ chơi tuần nào
cũng cự cãi chuyện tiền thừa ít nhất một lần, cũng không khiến
tôi phiền lòng.
Tôi quan sát những tình yêu chớm nở rồi tàn bên những chiếc
bàn ở đó, lũ trẻ chuyền qua đổi lại giữa những cặp đôi đã ly
hôn, cảm giác được giải thoát dù trong lòng vẫn thấy có lỗi
của những ông bố bà mẹ lười nấu ăn, và niềm vui sướng âm
thầm của những người sống bằng tiền trợ cấp bên bữa điểm
tâm toàn đồ chiên. Bao nhiêu kiểu người ghé qua đây, hầu hết
đều chia sẻ vài lời với tôi, pha hài hoặc bình luận qua những
tách trà nghi ngút khói. Bố luôn nói ông chẳng tài nào biết
được lần tiếp theo tôi sẽ nói cái gì, nhưng trong quán cà phê
thì chuyện đó đâu thành vấn đề.
Frank quý tôi. Tính ông trầm lặng, thế nên ông bảo có tôi ở đó
làm cho quán sôi động hẳn lên. Công việc này hơi giống phục
vụ quán bar, nhưng không có tiếng cãi lộn ầm ĩ của những kẻ
say.
Thế rồi buổi chiều hôm đó, sau khi bữa trưa bận rộn kết thúc,
khi quán ăn vắng lặng trong chốc lát, Frank lau tay vào tạp dề,
rồi bước từ sau lò sưởi tới quay tấm bảng nhỏ có đề chữ Đóng
cửa ngoảnh mặt ra đường.
“Nào nào, Frank, cháu bảo với chú rồi mà. Giờ làm thêm
không tính vào lương tối thiểu đâu.” Nói theo cách của bố tôi
thì Frank lạ lùng như một con linh dương đầu bò. Tôi ngước
nhìn lên.
Ông không mỉm cười.
“Ôi. Cháu lại cho muối vào hũ đường phải không ạ?”
Ông vặn vẹo chiếc khăn mù soa giữa hai bàn tay, trông ông bối
rối hơn bao giờ hết. Trong một thoáng tôi tự hỏi không biết có
phải có vị khách nào phàn nàn về tôi. Thế rồi ông bảo tôi ngồi
xuống.
“Xin lỗi, Louisa,” ông nói tiếp. “Nhưng chú sắp trở lại Úc.
Sức khỏe bố chú không tốt lắm, mà có vẻ như tòa lâu đài cũng
đang bắt đầu những ngày an dưỡng của chính nó rồi. Thời
khắc suy tàn sắp đến.”
Tôi nghĩ khi ấy tôi đã ngồi đơ ra với cái miệng há hốc. Rồi
Frank đưa cho tôi chiếc phong bì, và trả lời câu tôi toan hỏi
thước khi nó kịp thoát khỏi môi tôi. “Chú biết chúng ta chưa
bao giờ ký hợp đồng chính thức hay gì cả, nhưng chú muốn
chăm sóc cháu. Trong đó là ba tháng lương. Từ mai chúng ta
đóng cửa.”
“Ba tháng!” Bố tôi la toáng lên, trong khi mẹ tôi dúi một tách
trà ngọt vào tay tôi. “Ôi chao, ông ta mới phóng khoáng làm
sao, vì con bé đã làm việc như trâu như ngựa ở đó suốt sáu
năm liền cơ mà.”
“Bernard.” Mẹ tôi ném cho bố một cái nhìn cảnh cáo, rồi gật
đầu với Thomas. Bố mẹ tôi chăm sóc thằng bé sau mỗi chiều
tan học cho tới khi Treena xong việc.
“Giờ thì con bé phải làm việc gì đây hả trời? Đáng lẽ ông ta
phải cho nó hơn một ngày chuẩn bị sau cái thông báo chết toi
đó chứ.”
“Ờ thì… con bé đi tìm việc khác là được chứ sao.”
“Chẳng có việc cóc khô nào cả, Josie. Em biết rõ không thua
gì anh mà. Chúng ta đang trong một cuộc khủng hoảng tồi tệ.”
Mẹ nhắm mắt lại một chốc, như thể để tự trấn an bản thân, rồi
nói tiếp. “Nó là đứa thông minh sáng láng. Nó sẽ tìm được cho
mình việc gì đó. Nó có hồ sơ lao động đáng tin cậy phải không
nào? Frank sẽ nói tốt cho con bé.”
“Ôi tuyệt làm sao… 'Louisa Clark rất giỏi phủ bơ cho bánh
mì nướng, và có tài xoay xở với bình trà cũ rích.'.”
“Cảm ơn vì sự khích lệ của bố.”
“Bố chỉ nói thế thôi.”
Tôi biết nguyên nhân sâu xa sự căng thẳng của bố. Bố mẹ sống
dựa vào đồng lương của tôi. Treena chẳng kiếm được là bao từ
cửa hàng hoa. Mẹ không làm được gì vì bà còn phải chăm sóc
ông ngoại, và tiền trợ cấp của ông ngoại cũng không đáng kể.
Bố sống trong trạng thái lo lắng triền miên cho công việc ở
xưởng sản xuất đồ gỗ gia dụng. Mấy tháng nay ông chủ của bố
cứ lầm rầm về khả năng thừa nhân sự. Ở nhà thì lại có tiếng
lầm rầm về nợ nần và chuyện duy trì thẻ tín dụng. Hai năm
trước bố đã bán hạ giá chiếc xe của ông cho một tay tài xế
không có bảo hiểm, và chẳng hiểu sao chuyện đó đủ khiến cho
toàn bộ cái cơ ngơi đang lung lay là tài chính của bố mẹ tôi
cuối cùng cũng sụp đổ. Từ đó đồng lương nhỏ nhoi của tôi là
khoản tiền chính eo hẹp dành cho chi tiêu trong nhà, đủ để
giúp gia đình sống đắp đổi qua ngày.
“Chúng ta đừng nói trước điều gì cả. Ngày mai con bé có thể
đi thẳng xuống Trung tâm giới thiệu việc làm để xem có việc
gì đang cần người không. Giờ thì nó phải chịu đựng đủ rồi
đấy.” Họ nói chuyện cứ như thể tôi không ở đó. “Con bé rất
thông minh cơ mà. Con thông minh lắm, phải không con yêu?
Có lẽ con bé sẽ học một khóa đánh máy. Đi làm việc văn
phòng.”
Tôi ngồi đó, trong khi bố mẹ tôi bàn luận xem bằng cấp hạn
chế như tôi thì có thể làm được việc gì. Công nhân, thợ máy,
người đánh bơ. Lần đầu tiên trong buổi chiều hôm đó, tôi
muốn khóc. Thomas nhìn tôi chăm chú với đôi mắt to tròn và
lẳng lặng đưa cho tôi một chiếc bánh quy.
“Cảm ơn Tommo,” tôi thì thào khe khẽ, rồi ăn cái bánh.
Anh đang ở dưới đường, tôi biết rõ như thế. Từ thứ Hai tới thứ
Năm, đều đặn như giờ tàu chạy, Patrick không ở trong phòng
tập thể hình thì cũng chạy vòng vòng quanh con đường tràn
ánh sáng. Tôi bước xuống bậc tam cấp, khoanh tay ôm người
cho đỡ lạnh, chầm chậm bước ra đường, vẫy vẫy khi anh tới
đủ gần để nhận ra tôi.
“Chạy với anh,” anh nói hổn hển khi tiến lại gần hơn. Hơi thở
của anh tạo thành đám khói mờ mờ. “Anh còn phải chạy bốn
vòng nữa.”
Tôi ngần ngừ một thoáng, rồi bắt đầu chạy bên cạnh anh. Đó
là cách duy nhất giúp tôi có thể trò chuyện đôi lời với anh. Tôi
đang đi đôi giày màu hồng với dây buộc màu xanh ngọc, đôi
giày duy nhất tôi đủ tiền mua.
Cả ngày hôm nay tôi ở nhà, cố gắng tỏ ra có ích. Nhưng chắc
chỉ được một giờ đồng hồ là tôi ríu chân mẹ. Mẹ và ông ngoại
tôi có nhịp sống riêng, thế nên sự có mặt của tôi làm họ vướng
víu. Bố thì đang ngủ, vì tháng này phải làm đêm, nên không bị
quấy quả. Tôi dọn phòng riêng, rồi bật ti-vi thật nhỏ để xem,
chốc chốc khi nhớ ra vì sao mình lại ở nhà giữa buổi ngày thế
này, tôi lại cảm thấy ngực mình đau nhói.
“Anh không nghĩ lại thấy em cơ đấy.”
“Em chán ở nhà rồi. Em đã nghĩ biết đâu chúng ta có thể làm
gì đó.”
Anh nhìn nghiêng qua tôi. Anh khéo léo khoác lên vẻ mặt dịu
dàng. “Em yêu, em tìm được việc khác càng sớm càng tốt
đấy.”
“Em mới mất việc cũ cả thảy có hai mươi tư giờ thôi mà. Em
có được phép buồn bã u sầu một chút xíu không? Anh biết
đấy, chỉ trong hôm nay thôi?”
“Nhưng em phải nhìn vào mặt tích cực. Em đã biết em không
thể làm ở chỗ đó mãi mà. Em phải tiến lên, tiến tới.” Hai năm
trước Patrick được khen thưởng Doanh nhân trẻ Stortfold tiêu
biểu, đến giờ vẫn chưa thoát khỏi cái bóng vinh quang đó. Từ
ngày ấy, anh yêu cầu Ginger Pete, một cộng sự, đưa ra chương
trình huấn luyện thể hình cho khách hàng trong vòng bán kính
40 dặm cùng hai xe tải chuyên dụng hỗ trợ. Trong văn phòng
của anh còn có bảng trắng, anh thích dùng bút dạ màu đen thật
đậm nguệch ngoạc lên đó doanh số dự kiến, sửa đi sửa lại
những con số đó cho tới khi chúng khiến anh hài lòng mới
thôi. Tôi chẳng bao giờ dám chắc mười mươi rằng chúng có
giống với thực tế tí nào hay không.
“Mất việc nhiều khi có thể thay đổi cuộc đời của người ta đấy
Lou ạ.” Anh liếc đồng hồ, kiểm tra ô đếm giờ. “Em muốn làm
gì? Em có thể học nghề. Anh tin rằng họ sẽ làm được rất nhiều
cho những người như em.”
“Người như em?”
“Những người đang tìm kiếm cơ hội mới. Em muốn trở thành
người thế nào? Em có thể chăm sóc sắc đẹp. Em đủ xinh đấy.”
Anh thúc tay tôi khi chúng tôi chạy, như thể tôi phải thấy biết
ơn về lời khen ngợi đó.
“Anh biết nhịp điệu làm đẹp của em mà. Xà phòng, nước, túi
giấy quê cục.” Patrick đang bắt đầu tỏ vẻ chán ngán.
Tôi dần dần tụt lại phía sau. Tôi ghét chạy. Tôi ghét anh không
chịu chạy chậm lại.
“Nghe này… nhân viên bán hàng. Thư ký. Nhân viên đại lý
nhà đất. Anh không biết nữa… phải có việc gì đó em muốn
làm chứ.”
Nhưng đâu có. Tôi đã rất thích làm việc ở quán cà-phê. Tôi
thích biết mọi thứ cần phải biết ở quán Bánh Bơ, thích nghe về
cuộc đời của những người ghé qua đó. Tôi đã rất thoải mái khi
ở đấy.
“Em không thể chán nản hoài được, em yêu. Phải vượt qua
chứ. Mọi doanh nhân hàng đầu đều tìm được cho mình con
đường vươn lên sau bước thăng trầm. Jeffrey Archer làm
được. Richard Branson cũng thế.” Anh vỗ vào cánh tay tôi, cố
thúc tôi chạy theo cho kịp.
“Em nghi ngờ liệu đã bao giờ Jeffrey Archer mất việc nướng
bánh ngọt chưa.” Tôi thở không ra hơi. Tôi đang mặc áo lót
không phù hợp. Tôi chạy chậm lại, thõng hai tay trên đầu gối.
Anh quay người, chạy giật lùi, giọng anh mang theo không khí
tĩnh mịch lạnh ngắt. “Nhưng giả sử ông ấy từng… Anh nói thế
thôi. Quên chuyện kia đi, mặc một bộ quần áo tươm tất, đi
thẳng tới Trung tâm giới thiệu việc làm. Hoặc anh sẽ huấn
luyện em để làm việc với anh, nếu em thích. Em biết việc đó
cũng hái ra tiền đấy. Và đừng lo lắng về kỳ nghỉ. Anh sẽ trả.”
Tôi mỉm cười với anh.
Anh hôn gió, giọng anh vang vọng khắp đường chạy vắng vẻ.
“Em có thể trả lại anh khi em đã ổn định trở lại.”
Nỗ lực đầu tiên của tôi là tìm kiếm Trợ cấp cho người tìm
việc. Tôi tham gia một cuộc phỏng vấn 45 phút, một cuộc
phỏng vấn nhóm, trong đó tôi ngồi với một nhóm khoảng hai
mươi người cả đàn ông và đàn bà chẳng tương hợp với nhau,
một nửa số họ có cùng vẻ mặt hơi thảng thốt mà tôi ngờ là
giống với nét mặt tôi, nửa khác là những người có bộ mặt vô
hồn vô cảm vì họ đã tới đây quá nhiều lần rồi. Tôi mặc bộ đồ
mà bố tôi gọi là “đồ bình dân.”
Hệ quả của những nỗ lực đó, tôi đã phải chịu đựng làm trọn
một ca đêm ở lò giết mổ gà (việc này khiến tôi gặp ác mộng
ròng rã suốt mấy tuần liền), và hai ngày theo khóa tập huấn
làm Người tư vấn sức khỏe tại nhà. Chẳng mấy chốc tôi nhận
ra rằng về cơ bản tôi đang được đào tạo để chăm sóc người
già, thế nên tôi nói với Syed, “người tư vấn” của cá nhân tôi
rằng tôi không làm được việc đó. Anh ta khăng khăng bảo tôi
tiếp tục, vậy là tôi liệt kê ra một loạt việc người ta sẽ bắt tôi
làm, nghe tôi nói thế thì anh im lặng một lát rồi gợi ý rằng
chúng tôi (luôn là “chúng tôi” dù khá rõ ràng là người kia
trong chúng tôi đã có việc làm) sẽ thử công việc khác.
Tôi làm hai tuần trong một chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh.
Khoảng thời gian đó cũng ổn, tôi có thể đối phó được chuyện
chiếc mũ đồng phục làm tóc tôi cứng đơ, nhưng tôi không chịu
nổi cứ phải bám chặt vào kịch bản “những lời đáp phù hợp”,
với những câu như “Hôm nay tôi có thể giúp gì cô?” và “Anh
có muốn phần khoai tây chiên cỡ lớn với món đó không?” Tôi
đã bị cho thôi việc sau khi một tràng những cô nàng bán bánh
vòng bắt gặp tôi đang bàn tán về bao nhiêu giá trị khác nhau
của đồ chơi trí tuệ với một đứa trẻ bốn tuổi. Tôi có thể nói gì
được đây? Nó là một cô bé bốn tuổi rất thông minh. Tôi thì
cũng có cùng ý nghĩ là những nàng công chúa ngủ trong rừng
thật là ngớ ngẩn.
Giờ tôi đang ngồi tham dự cuộc phỏng vấn thứ tư, Syed lướt
suốt màn hình máy tính cảm ứng để tìm thêm “cơ hội” việc
làm. Ngay cả Syed, luôn mang thái độ vô cùng vui vẻ của một
người đã giúp những ứng viên khó tìm việc nhất có công việc,
cũng đang bắt đầu nói giọng hơi chán nản.
“À… Cô đã bao giờ nghĩ tới chuyện tham gia công nghiệp giải
trí chưa?”
“Sao cơ, như diễn viên kịch câm ấy hả?”
“Thật ra không phải thế. Nhưng có một vị trí trống cần vũ nữ
múa cột. Đúng hơn là mấy vị trí.”
Tôi nhướng mày. “Xin hãy nói với tôi là anh đang đùa đi.”
“Ba mươi giờ một tuần tùy chọn thời điểm. Tôi tin là tiền boa
sẽ cao.”
“Làm ơn, làm ơn nói với tôi là không phải anh đang tư vấn cho
tôi làm một công việc mà tôi phải mặc đồ lót lượn lờ trước mặt
người lạ.”
“Cô nói cô cởi mở với mọi người. Và trông cô có vẻ… lòe
loẹt… quần áo.” Anh liếc nhìn xuống chiếc quần bó của tôi, nó
mang màu xanh đính kim sa. Tôi đã nghĩ nó sẽ làm tôi vui vẻ
lên. Thomas đã ngâm nga bản nhạc nền của phim hoạt hình
Nàng tiên cá để trêu chọc tôi gần như suốt giờ ăn sáng.
Syed gõ gì đó lên bàn phím. “Thế 'người giám sát phòng chat
dành cho người lớn' thì sao?”
Tôi nhìn anh trân trân.
Anh ta nhún vai. “Cô bảo cô thích nói chuyện với mọi người
mà.”
“Không. Và không làm tiếp viên quán bar bán khỏa thân. Hay
nhân viên mát-xa. Hay người điều chỉnh webcam. Thôi nào,
Syed. Phải có việc gì đó tôi có thể làm mà thực sự không
khiến bố tôi lên cơn đau tim chứ.”
Điều này có vẻ làm anh ta bế tắc. “Chẳng còn gì nhiều ngoài
những cơ hội bán hàng thời gian tự do.”
“Việc xếp hàng trên giá siêu thị buổi tối thì sao?” Tôi đã làm
việc đó nhiều lần nên rất thành thạo.
“Có cả một danh sách chờ ở đây. Phụ huynh có xu hướng thích
làm việc đó, vì nó trùng với giờ tới trường của con cái,” Anh
ta nói giọng có lỗi. Rồi anh ta lại nghiên cứu màn hình. “Thế
thì chúng ta thực sự chỉ còn lại việc chăm sóc thôi.”
“Rửa đít cho người già.”
“Louisa ạ, tôi e là cô không đủ tiêu chuẩn làm gì khác. Nếu cô
muốn được học nghề, tôi ...
Tác giả: Jojo Moyes
Người dịch: Lê Trung
Nhà xuất bản Trẻ
Số trang: 599
Ngày xuất bản: 06-2015
Giá bìa: 150.000VND
Nguồn word: Leng Keng
Beta: Phạm Huỳnh Uyên Khôi
Làm ebook: Bảo Yên
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Ebook Trước ngày em đến được thực hiện bởi các thành
viên nhóm Our Shared eBooks và chỉ lưu hành nội bộ..
eBook này được làm với mục đích phi lợi nhuận, nhằm góp
phần nhỏ trong việc thúc đẩy VĂN HÓA ĐỌC cho các bạn
không có điều kiện mua sách giấy.
Hãy mua sách trong điều kiện có thể để ủng hộ tác giả, dịch
giả, NXB và đơn vị phát hành!
Do chúng tôi chưa thể liên hệ được với tác giả, dịch giả
cũng như NXB để xin phép nên rất mong tác giả, dịch giả và
bạn đọc thông cảm và lượng thứ.
Bản quyền eBook © Our Shared eBooks, 2016.
Dự án #3 | facebook.com/groups/OurSharedEbooks
Jojo Moyes là nhà văn và nhà báo. Cô đã làm việc tại tờ
Independent mười năm trước khi chuyển sang sáng tác hoàn
toàn. Các tác phẩm thành công của cô có thể kể đến The ship
of Brides (Con tàu chở các cô dâu), Foreign Fruit (Trái lạ)
và gần đây nhất là tác phẩm The Last Letter from Your Love
(Bức thư tình cuối). Hiện cô sống tại Essex cùng chồng và ba
con.
Lou Clark biết nhiều thứ. Cô biết từ trạm xe buýt đến nhà
có bao nhiêu bước chân. Cô ý thức được rằng mình thích
làm việc trong quán cà-phê Bánh Bơ, cũng như cô không
còn yêu gã bạn trai Patrick nữa. Điều Lou không thể nào
ngờ tới chính là cô sắp bị mất việc và sắp sửa phải đối diện
với một chuyện kinh hoàng.
Will Traynor thì thừa hiểu tai nạn mô-tô đã cướp đi mọi
ước muốn sống của anh. Anh biết rằng mọi thứ trong cuộc
đời này chẳng có ý nghĩa gì, cũng như niềm vui là một thứ
gì đó ở đâu đâu ngoài tầm với. Anh còn biết được làm cách
nào để đặt dấu chấm hết cho tất cả những điều này. Tuy
nhiên, điều Will không thể tưởng tượng nổi là Lou sắp sửa
làm náo loạn cuộc đời anh. Cả hai đều không biết rằng họ
sẽ làm thay đổi nhau.
“Cuốn tiểu thuyết xúc động này sẽ khiến tim bạn tan chảy.”
- Tạp chí Heat “Một câu chuyện về cuộc đời nhỏ-những-giấc-mơ-lớn sẽ
thêm vị ngon cho cốc ca cao của bạn.”
- Báo Daily Mail “Thật cuốn hút và lãng mạn.”
- Báo Daily Telegraph “Một quyển sách sâu sắc, tuyệt vời. Tôi đã hoàn toàn bị
cuốn hút. Thực sự yêu thích.”
- Sophie Kinsella –
“Cảm động vô cùng và lãng mạn quá đỗi.”
- Tạp chí Woman “Cực kỳ cảm động.”
- Báo The Times “Ấm áp, duyên dáng và sâu sắc.”
- Tạp chí Company “Thật cảm động.”
- Tạp chí Marie Claire “Rất khéo.”
- Tạp chí Choice -
Mở đầu
Chương 01 ✿ Chương 02 ✿ Chương 03
Chương 04 ✿ Chương 05 ✿ Chương 06
Chương 07 ✿ Chương 08 ✿ Chương 09
Chương 10 ✿ Chương 11 ✿ Chương 12
Chương 13 ✿ Chương 14 ✿ Chương 15
Chương 16 ✿ Chương 17 ✿ Chương 18
Chương 19 ✿ Chương 20 ✿ Chương 21
Chương 22 ✿ Chương 23 ✿ Chương 24
Chương 25 ✿ Chương 26 ✿ Chương 27
Phần kết
Lời cảm ơn
Tặng Charles, với tất cả tình yêu của em.
Mở Đầu
2007
Khi anh chui ra khỏi phòng tắm thì cô dậy rồi, cô đang chống
tay lên gối và giở phần phật những cuốn sách bướm du lịch đặt
bên cạnh giường anh. Mặc một chiếc áo phông của anh, mái
tóc dài rối bời của cô tự nhiên gợi ra những ý nghĩ về đêm
trước. Anh đứng đó, vừa tận hưởng khoảnh khắc hồi tưởng
ngắn ngủi ấy vừa lau nước trên tóc bằng khăn tắm.
Cô ngẩng lên khỏi một cuốn sách bướm và bĩu môi. Có lẽ cô
đã hơi quá tuổi làm trò bĩu môi, nhưng vì họ đi chơi với nhau
chưa được bao lâu nên cái bĩu môi ấy vẫn thật dễ thương.
“Thực sự chúng ta phải làm gì đó dính dáng tới leo núi hay
trườn vách núi sao? Đây là kỳ nghỉ đúng nghĩa đầu tiên cùng
nhau của chúng ta, thế mà thật tình trong mấy cuốn sách bướm
này chẳng có hành trình nào không buộc ta phải quăng quật
bản thân hoặc…” Cô vờ nhún vai. “…mặc áo nỉ.”
Cô liệng xấp sách bướm xuống giường, duỗi đôi cánh tay màu
caramel qua đầu. Giọng cô khàn khàn, kết quả của những giờ
họ thiếu ngủ. “Một chuyến nghỉ dưỡng hạng sang ở Bali thì
sao? Chúng ta có thể nằm trên cát… dành nhiều giờ chăm sóc
toàn thân… nhiều đêm dài thư giãn…”
“Đi nghỉ kiểu ấy thì anh xin kiếu. Anh cần phải làm gì đó.”
“Như kiểu quẳng mình ra khỏi máy bay ấy hả?”
“Em thử trò đó đi đã rồi hẵng phê phán chứ.”
Cô làm mặt xấu. “Nếu anh không phiền thì phải nói là em sẽ
vẫn cứ chỉ trích nó.”
Áo sơ mi của anh hơi dính vào làn da ẩm. Anh vừa chải tóc
vừa bật điện thoại, rồi nhăn mặt khi thấy danh sách tin nhắn
lập tức lũ lượt hiện ra trên màn hình nhỏ bé.
“Tốt thôi,” anh nói. “Anh phải đi đây. Tự lo bữa sáng nhé.”
Anh vươn người tới giường để hôn cô. Mùi cơ thể cô thật ấm,
thật thơm và vô cùng gợi cảm. Anh hít vào hương tóc cô, và
trong một thoáng ngẩn cả người khi cô vòng tay quanh cổ kéo
anh xuống giường.
“Cuối tuần này chúng ta vẫn đi chơi xa đấy chứ?”
Anh miễn cưỡng chui ra khỏi vòng tay cô. “Tùy xem hợp đồng
này thế nào. Giờ thì tất cả còn hơi mông lung. Vẫn có khả
năng anh sẽ phải ở New York. Nhưng mà thứ Năm tới chỗ nào
đẹp ăn tối nhé? Em chọn nhà hàng đi.” Bộ đồ da mặc chạy xe
máy của anh treo sau cánh cửa, anh với tay lấy xuống.
Cô nheo mắt. “Ăn tối. Có hay không có Mr BlackBerry đây?”
“Gì cơ?”
“Mr
BlackBerry khiến em thấy mình giống Miss
Gooseberry[1]” Cô lại bĩu môi. “Em cảm thấy luôn có người
thứ ba tranh giành sự chú ý của anh.”
“Anh sẽ chuyển điện thoại sang chế độ im lặng.”
[1] Thành ngữ “Play gooseberry” có nghĩa là “Đi kèm một cô
gái hoặc đôi tình nhân để canh gác, giữ gìn.”
“Will Traynor!” Cô la lên. “Cũng phải có lúc anh tắt điện thoại
chứ.”
“Không phải tối qua anh tắt máy đó sao?”
“Đó là vì anh bị câu thúc thôi.”
Anh cười nhăn nhở. “Từ nay chúng ta gọi nó như thế nhé.”
Anh mặc bộ đồ da vào. Và hình ảnh Lissa đeo bám trong trí
tưởng tượng của anh cuối cùng cũng tan biến. Anh vắt chiếc
jacket chạy xe qua cánh tay, rồi hôn gió cô khi đi ra.
Có đến 22 tin nhắn trên chiếc BlackBerry của anh, tin đầu tiên
đến từ New York lúc 3:42 sáng. Một số rắc rối về luật pháp.
Anh đi thang máy xuống tầng hầm để xe, cố cập nhật cho
mình những sự kiện tối qua.
“Chào buổi sáng, ngài Traynor.”
Ông bảo vệ bước ra khỏi phòng trực. Căn phòng được xây kín
đáo để tránh mưa nắng, dù ở dưới này chẳng lấy đâu ra mưa
nắng mà tránh. Đợi khi Will tự hỏi không biết ông ta làm gì ở
dưới này lúc trời còn mờ đất như thế, gí mắt vào chiếc camera
quan sát và thanh ba-đờ-xốc láng coóng của những chiếc xe
con giá 60.000 bảng không bao giờ nhem bẩn.
Anh xốc chiếc jacket da vào người. “Ngoài trời thế nào
Mick?”
“Tệ lắm. Mưa như xối.”
Will dừng bước. “Thật sao? Trời không ủng hộ chạy xe máy
à?”
Mick lắc đầu. “Không đâu thưa ngài. Trừ phi ngài có áo phao.
Hoặc muốn chết.”
Will nhìn chằm chằm vào chiếc xe, rồi cởi bộ đồ da ra. Lissa
nghĩ gì thì nghĩ, anh không phải kiểu người thích làm những
trò liều lĩnh vô bổ. Anh mở hộp đựng đồ trên xe rồi bỏ bộ đồ
da vào, khóa hộp lại rồi thảy chìa khóa cho Mick, ông tóm gọn
nó bằng một tay. “Tra chìa khóa vào cửa nhà tôi được không?”
“Được chứ. Ngài muốn tôi gọi taxi cho ngài không?”
“Không đâu. Nhúng ướt cả hai chúng ta để làm gì chứ.”
Mick ấn nút mở cửa lưới tự động và Will bước ra, vẫy tay tỏ ý
cảm ơn. Bình minh quanh anh mờ tối và ì ầm sấm động, giao
thông khu Trung tâm London đã đông đúc và chậm chạp dù
lúc này mới bảy rưỡi. Anh dựng cổ áo ôm quanh cổ, sải bước
xuống đường đi tới ga đầu mối, ở đó rất có khả năng anh sẽ
đón được taxi. Đường mưa trơn trượt, ánh sáng bàng bạc tỏa
trên vỉa hè loang loáng.
Anh thầm nguyền rủa trong khi dò xét những người mặc comlê đứng bên lề đường. Từ bao giờ mà toàn thể London bắt đầu
dậy sớm tới thế? Ai ai cũng có chung cái ý tưởng ấy.
Anh đang nghĩ xem mình đứng chỗ nào là tốt nhất thì điện
thoại reo. Rupert gọi.
“Tớ đang trên đường tới. Đang cố bắt taxi đây.” Thoáng thấy
bóng một chiếc taxi có đèn tín hiệu màu cam lướt tới, anh rảo
bước về phía nó, thầm hy vọng không ai khác nhìn thấy. Một
chiếc xe buýt rầm rầm lao qua, nối đuôi là chiếc xe tải có bộ
phanh kêu ken két khiến anh chẳng nghe thấy Rupert nói gì.
“Không nghe ra cậu nói gì cả, Rupe,” Anh hét át tiếng ồn xe
cộ. “Cậu nói lại đi.” Trong một thoáng không gian lặng lẽ như
trên đảo hoang, xe cộ lướt qua như luồng gió, anh có thể nhìn
thấy rõ chiếc đèn màu cam tỏa sáng, thế là anh giơ bàn tay còn
rảnh lên, hy vọng người lái xe có thể nhìn thấy mình qua màn
mưa dày đặc.
“Cậu phải gọi cho Jeff bên New York đi. Ông ấy vẫn đang
thức chờ cậu đấy. Tối qua bọn tớ đã ra sức liên lạc với cậu.”
“Có chuyện gì vậy?”
“Vướng mắc pháp luật. Hai điều khoản người ta đang tạm
ngừng… chữ ký… giấy tờ…” Giọng Rupert bạt đi vì một
chiếc xe con lướt qua, lốp xe xào xạo trong nước.
“Tớ chẳng nghe gì cả.”
Chiếc taxi đã trông thấy anh. Nó chạy chậm lại, bắn tung một
vạt nước lớn trong khi lừ đừ lăn bánh bên kia đường. Anh để ý
thấy người đàn ông mặc quần đùi thể thao ở phía xa thất vọng
đi chậm lại khi nhận ra chắc hẳn Will sẽ tới được chiếc taxi
trước anh ta. Will thầm có cảm giác chiến thắng. “Nghe này,
bảo Cally để sẵn giấy tờ trên bàn tớ nhé,” anh gào lên. “Mười
phút nữa tớ có mặt.”
Anh liếc nhìn cả hai bên rồi cắm đầu chạy mấy bước cuối băng
qua đường tới chỗ chiếc taxi, từ “Blackfriars” đã ở sẵn trên
môi. Mưa luồn xuống qua khe hở giữa cổ áo và thân áo anh.
Thể nào khi tới được văn phòng anh cũng đã ướt như chuột
lột, dù chỉ đi bộ một quãng ngắn thế này. Có thể anh sẽ phải
bảo thư ký ra ngoài kiếm cho anh một chiếc sơ-mi khác.
“Và chúng ta cần giải quyết xong hoạt động đánh giá với trách
nhiệm cao nhất này trước khi Martin tới…”
Anh liếc nhìn về phía âm thanh chói tai, một tiếng còi dữ dội.
Anh thấy hông chiếc taxi đen bóng ngay trước mặt mình, tay
tài xế đã hạ cửa kính xuống, và từ khóe mắt anh thấy một thứ
chưa rõ là gì, một thứ đang lao về phía anh với tốc độ kinh
hoàng.
Anh quay về phía nó, và trong một phần nghìn giây ấy anh
nhận ra rằng anh đang ở trong đường chạy của nó, rằng anh
không có cách nào thoát ra khỏi đường chạy của nó. Bàn tay
anh bất thần xòe ra, làm chiếc Blackberry rơi xuống đất. Anh
nghe thấy một tiếng hét, có thể đó là tiếng của chính anh. Thứ
cuối cùng anh nhìn thấy là một chiếc găng tay da, một gương
mặt dưới mũ bảo hiểm, nỗi bàng hoàng trong đôi mắt của
người đàn ông ấy phản chiếu nỗi bàng hoàng của chính anh.
Có một tiếng nổ khi mọi thứ vỡ tan tành.
Rồi chẳng còn lại gì.
Chương 1
2009
Bến xe buýt cách nhà 158 bước chân, nhưng có thể kéo ra
thành 180 bước nếu không rảo cẳng, ví như phải lúc đang đi
giày đế bục chẳng hạn. Hoặc khi đi đôi giày mua từ một cửa
hàng từ thiện, đôi giày có nơ bướm trên ngón chân nhưng
không ôm gót, thế nên chẳng lạ khi nó hạ xuống chỉ còn 1.99
bảng. Tôi rẽ qua góc vào đường nhà chúng tôi (68 bước) thì
thấy ngay ngôi nhà - một căn nhà liên kế bốn phòng ngủ nằm
trong dãy những căn nhà liên kế có ba đến bốn phòng ngủ. Xe
của bố vẫn ở bên ngoài, thế có nghĩa là bố vẫn chưa đi làm.
Sau lưng tôi, mặt trời cấp ló sau Lâu dài Stortfold, bóng tòa
lâu đài đổ dài như sáp chảy xuống phủ chụp đấy tôi. Khi tôi
còn nhỏ, cha con tôi thường chơi trò đấu súng với cái bóng dài
ngoằng của chính mình, con đường chạy trước nhà là đấu
trường O. K. Corral. Nếu phải ngày khác, có lẽ tôi đã kể cho
bạn nghe bao chuyện từng xảy ra với tôi trên tuyến đường này:
nơi bố dạy tôi đi xe đạp mà không có bánh phụ; nơi bà
Doherty có mái tóc giả rẽ ngôi lệch thường làm bánh kiểu xứ
Wales cho chúng tôi; nơi mà năm mười một tuổi, Treena thọc
tay vào bờ rào quậy một tổ ong vò vẽ để rồi chúng tôi vừa
chạy vừa la hò ầm ĩ suốt dọc đường trở lại lâu đài.
Chiếc xe đạp ba bánh của Thomas nằm chổng vó trên con
đường, thế nên khi đã khép cổng lại sau lưng, tôi kéo nó vào
dưới thềm rồi mở cửa nhà. Khí ấm ùa vào tôi như một túi khí
bung ra; mẹ rất sợ cái lạnh nên luôn giữ nhà ấm áp quanh năm.
Bố thì luôn mở cửa sổ, phàn nàn rằng mẹ tiêu phí bao nhiêu
tiền của gia đình. Ông nói tiền sưởi nhà tôi còn cao hơn GDP
của một đất nước be bé ở châu Phi.
“Con đó à, con yêu?”
“Vâng ạ.” Tôi treo áo khoác lên móc, phải chật vật lắm mới
kiếm được chỗ cho nó giữa đống quần áo khác.
“Mà đứa nào đấy nhỉ? Lou à? Hay Treena?”
“Lou ạ.”
Tôi ngó quanh cửa phòng khách. Bố tôi úp mặt lên sofa, cánh
tay ông chọc sâu vào giữa đống gối nệm, như thể chúng đã
nuốt gọn cả cánh tay ông. Thomas, thằng cháu lên năm của tôi,
đang ngồi trên mông ông, chăm chú ngắm nhìn ông.
“Hãng đồ chơi Lego.” Bố ngoảnh bên nhìn tôi, mặt nhăn nhúm
vì nỗ lực. “Sao người ta phải làm những mảnh nhỏ thế này bố
cũng chẳng biết nữa. Con có thấy cánh tay trái của Obi-Wan
Kenobi không?”
“Nó nằm trên đầu đĩa DVD đấy ạ. Con nghĩ thằng bé đã đổi
hai cánh tay của Obi với hai cánh tay của Indiana Jones.”
“À, có vẻ như giờ Obi không thể nào mang cánh tay màu be
được nữa. Chúng ta phải có cánh tay màu đen.”
“Chuyện đó thì có gì đáng lo đâu bố. Chẳng phải ở tập hai
Darth Vader chặt đứt cánh tay của Obi sao?” Tôi chỉ vào má
mình để bảo Thomas hôn. “Mẹ đâu bố?”
“Trên lầu. Thế thì sao chứ? Một mảnh ghép hai bảng đấy!”
Tôi ngước lên, chỉ nghe được tiếng lách cách của cầu ủi. Mẹ
tôi, Josie Clark, không bao giờ ngồi không. Đó là một chuyện
để tự hào. Điển hình nhất là cảnh bà đứng trên cái thang ngoài
trời để sơn cửa sổ, thỉnh thoảng lại ngừng lại, vẫy vẫy tay,
trong khi cả nhà chúng tôi đang ăn đồ nướng.
“Con có thể cầm cái cánh tay chết tiệt này cho bố được không?
Thằng bé bắt bố tìm nửa tiếng rồi, mà giờ bố phải chuẩn bị đi
làm.”
“Bố phải làm đêm à?”
“Ừ. Năm rưỡi.”
Tôi liếc nhìn đồng hồ. “Thật ra mới bốn rưỡi mà.”
Ông rút cánh tay ra khỏi đống gối rồi xem đồng hồ. “Thế con
làm gì ở nhà lúc còn sớm thế này?”
Tôi khe khẽ lắc đầu như thể mình không hiểu được câu hỏi ấy,
rồi đi vào bếp.
Ông ngoại đang ngồi trên chiếc ghế quen thuộc bên cửa sổ
gian bếp, nghiên cứu một bảng Sudoku. Bác sĩ thăm bệnh tại
nhà đã nói với chúng tôi rằng trò đó tốt cho tính tập trung của
ông, giúp ông dễ tập trung hơn sau khi bị tai biến. Tôi ngờ
rằng mình là người duy nhất để ý thấy ông chỉ điền bừa vào tất
cả các ô trống bất kể con số nào ngẫu nhiên xuất hiện trong
đầu.
“Chào ông.”
Ông ngước lên mỉm cười. “Ông muốn uống trà không ạ?”
Ông lắc đầu, hơi mở miệng.
“Nước mát nhé?”
Ông gật đầu.
Tôi mở cửa tủ lạnh. “Không có nước táo rồi.” Tôi sực nhớ ra
nước táo quá đắt. “Nước ngọt Ribena nhé?”
Ông lắc đầu.
“Nước lọc?”
Ông gật đầu, lẩm bẩm gì đó nghe như cảm ơn khi tôi đưa ly
nước cho ông.
Mẹ tôi đi vào bếp, bưng một giỏ bự đựng đồ mới giặt được
gấp gọn gàng. Mẹ tôi huơ huơ một đôi tất. “Của con à?”
“Chắc là của Treena đấy.”
“Thế mà mẹ cứ tưởng. Màu mè gì mà kỳ cục. Mẹ nghĩ đôi này
đi tông với bộ pyjama màu mận chín của bố con. Con về sớm
thế. Định đi đâu à?”
“Không ạ.” Tôi vặn vòi hứng một ly nước đầy rồi uống.
“Chốc nữa Patrick có tới không? Ban nãy nó gọi đấy. Con tắt
điện thoại à?”
“Ừm.”
“Nó nói nó đặt xong chỗ cho kỳ nghỉ của hai đứa rồi. Bố con
nói ông ấy có nghe về chỗ đó trên ti-vi. Chỗ bọn con thích
nằm ở đâu ấy nhỉ? Ipsos? Kalypsos?”
“Skiathos.”
“Đúng là nó rồi. Con phải kiểm tra lại khách sạn thật cẩn thận
nhé. Kiểm tra qua internet ấy. Lúc trưa khi đang ăn, bố con và
ông ngoại xem thấy gì đó trên bản tin. Hình như người ta đang
xây mấy tòa nhà, nửa số ngân sách được duyệt rồi đấy, chưa
tới tận nơi thì con chưa biết chắc được gì đâu. Bố ơi, bố uống
trà không ạ? Lou không mời bố à?” Mẹ tôi bật ấm nước lên rồi
liếc nhìn tôi. Có lẽ cuối cùng bà cũng nhận ra nãy giờ tôi chưa
nói gì. “Con ổn cả chứ con yêu? Trông con nhợt nhạt kinh
khủng.”
Bà đưa tay kiểm tra trán tôi, như thể tôi còn bé bỏng lắm chứ
không phải đã hai sáu tuổi.
“Con không nghĩ bọn con sẽ đi nghỉ đâu.”
Tay mẹ tôi khựng lại. Ánh mắt bà vẫn chứa cái vẻ thấu hiểu
vốn có từ thời tôi còn thơ dại. “Con với Pat đang trục trặc à?”
“Mẹ à, con…”
“Mẹ không định can thiệp đâu. Chỉ có điều hai đứa đã bên
nhau lâu lắm rồi. Cũng tự nhiên thôi nếu đôi khi mọi chuyện
trở nên hơi bế tắc. Ý mẹ là, mẹ với bố con, bố mẹ…”
“Con mất việc rồi.”
Giọng tôi khiến cả không gian lặng như tờ. Những từ ấy cứ
treo lơ lửng ở đó, rất lâu sau khi âm thanh đã tắt ngấm chúng
mới chịu tự mình biến đi.
“Con làm sao cơ?”
“Frank đóng cửa quán cà-phê. Từ ngày mai.” Tôi giơ ra chiếc
phong bì hơi ẩm do tôi đã quá hoang mang mà siết chặt trên
suốt đường về nhà. Suốt 180 bước chân từ bến xe buýt. “Ông
ấy đưa con ba tháng lương.”
Hôm nay cũng bắt đầu như bao ngày khác. Ai ai tôi biết cũng
đều chẳng ưa gì sáng thứ Hai, nhưng với tôi thì không thành
vấn đề. Tôi luôn thích đến quán Bánh Bơ thật sớm, đỏ lửa đun
bình trà to đùng để trong góc, bưng mấy thùng đựng sữa và
bánh mì từ sân sau vào trong, và trò chuyện với Frank trong
lúc chúng tôi chuẩn bị mở cửa tiệm.
Tôi thích hơi ấm nồng hương thịt xông khói của quán cà-phê,
luồng khí lạnh khẽ ùa vào khi cửa mở ra khép lại, tiếng trò
chuyện rì rầm, và khi không gian yên lặng thì có tiếng cái đài
của Frank một mình ngân nga nho nhỏ trong góc. Cái quán
này không phải một nơi thời thượng - tường vẫn dán tranh
phong cảnh tòa lâu đài trên đồi, mặt bàn vẫn đóng phoóc-mica, thực đơn chẳng thay đổi gì kể từ ngày tôi vào làm, ngoài
vài thay đổi ở mục lựa chọn thanh sô-cô-la và mục bánh sô-côla và bánh xốp ăn kèm với bánh kem.
Nhưng điều quan trọng nhất là tôi rất yêu mến khách. Tôi
thích Kev và Angelo, thợ sửa ống nước, hầu như sáng nào
cũng đến và trêu chọc Frank rằng không biết người ông lấy ở
đâu ra lắm thịt thế. Tôi thích Quý bà Bồ công anh, biệt danh
đặt cho mái tóc trắng lạ kỳ của bà cụ, sáng thứ Hai cho tới
sáng thứ Năm nào cụ cũng ăn một trái trứng và khoai tây
chiên, ngồi đọc báo miễn phí của tiệm, và uống một mạch hai
tách trà. Tôi luôn cố trò chuyện với cụ. Tôi ngờ đó là cuộc trò
chuyện duy nhất trong suốt ngày dài của cụ.
Tôi thích khách du lịch, những người dừng chân trên hành
trình lên xuống tòa lâu đài, thích lũ học trò ồn ào chí chóe ghé
qua sau buổi tan trường, thích khách quen từ công sở dọc con
đường, thích hai cô thợ làm đầu Nina và Cherie biết số ca-lo
của từng món mà Bánh Bơ đưa ra. Ngay cả những vị khách
khó tính nhất, như cô nàng tóc đỏ chủ quán đồ chơi tuần nào
cũng cự cãi chuyện tiền thừa ít nhất một lần, cũng không khiến
tôi phiền lòng.
Tôi quan sát những tình yêu chớm nở rồi tàn bên những chiếc
bàn ở đó, lũ trẻ chuyền qua đổi lại giữa những cặp đôi đã ly
hôn, cảm giác được giải thoát dù trong lòng vẫn thấy có lỗi
của những ông bố bà mẹ lười nấu ăn, và niềm vui sướng âm
thầm của những người sống bằng tiền trợ cấp bên bữa điểm
tâm toàn đồ chiên. Bao nhiêu kiểu người ghé qua đây, hầu hết
đều chia sẻ vài lời với tôi, pha hài hoặc bình luận qua những
tách trà nghi ngút khói. Bố luôn nói ông chẳng tài nào biết
được lần tiếp theo tôi sẽ nói cái gì, nhưng trong quán cà phê
thì chuyện đó đâu thành vấn đề.
Frank quý tôi. Tính ông trầm lặng, thế nên ông bảo có tôi ở đó
làm cho quán sôi động hẳn lên. Công việc này hơi giống phục
vụ quán bar, nhưng không có tiếng cãi lộn ầm ĩ của những kẻ
say.
Thế rồi buổi chiều hôm đó, sau khi bữa trưa bận rộn kết thúc,
khi quán ăn vắng lặng trong chốc lát, Frank lau tay vào tạp dề,
rồi bước từ sau lò sưởi tới quay tấm bảng nhỏ có đề chữ Đóng
cửa ngoảnh mặt ra đường.
“Nào nào, Frank, cháu bảo với chú rồi mà. Giờ làm thêm
không tính vào lương tối thiểu đâu.” Nói theo cách của bố tôi
thì Frank lạ lùng như một con linh dương đầu bò. Tôi ngước
nhìn lên.
Ông không mỉm cười.
“Ôi. Cháu lại cho muối vào hũ đường phải không ạ?”
Ông vặn vẹo chiếc khăn mù soa giữa hai bàn tay, trông ông bối
rối hơn bao giờ hết. Trong một thoáng tôi tự hỏi không biết có
phải có vị khách nào phàn nàn về tôi. Thế rồi ông bảo tôi ngồi
xuống.
“Xin lỗi, Louisa,” ông nói tiếp. “Nhưng chú sắp trở lại Úc.
Sức khỏe bố chú không tốt lắm, mà có vẻ như tòa lâu đài cũng
đang bắt đầu những ngày an dưỡng của chính nó rồi. Thời
khắc suy tàn sắp đến.”
Tôi nghĩ khi ấy tôi đã ngồi đơ ra với cái miệng há hốc. Rồi
Frank đưa cho tôi chiếc phong bì, và trả lời câu tôi toan hỏi
thước khi nó kịp thoát khỏi môi tôi. “Chú biết chúng ta chưa
bao giờ ký hợp đồng chính thức hay gì cả, nhưng chú muốn
chăm sóc cháu. Trong đó là ba tháng lương. Từ mai chúng ta
đóng cửa.”
“Ba tháng!” Bố tôi la toáng lên, trong khi mẹ tôi dúi một tách
trà ngọt vào tay tôi. “Ôi chao, ông ta mới phóng khoáng làm
sao, vì con bé đã làm việc như trâu như ngựa ở đó suốt sáu
năm liền cơ mà.”
“Bernard.” Mẹ tôi ném cho bố một cái nhìn cảnh cáo, rồi gật
đầu với Thomas. Bố mẹ tôi chăm sóc thằng bé sau mỗi chiều
tan học cho tới khi Treena xong việc.
“Giờ thì con bé phải làm việc gì đây hả trời? Đáng lẽ ông ta
phải cho nó hơn một ngày chuẩn bị sau cái thông báo chết toi
đó chứ.”
“Ờ thì… con bé đi tìm việc khác là được chứ sao.”
“Chẳng có việc cóc khô nào cả, Josie. Em biết rõ không thua
gì anh mà. Chúng ta đang trong một cuộc khủng hoảng tồi tệ.”
Mẹ nhắm mắt lại một chốc, như thể để tự trấn an bản thân, rồi
nói tiếp. “Nó là đứa thông minh sáng láng. Nó sẽ tìm được cho
mình việc gì đó. Nó có hồ sơ lao động đáng tin cậy phải không
nào? Frank sẽ nói tốt cho con bé.”
“Ôi tuyệt làm sao… 'Louisa Clark rất giỏi phủ bơ cho bánh
mì nướng, và có tài xoay xở với bình trà cũ rích.'.”
“Cảm ơn vì sự khích lệ của bố.”
“Bố chỉ nói thế thôi.”
Tôi biết nguyên nhân sâu xa sự căng thẳng của bố. Bố mẹ sống
dựa vào đồng lương của tôi. Treena chẳng kiếm được là bao từ
cửa hàng hoa. Mẹ không làm được gì vì bà còn phải chăm sóc
ông ngoại, và tiền trợ cấp của ông ngoại cũng không đáng kể.
Bố sống trong trạng thái lo lắng triền miên cho công việc ở
xưởng sản xuất đồ gỗ gia dụng. Mấy tháng nay ông chủ của bố
cứ lầm rầm về khả năng thừa nhân sự. Ở nhà thì lại có tiếng
lầm rầm về nợ nần và chuyện duy trì thẻ tín dụng. Hai năm
trước bố đã bán hạ giá chiếc xe của ông cho một tay tài xế
không có bảo hiểm, và chẳng hiểu sao chuyện đó đủ khiến cho
toàn bộ cái cơ ngơi đang lung lay là tài chính của bố mẹ tôi
cuối cùng cũng sụp đổ. Từ đó đồng lương nhỏ nhoi của tôi là
khoản tiền chính eo hẹp dành cho chi tiêu trong nhà, đủ để
giúp gia đình sống đắp đổi qua ngày.
“Chúng ta đừng nói trước điều gì cả. Ngày mai con bé có thể
đi thẳng xuống Trung tâm giới thiệu việc làm để xem có việc
gì đang cần người không. Giờ thì nó phải chịu đựng đủ rồi
đấy.” Họ nói chuyện cứ như thể tôi không ở đó. “Con bé rất
thông minh cơ mà. Con thông minh lắm, phải không con yêu?
Có lẽ con bé sẽ học một khóa đánh máy. Đi làm việc văn
phòng.”
Tôi ngồi đó, trong khi bố mẹ tôi bàn luận xem bằng cấp hạn
chế như tôi thì có thể làm được việc gì. Công nhân, thợ máy,
người đánh bơ. Lần đầu tiên trong buổi chiều hôm đó, tôi
muốn khóc. Thomas nhìn tôi chăm chú với đôi mắt to tròn và
lẳng lặng đưa cho tôi một chiếc bánh quy.
“Cảm ơn Tommo,” tôi thì thào khe khẽ, rồi ăn cái bánh.
Anh đang ở dưới đường, tôi biết rõ như thế. Từ thứ Hai tới thứ
Năm, đều đặn như giờ tàu chạy, Patrick không ở trong phòng
tập thể hình thì cũng chạy vòng vòng quanh con đường tràn
ánh sáng. Tôi bước xuống bậc tam cấp, khoanh tay ôm người
cho đỡ lạnh, chầm chậm bước ra đường, vẫy vẫy khi anh tới
đủ gần để nhận ra tôi.
“Chạy với anh,” anh nói hổn hển khi tiến lại gần hơn. Hơi thở
của anh tạo thành đám khói mờ mờ. “Anh còn phải chạy bốn
vòng nữa.”
Tôi ngần ngừ một thoáng, rồi bắt đầu chạy bên cạnh anh. Đó
là cách duy nhất giúp tôi có thể trò chuyện đôi lời với anh. Tôi
đang đi đôi giày màu hồng với dây buộc màu xanh ngọc, đôi
giày duy nhất tôi đủ tiền mua.
Cả ngày hôm nay tôi ở nhà, cố gắng tỏ ra có ích. Nhưng chắc
chỉ được một giờ đồng hồ là tôi ríu chân mẹ. Mẹ và ông ngoại
tôi có nhịp sống riêng, thế nên sự có mặt của tôi làm họ vướng
víu. Bố thì đang ngủ, vì tháng này phải làm đêm, nên không bị
quấy quả. Tôi dọn phòng riêng, rồi bật ti-vi thật nhỏ để xem,
chốc chốc khi nhớ ra vì sao mình lại ở nhà giữa buổi ngày thế
này, tôi lại cảm thấy ngực mình đau nhói.
“Anh không nghĩ lại thấy em cơ đấy.”
“Em chán ở nhà rồi. Em đã nghĩ biết đâu chúng ta có thể làm
gì đó.”
Anh nhìn nghiêng qua tôi. Anh khéo léo khoác lên vẻ mặt dịu
dàng. “Em yêu, em tìm được việc khác càng sớm càng tốt
đấy.”
“Em mới mất việc cũ cả thảy có hai mươi tư giờ thôi mà. Em
có được phép buồn bã u sầu một chút xíu không? Anh biết
đấy, chỉ trong hôm nay thôi?”
“Nhưng em phải nhìn vào mặt tích cực. Em đã biết em không
thể làm ở chỗ đó mãi mà. Em phải tiến lên, tiến tới.” Hai năm
trước Patrick được khen thưởng Doanh nhân trẻ Stortfold tiêu
biểu, đến giờ vẫn chưa thoát khỏi cái bóng vinh quang đó. Từ
ngày ấy, anh yêu cầu Ginger Pete, một cộng sự, đưa ra chương
trình huấn luyện thể hình cho khách hàng trong vòng bán kính
40 dặm cùng hai xe tải chuyên dụng hỗ trợ. Trong văn phòng
của anh còn có bảng trắng, anh thích dùng bút dạ màu đen thật
đậm nguệch ngoạc lên đó doanh số dự kiến, sửa đi sửa lại
những con số đó cho tới khi chúng khiến anh hài lòng mới
thôi. Tôi chẳng bao giờ dám chắc mười mươi rằng chúng có
giống với thực tế tí nào hay không.
“Mất việc nhiều khi có thể thay đổi cuộc đời của người ta đấy
Lou ạ.” Anh liếc đồng hồ, kiểm tra ô đếm giờ. “Em muốn làm
gì? Em có thể học nghề. Anh tin rằng họ sẽ làm được rất nhiều
cho những người như em.”
“Người như em?”
“Những người đang tìm kiếm cơ hội mới. Em muốn trở thành
người thế nào? Em có thể chăm sóc sắc đẹp. Em đủ xinh đấy.”
Anh thúc tay tôi khi chúng tôi chạy, như thể tôi phải thấy biết
ơn về lời khen ngợi đó.
“Anh biết nhịp điệu làm đẹp của em mà. Xà phòng, nước, túi
giấy quê cục.” Patrick đang bắt đầu tỏ vẻ chán ngán.
Tôi dần dần tụt lại phía sau. Tôi ghét chạy. Tôi ghét anh không
chịu chạy chậm lại.
“Nghe này… nhân viên bán hàng. Thư ký. Nhân viên đại lý
nhà đất. Anh không biết nữa… phải có việc gì đó em muốn
làm chứ.”
Nhưng đâu có. Tôi đã rất thích làm việc ở quán cà-phê. Tôi
thích biết mọi thứ cần phải biết ở quán Bánh Bơ, thích nghe về
cuộc đời của những người ghé qua đó. Tôi đã rất thoải mái khi
ở đấy.
“Em không thể chán nản hoài được, em yêu. Phải vượt qua
chứ. Mọi doanh nhân hàng đầu đều tìm được cho mình con
đường vươn lên sau bước thăng trầm. Jeffrey Archer làm
được. Richard Branson cũng thế.” Anh vỗ vào cánh tay tôi, cố
thúc tôi chạy theo cho kịp.
“Em nghi ngờ liệu đã bao giờ Jeffrey Archer mất việc nướng
bánh ngọt chưa.” Tôi thở không ra hơi. Tôi đang mặc áo lót
không phù hợp. Tôi chạy chậm lại, thõng hai tay trên đầu gối.
Anh quay người, chạy giật lùi, giọng anh mang theo không khí
tĩnh mịch lạnh ngắt. “Nhưng giả sử ông ấy từng… Anh nói thế
thôi. Quên chuyện kia đi, mặc một bộ quần áo tươm tất, đi
thẳng tới Trung tâm giới thiệu việc làm. Hoặc anh sẽ huấn
luyện em để làm việc với anh, nếu em thích. Em biết việc đó
cũng hái ra tiền đấy. Và đừng lo lắng về kỳ nghỉ. Anh sẽ trả.”
Tôi mỉm cười với anh.
Anh hôn gió, giọng anh vang vọng khắp đường chạy vắng vẻ.
“Em có thể trả lại anh khi em đã ổn định trở lại.”
Nỗ lực đầu tiên của tôi là tìm kiếm Trợ cấp cho người tìm
việc. Tôi tham gia một cuộc phỏng vấn 45 phút, một cuộc
phỏng vấn nhóm, trong đó tôi ngồi với một nhóm khoảng hai
mươi người cả đàn ông và đàn bà chẳng tương hợp với nhau,
một nửa số họ có cùng vẻ mặt hơi thảng thốt mà tôi ngờ là
giống với nét mặt tôi, nửa khác là những người có bộ mặt vô
hồn vô cảm vì họ đã tới đây quá nhiều lần rồi. Tôi mặc bộ đồ
mà bố tôi gọi là “đồ bình dân.”
Hệ quả của những nỗ lực đó, tôi đã phải chịu đựng làm trọn
một ca đêm ở lò giết mổ gà (việc này khiến tôi gặp ác mộng
ròng rã suốt mấy tuần liền), và hai ngày theo khóa tập huấn
làm Người tư vấn sức khỏe tại nhà. Chẳng mấy chốc tôi nhận
ra rằng về cơ bản tôi đang được đào tạo để chăm sóc người
già, thế nên tôi nói với Syed, “người tư vấn” của cá nhân tôi
rằng tôi không làm được việc đó. Anh ta khăng khăng bảo tôi
tiếp tục, vậy là tôi liệt kê ra một loạt việc người ta sẽ bắt tôi
làm, nghe tôi nói thế thì anh im lặng một lát rồi gợi ý rằng
chúng tôi (luôn là “chúng tôi” dù khá rõ ràng là người kia
trong chúng tôi đã có việc làm) sẽ thử công việc khác.
Tôi làm hai tuần trong một chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh.
Khoảng thời gian đó cũng ổn, tôi có thể đối phó được chuyện
chiếc mũ đồng phục làm tóc tôi cứng đơ, nhưng tôi không chịu
nổi cứ phải bám chặt vào kịch bản “những lời đáp phù hợp”,
với những câu như “Hôm nay tôi có thể giúp gì cô?” và “Anh
có muốn phần khoai tây chiên cỡ lớn với món đó không?” Tôi
đã bị cho thôi việc sau khi một tràng những cô nàng bán bánh
vòng bắt gặp tôi đang bàn tán về bao nhiêu giá trị khác nhau
của đồ chơi trí tuệ với một đứa trẻ bốn tuổi. Tôi có thể nói gì
được đây? Nó là một cô bé bốn tuổi rất thông minh. Tôi thì
cũng có cùng ý nghĩ là những nàng công chúa ngủ trong rừng
thật là ngớ ngẩn.
Giờ tôi đang ngồi tham dự cuộc phỏng vấn thứ tư, Syed lướt
suốt màn hình máy tính cảm ứng để tìm thêm “cơ hội” việc
làm. Ngay cả Syed, luôn mang thái độ vô cùng vui vẻ của một
người đã giúp những ứng viên khó tìm việc nhất có công việc,
cũng đang bắt đầu nói giọng hơi chán nản.
“À… Cô đã bao giờ nghĩ tới chuyện tham gia công nghiệp giải
trí chưa?”
“Sao cơ, như diễn viên kịch câm ấy hả?”
“Thật ra không phải thế. Nhưng có một vị trí trống cần vũ nữ
múa cột. Đúng hơn là mấy vị trí.”
Tôi nhướng mày. “Xin hãy nói với tôi là anh đang đùa đi.”
“Ba mươi giờ một tuần tùy chọn thời điểm. Tôi tin là tiền boa
sẽ cao.”
“Làm ơn, làm ơn nói với tôi là không phải anh đang tư vấn cho
tôi làm một công việc mà tôi phải mặc đồ lót lượn lờ trước mặt
người lạ.”
“Cô nói cô cởi mở với mọi người. Và trông cô có vẻ… lòe
loẹt… quần áo.” Anh liếc nhìn xuống chiếc quần bó của tôi, nó
mang màu xanh đính kim sa. Tôi đã nghĩ nó sẽ làm tôi vui vẻ
lên. Thomas đã ngâm nga bản nhạc nền của phim hoạt hình
Nàng tiên cá để trêu chọc tôi gần như suốt giờ ăn sáng.
Syed gõ gì đó lên bàn phím. “Thế 'người giám sát phòng chat
dành cho người lớn' thì sao?”
Tôi nhìn anh trân trân.
Anh ta nhún vai. “Cô bảo cô thích nói chuyện với mọi người
mà.”
“Không. Và không làm tiếp viên quán bar bán khỏa thân. Hay
nhân viên mát-xa. Hay người điều chỉnh webcam. Thôi nào,
Syed. Phải có việc gì đó tôi có thể làm mà thực sự không
khiến bố tôi lên cơn đau tim chứ.”
Điều này có vẻ làm anh ta bế tắc. “Chẳng còn gì nhiều ngoài
những cơ hội bán hàng thời gian tự do.”
“Việc xếp hàng trên giá siêu thị buổi tối thì sao?” Tôi đã làm
việc đó nhiều lần nên rất thành thạo.
“Có cả một danh sách chờ ở đây. Phụ huynh có xu hướng thích
làm việc đó, vì nó trùng với giờ tới trường của con cái,” Anh
ta nói giọng có lỗi. Rồi anh ta lại nghiên cứu màn hình. “Thế
thì chúng ta thực sự chỉ còn lại việc chăm sóc thôi.”
“Rửa đít cho người già.”
“Louisa ạ, tôi e là cô không đủ tiêu chuẩn làm gì khác. Nếu cô
muốn được học nghề, tôi ...
 
Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn. (Barack Obama)





