Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng Sản Việt Nam
Kien - Bernard Werber

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:57' 07-03-2024
Dung lượng: 952.8 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:57' 07-03-2024
Dung lượng: 952.8 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Chào các bạn, Đây là EBook cho thiết bị di động của trang
Web:
http://vnthuquan.net
Việt Nam Thư Quán muốn gửi đến tất cả những bạn yêu thích
văn hóa đọc cuốn sách này, đặc biệt là những người không có
điều kiện đọc những ấn phẩm sách thông thường. Tuy nhiên,
trong khả năng có thể, các bạn hãy mua và thưởng thức sách
giấy như một sự tôn trọng đối với các tác giả và các nhà xuất
bản.
Ebook này được Việt Nam Thư Quán đăng tải trên trang
vnthuquan.net. Các bạn có thể sử dụng dưới bất kỳ hình thức
nào như: sao lưu, sử dụng bài viết, tư liệu, đăng trên các diễn
đàn hay trang Web khác, chỉ có một yêu cầu là giữ nguyên nội
dung cũng như ghi rõ nguồn cung cấp như một sự tôn trọng
đối với những người thực hiện.
Chế bản ebook: Phạm Huy Hùng.
Mục lục
Giới Thiệu
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Từ điển chú giải
Bảng nhân vật
Bernard Werber
Kiến
Giới Thiệu
T
rong vài giây bạn đọc những dòng này, trên
Trái đất có bốn mươi người được sinh ra
nhưng có tới bảy trăm triệu con kiến ra đời.
Từ hơn trăm triệu năm trước chúng ta, chúng
đã ở đó, được chia thành nhiều đội, nhiều tổ,
nhiều đế chế trên toàn bề mặt trái đất. Chúng
đã tạo ra một nền văn minh song song, xây
dựng những vương quốc thực sự, phát minh
ra vũ khí tối tân, thiết kế cả nghệ thuật chiến tranh, làm chủ
một nền công nghệ đáng kinh ngạc. Chúng có những Attila,
Christophe Colomb, Jules César, Machiavel hay Léonard de
Vinci của chính mình.
Bernard Werber sinh năm 1961 tại Toulouse,
Pháp. Ngay từ khi mười bốn tuổi, anh đã viết
truyện cho một tập san nhỏ về khoa học viễn
tưởng. Sau khi học luật tại Toulouse và báo chí
tại Pháp, Bernard Werber dành hơn mười năm
làm nhà báo khoa học và đã từng cộng tác với
rất nhiều tờ có tên tuổi nhưNouvel
Observateur, Le Point, Ça m'intéresse. Sau đó,
anh tập trung vào viết văn. Ngay từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên
xuất bản năm 1992,Kiến, nhà văn này đã nổi tiếng với một
phong cách viết độc đáo, pha trộn giữa loại truyện phiêu lưu,
khoa học viễn tưởng và triết lý.Kiếnđã giành giải thưởng của
độc giả tờKhoa học và Tương lai (Sciences et Avenir). Cuốn
thứ hai trong bộ ba tiểu thuyết về kiến,Le jour des fourmis
(Ngày của kiến), ra đời ngay sau đó, đã được nhận giải thưởng
lớn của độc giả tờ Elle.
Các tác phẩm của Bernard Werber đã được dịch ra hơn 35 thứ
tiếng. Với 15 triệu bản bán được trên toàn thế giới, cùng với
Marc Levy, Bernard Werber là một trong những nhà văn Pháp
đương đại nổi tiếng nhất.
Ngoài tiểu thuyết, Bernard Werber còn được biết đến với
truyện ngắn, truyện tranh, kịch và phim.
Bernard Werber
Kiến
Chương 1
Người thức tỉnh
A
nh sẽ thấy, không hoàn toàn như anh mong
đợi đâu. Công chứng viên giải thích rằng tòa
nhà được xếp hạng di tích lịch sử và nhiều
nhà hiền triết thời Phục hưng đã từng sống ở
đây, nhưng ông không nhớ là những ai.
Họ xuống cầu thang, bước vào một hành lang
tối om nơi công chứng viên dò dẫm hồi lâu,
uổng công bật một cái nút trước khi thở dài:
- Ái chà! Nó không chạy nữa.
Họ tiến trong bóng tối, lộp cộp lần theo các bức tường. Khi
cuối cùng công chứng viên tìm thấy cái cửa, mở nó và nhấn,
lần này thì thành công, trúng cái công tắc, ông thấy khách
hàng của mình mặt mày biến sắc.
- Không ổn à, ông Wells?
- Một chứng sợ thôi. Không sao đâu.
- Sợ bóng tối?
- Vâng. Nhưng đã khá hơn rồi.
Họ xem xét mọi ngóc ngách. Đó là tầng hầm rộng hai trăm
mét vuông. Dù nó chỉ mở ra phía ngoài bằng vài ô cửa tầng
hầm hiếm hoi, bé xíu và sát trần, Jonathan vẫn hài lòng về căn
hộ. Các bức tường được dán giấy xám đơn điệu, và bụi phủ
khắp nơi… Nhưng anh sẽ không tỏ ra khó tính hơn.
Căn hộ của anh hiện nay chỉ rộng bằng một phần năm căn hộ
này. Hơn nữa, anh không còn khả năng để trả tiền thuê; nhà
máy khóa nơi anh làm mới đây đã quyết định bỏ qua công
đoạn của anh.
Món thừa kế của bác Edmond đúng là của trời cho không tin
được.
Hai ngày sau, anh dọn đến số 3, phố Sybarites với vợ mình là
Lucie, cậu con trai Nicolas và con chó bông lùn cụt đuôi
Ouarzazate của họ.
- Mấy bức tường xám này không làm em ngại đâu, Lucie vừa
nói vừa lấy tay nâng mái tóc đỏ dày của cô. Chúng mình có
thể trang trí như chúng mình muốn. Mọi thứ ở đây đều phải
làm lại hết. Như kiểu mình biến nhà tù thành khách sạn đấy.
- Phòng của con ở đâu ạ? Nicolas hỏi.
- Phía cuối, bên phải.
- Ẳng ẳng, con chó sủa, và nó bắt đầu nhay nhay bắp chân
Lucie mà không biết là cô đang bưng chồng bát đĩa đám cưới
trong tay.
Kết cục, nó nhanh chóng bị nhốt vào nhà vệ sinh; khóa hẳn
hoi, vì nó biết nhảy tới tận tay nắm cửa và biết xoay để mở
cửa.
- Anh có biết rõ ông bác hào phóng của anh không? Lucie tiếp
tục.
- Bác Edmond? Thực ra, tất cả những gì anh nhớ, chỉ là bác
nhấc anh lên giả làm máy bay, lúc anh còn rất nhỏ. Một lần
anh sợ đến nỗi anh đã tè dầm lên bác ấy.
Họ cười.
- Đã nhát gan thế cơ à? Lucie trêu.
Jonathan làm ra vẻ không nghe thấy gì.
- Bác ấy không trách anh về chuyện đó. Bác chỉ nói với mẹ
anh: “Được rồi, chúng ta biết là sẽ không cho nó thành phi
công…” Sau đó, mẹ nói rằng bác theo sát suốt cuộc đời anh,
nhưng anh không gặp lại bác từ ấy.
- Bác làm nghề gì?
- Đó là một nhà bác học. Một nhà sinh học, hình như thế.
Jonathan trở nên trầm tư. Cuối cùng, thậm chí anh cũng không
biết ân nhân của mình.
Cách đó 6 km:
BEL-O-KAN,
Cao một mét.
50 tầng dưới lòng đất.
50 tầng trên mặt đất.
Thành phố lớn nhất của vùng.
Dân số ước tính: 18 triệu.
Sản lượng hàng năm:
- 50 lít mật rệp.
- 10 lít mật sâu yên chi.
- 4 kilô nấm mũ.
- Đá được dũi: 1 tấn.
- Số km hành lang đi lại được: 120.
- Diện tích trên mặt đất: 2m2.
Một tia sáng vụt qua. Một cái chân vừa nhúc nhích. Cử động
đầu tiên từ đợt bắt đầu ngủ đông, cách đây ba tháng. Một cái
chân khác từ từ tiến, kết thúc là hai cái chân dần dần tách ra.
Một cái chân khác duỗi ra. Rồi đến bộ ngực. Rồi một cái thân.
Rồi mười hai cái thân.
Chúng rùng mình để giúp dòng máu trong suốt lưu thông trong
các động mạch của mình. Máu chuyển từ trạng thái sền sệt
sang nhão rồi lỏng. Dần dần van tim bắt đầu hoạt động trở lại.
Nó đẩy máu tới tận cuối các chi. Các cơ sinh học nóng dần
lên. Các khớp siêu phức tạp xoay từ từ. Khắp nơi, xương bánh
chè với các mảng bảo vệ cố tìm thấy cực điểm xoắn của
chúng.
Chúng tỉnh dậy. Cơ thể lấy lại hơi. Các động tác của chúng rời
rạc. Như vũ điệu quay chậm. Chúng lắc nhè nhẹ, vẩy vẩy.
Chân trước chúng chập lại trước miệng như kiểu đang cầu
nguyện, nhưng không phải, chúng làm ướt các chân của mình
để đánh bóng râu.
Mười hai con vừa thức dậy xoa cho nhau. Sau đó chúng tìm
cách đánh thức những con bên cạnh. Nhưng chúng mới chỉ có
đủ sức để nhúc nhích mỗi cơ thể mình, chúng không còn năng
lượng để cho đi. Chúng bỏ cuộc.
Rồi chúng khó nhọc tiến đến giữa những cơ thể cứng như
tượng của các chị em mình. Chúng hướng về bên Ngoài rộng
lớn. Toàn bộ cơ thể máu lạnh của chúng cần phải hứng lấy
năng lượng mặt trời.
Chúng tiếp tục tiến lên, mệt nhoài. Mỗi bước đi là cả một sự
đau đớn. Chúng muốn nằm lại đến chừng nào và muốn được
yên tĩnh như hàng triệu bạn đồng loại của chúng! Nhưng
không. Chúng là những người đầu tiên thức tỉnh. Bây giờ
chúng phải đánh thức toàn thành phố.
Chúng qua thành phố. Ánh sáng mặt trời làm chúng chói mắt,
nhưng tiếp xúc với năng lượng trong lành sảng khoái đến
nhường nào.
Mặt trời rọi chiếu trên cơ thể gầy của chúng ta,
Lay tỉnh những cơ bắp đau nhức
Và hợp nhất các suy nghĩ tản mát.
Đó là một khúc ca ban mai cổ xưa của loài kiến đỏ hung từ
hàng trăm nghìn năm nay. Từ thời đó, chúng đã muốn lẩm
nhẩm hát trong đầu ngay lần đầu tiếp xúc với nắng ấm.
Khi đã ở ngoài, chúng bắt đầu vệ sinh một cách bài bản.
Chúng tiết ra một thứ nước dãi trắng rồi dùng nó thoa đều các
hàm và chân chúng.
Chúng chải chuốt. Đó là nghi lễ bất di bất dịch. Đầu tiên là
mắt. Một nghìn ba trăm ô nhỏ tạo thành con mắt lồi được phủi
bụi, làm ẩm, sấy khô. Chúng cũng làm như thế với râu, chi
dưới, chi giữa, và chi trước. Cuối cùng, chúng đánh bóng thân
hình bóng đỏ đẹp đẽ của mình cho tới khi lấp lánh như những
tia lửa.
Trong số mười hai con tỉnh dậy, có một con đực giống. Nó nhỏ
hơn một chút so với kích cỡ trung bình dân Bel-o-kan. Nó có
hàm trên hẹp và nó được lên kế hoạch để không sống quá vài
tháng, nhưng nó cũng được hưởng những lợi thế mà đồng loại
không biết.
Lợi thế đầu tiên về đẳng cấp: với tư cách là động vật sinh sản
hữu tính, nó có năm mắt. Hai mắt lớn hình cầu giúp nó nhìn
tận 180°. Ba mắt nhỏ hơn xếp thành hình tam giác trên trán.
Những con mắt dư thừa này thực ra là bộ phận tiếp nhận tia
hồng ngoại cho phép phát hiện bất kỳ nguồn nhiệt nào từ xa,
dù có ở trong bóng tối hoàn toàn.
Một đặc trưng quý giá biết bao đối với dân cư các thành phố
lớn có từ hàng trăm nghìn thiên niên kỷ, hoàn toàn bị mù do
phải sống dưới lòng đất.
Nhưng nó không chỉ có đặc điểm này. Nó cũng có cánh (như
những con cái) để có thể bay đi giao phối.
Ngực của nó được bảo vệ bởi một tấm chắn đặc biệt: lá chắn
ngực.
Râu của nó dài hơn và thính hơn những dân cư khác.
Con đực giống trẻ này dừng lại một hồi lâu trên mái, ních căng
bụng ánh sáng mặt trời. Sau đó, khi đã được sưởi ấm no nê, nó
quay vào thành phố. Tạm thời nó thuộc về đẳng cấp kiến “sứ
giả truyền nhiệt”.
Nó di chuyển trong hành lang tầng thứ ba dưới lòng đất. Ở
đây, mọi người còn đang say sưa ngủ. Những cơ thể đông
cứng bất động. Râu bị bỏ phí.
Những con kiến vẫn còn say giấc nồng.
Chàng kiến đực trẻ tiến về phía một con kiến thợ mà nó muốn
đánh thức dậy bằng nhiệt cơ thể mình. Sự tiếp xúc ấm áp giữa
hai cơ thể khiến nó có cảm giác tê tê dễ chịu.
Tiếng bước chân nhẹ vang lên ngay hồi chuông thứ hai. Cửa
mở, dừng một chút khi bà Augusta tháo dây xích an toàn ở cửa
ra.
Từ khi hai con mất, bà sống tách biệt trong căn hộ nhỏ ba
mươi mét vuông này, ôn lại những kỷ niệm cũ. Điều đó chẳng
thể khiến bà thấy tốt hơn, nhưng cũng không làm giảm lòng
tốt của bà về bất cứ mặt nào.
- Bà biết là buồn cười, nhưng đi đôi dép vải này vào. Bà mới
đánh xi sàn nhà.
Jonathan nghe lời. Bà lon ton đi trước anh, dẫn anh vào phòng
khách, rất nhiều đồ gỗ trong phòng còn phủ khăn. Ngồi ở mép
tràng kỷ lớn, Jonathan không tài nào tránh khỏi làm cái vỏ bọc
bằng nhựa kêu sột soạt.
- Bà mừng là cháu tới… Có lẽ cháu không tin, nhưng bà định
gọi cho cháu mấy ngày nay.
- Thế ạ?
- Nhớ là Edmond để lại một thứ cho cháu. Một bức thư. Bác
ấy nói là: nếu con chết, bằng mọi giá mẹ phải đưa thư này cho
Jonathan.
- Một bức thư ạ?
- Một bức thư, ừ, một bức thư… Ừm, bà cũng chẳng biết để nó
ở đâu nữa. Chờ bà chút… Bác ấy đưa cho bà bức thư, bà nói
với bác ấy là bà sẽ cất nó, bà cất nó trong một cái hộp. Có lẽ là
một trong mấy cái hộp sắt trắng ở cái tủ tường lớn.
Bà bắt đầu lê dép trên sàn nhà, nhưng dừng lại ngay ở bước
thứ ba.
- Xem nào, bà ngớ ngẩn quá! Bà tiếp đón cháu thế đấy! Cháu
uống một tách trà cỏ roi ngựa không?
- Dạ, có ạ.
Bà tiến vào bếp và khua nồi xoong.
- Cho bà biết chút tin tức của cháu đi, Jonathan! bà nói.
- Dạ, cũng không kinh khủng lắm. Cháu bị cho nghỉ việc rồi.
Bà thò mái đầu bạc trắng ra khỏi cửa, rồi hẳn cả người, vẻ
nghiêm trọng, lọt thỏm trong cái tạp dề dài màu xanh nước
biển.
- Họ đuổi cháu á?
- Vâng.
- Tại sao?
- Bà biết đấy, nghề thợ khóa là một môi trường đặc biệt. Công
ty của cháu, “SOS Khóa”, hoạt động 24 trên 24 khắp các khu
phố ở Paris. Thế nhưng, từ khi một trong các đồng nghiệp của
cháu bị tấn công, cháu từ chối đến các khu lộn xộn vào buổi
tối. Thế là họ đuổi cháu.
- Cháu làm đúng đấy. Thà thất nghiệp và khỏe mạnh còn hơn
là ngược lại.
- Hơn nữa, cháu không hợp với sếp của cháu lắm.
- Còn kinh nghiệm cộng đồng không tưởng của cháu? Thời bà,
người ta gọi là cộng đồng New Age. (Bà lén cười, bà phát âm
là “nu-i-az”(1)).
- Cháu thôi sau thất bại ở trang trại Pyrénées. Lucie chán phải
nấu ăn và rửa bát cho tất cả mọi người. Trong hội cháu, có
nhiều người ỷ lại lắm. Chúng cháu rất bực mình. Bây giờ cháu
chỉ sống với mỗi Lucie và Nicolas… Còn bà, bà ngoại, bà
khỏe không?
- Bà á? Bà tồn tại. Thế đã là cả một mối bận tâm thường xuyên
rồi.
- Bà số đỏ! Bà đã sống qua thời khắc chuyển giao giữa hai
thiên niên kỷ rồi…
- Ồ! Cháu biết đấy, điều làm bà ấn tượng nhất là chẳng có gì
thay đổi cả. Trước đây, khi bà còn bé, người ta nói là sau khi
qua thiên niên kỷ mới, sẽ có rất nhiều điều kỳ diệu, và cháu
thấy đấy, chẳng có gì tiến hóa cả. Lúc nào cũng có người già
sống đơn côi, luôn đầy người thất nghiệp, vẫn đầy ô tô nhả
khói. Ngay cả các tư tưởng cũng chẳng thèm nhúc nhích. Này
nhé, năm ngoái người ta tái phát hiện chủ nghĩa siêu thực, năm
trước nữa thì rock'n roll, và báo chí nói là hè năm nay mini
jupe quay trở lại. Nếu cứ tiếp tục thế này chắc người ta sẽ lôi
nốt những ý tưởng cũ rích từ hồi đầu thế kỷ: cộng sản, phân
tích tâm lý và thuyết tương đối…
Jonathan mỉm cười.
- Nhưng mà vẫn có nhiều tiến bộ: tuổi thọ trung bình tăng lên,
cũng như là số vụ ly hôn, mức ô nhiễm không khí, chiều dài
các tuyến tàu điện ngầm…
- Hay ho nhỉ. Bà lại cứ nghĩ là mọi người sẽ có máy bay riêng
và có thể cất cánh từ ban công… Cháu biết không, hồi bà trẻ,
mọi người đều sợ chiến tranh hạt nhân. Đúng là nỗi sợ tuyệt
vời. Chết lúc trăm tuổi trong cái lò cháy rực của một cây nấm
nguyên tử khổng lồ, chết với hành tinh… dù sao cũng kiêu
hãnh lắm chứ. Thay vì chết như thế, bà sẽ chết như một củ
khoai tây già thối. Và mọi người mặc kệ.
- Không, bà ơi, không phải thế.
Bà lau trán.
- Hơn nữa, trời nóng quá, càng ngày càng nóng hơn. Thời bà,
trời không nóng như thế này. Mùa đông ra mùa đông và mùa
hè ra mùa hè. Bây giờ, đợt nắng nóng bắt đầu ngay từ tháng
Ba.
Bà quay trở lại bếp, nhảy lên với chút khéo léo hiếm thấy, lấy
tất cả những đồ cần thiết để làm một tách trà cỏ roi ngựa thơm
ngon. Sau khi bà quẹt một que diêm và người ta nghe thấy
tiếng ga thổi trong những đường dẫn cũ của cái bếp, bà quay
lại, vẻ thoải mái hơn.
- Nhưng thực ra, cháu phải có lý do chính xác nào thì mới tới
đây chứ. Ngày nay, người ta không đến thăm những người già
như thế.
- Đừng cay nghiệt như thế, bà.
- Bà không cay nghiệt, bà biết mình đang sống trong thế giới
nào, thế thôi. Nào, nhõng nhẽo đủ rồi, nói cho bà biết cái gì
đưa cháu đến đây.
- Cháu muốn bà nói cho cháu về “bác ấy”. Bác ấy để lại cho
cháu căn hộ của bác và cháu thậm chí không biết bác…
- Edmond? Cháu không nhớ Edmond à? Thế mà, bác ấy rất
thích nâng cháu lên để cháu làm máy bay khi cháu còn bé. Bà
thậm chí còn nhớ một lần…
- Vâng, cái đó cháu cũng nhớ, nhưng ngoài giai thoại này, là
con số không.
Bà ngồi trong một cái ghế bành lớn và chú ý không làm nhàu
cái vỏ quá.
- Edmond, hừm, đó là một nhân vật. Ngay từ khi còn rất nhỏ,
bác cháu đã gây cho bà lắm điều phiền nhiễu. Là mẹ bác ấy
không phải việc tầm thường đâu. Ví dụ nhé, bác ấy thường
làm gẫy hết đồ chơi của mình để tháo chúng, hiếm khi để lắp
lại chúng. Và giá như bác ấy chỉ phá mỗi đồ chơi của mình!
Bác ấy tháo mọi thứ: đồng hồ treo tường, máy quay đĩa, bàn
chải đánh răng điện. Một lần, bác ấy thậm chí tháo cả tủ lạnh.
Như để khẳng định lời bà nói, cái đồng hồ quả lắc cổ ở phòng
khách bắt đầu kêu lên buồn bã. Nó cũng thế, nó cũng phải chịu
đủ mọi loại khổ sở với cậu bé Edmond.
- Và sau đó bác ấy có một ý thích riêng: hang ổ. Bác ấy bới
tung nhà lên để xây chỗ trú cho mình. Bác ấy xây một cái bằng
chăn và ô ở trên tầng áp mái, cái khác với ghế và áo choàng
lông trong phòng mình. Bác ấy thích ẩn như thế ở bên trong,
giữa đống kho báu mà bác ấy tích vào. Một lần bà nhìn vào,
đầy gối ôm và một mớ linh tinh máy móc mà bác ấy giật ở các
máy ra. Vả lại, nó cũng có vẻ khá tiện nghi thoải mái.
- Tất cả trẻ con đều làm thế…
- Có thể, nhưng ở bác ấy là mức độ đáng kinh ngạc. Bác ấy
không ngủ trên giường nữa, bác ấy chỉ đồng ý ngủ ở một trong
các cái tổ của mình. Thỉnh thoảng, có những khi bác ấy ở
trong đó cả ngày không nhúc nhích. Cứ như là bác ấy đang
ngủ đông. Thậm chí, mẹ cháu còn cho rằng kiếp trước, bác ấy
chắc phải là con sóc.
Jonathan mỉm cười để cổ vũ bà tiếp tục.
- Một hôm, bác ấy muốn xây lều của mình giữa mấy cái chân
bàn trong phòng khách. Đúng là giọt nước làm tràn ly, ông
cháu phát điên lên, mà không phải ông thường như thế. Ông
đét đít bác ấy, phá tất cả tổ và bắt bác ấy ngủ trên giường.
Bà thở dài.
- Từ hôm đó, bác hoàn toàn tuột khỏi ông bà. Giống như người
ta cắt dây rốn. Ông bà không còn thuộc vào thế giới của bác ấy
nữa. Nhưng bà nghĩ sự thử thách này là cần thiết, bác ấy cần
phải biết thế giới không chịu theo mãi những đòi hỏi thất
thường của bác ấy. Sau này, khi lớn lên, sẽ có nhiều vấn đề.
Bác ấy không chịu đựng được trường học. Cháu sẽ nói với bà
là: “như mọi đứa trẻ”. Nhưng ở bác ấy mọi việc còn đi xa hơn.
Cháu có biết nhiều đứa trẻ treo cổ trong nhà vệ sinh bằng thắt
lưng của mình vì bị giáo viên mắng chưa? Bác ấy á, bác ấy đã
treo mình như thế năm bảy tuổi. Chính bác lao công đã đỡ bác
ấy xuống.
- Có thể bác ấy quá nhạy cảm…
- Nhạy cảm? Cháu nói thế! Một năm sau, bác ấy cố tình đâm
một trong những giáo viên của mình bằng kéo. Bác ấy nhắm
vào tim. May mắn sao, nó chỉ làm hỏng hộp thuốc lá của thầy
giáo.
Bà ngước mắt lên trần nhà. Những kỷ niệm tản mác rơi xuống
ý nghĩ của bà như những bông tuyết.
- Sau đó có vẻ ổn thỏa hơn một chút, vì một số giáo viên thu
hút được bác ấy. Bác ấy đạt điểm hai mươi cho những môn
bác ấy quan tâm và điểm không cho những môn khác. Luôn là
hai mươi hoặc không.
- Mẹ nói bác ấy là thiên tài.
- Bác ấy mê hoặc mẹ cháu đấy vì bác ấy giải thích cho mẹ
cháu rằng bác ấy cố đạt đến “tri thức tuyệt đối”. Ngay lúc
mười tuổi, mẹ cháu đã tin là có kiếp trước, nên nghĩ bác ấy là
hiện thân của Einstein hay Léonard de Vinci.
- Thêm cả con sóc nữa chứ?
- Tại sao không? “Cần phải có nhiều cuộc sống để tạo nên một
linh hồn…” đức Phật đã nói thế.
- Bác ấy có làm trắc nghiệm IQ không?
- Có. Rất là tồi. Bác ấy đạt 23 trên 180, điểm tương đương với
một đứa hơi ngốc. Giáo viên nghĩ là bác ấy điên và phải cho
bác ấy đến một trung tâm chuyên biệt. Nhưng bà biết là bác ấy
không điên. Bác ấy chỉ ở “bên cạnh” thôi. Bà nhớ một lần, ồ!
có lẽ bác ấy vừa tròn mười một tuổi, bác ấy thách bà xếp được
bốn hình tam giác bằng nhau chỉ với sáu que diêm. Không dễ
tí tẹo nào, cháu thử xem sao…
Bà đi vào bếp, liếc nhìn ấm nước và mang sáu que diêm ra.
Jonathan chần chừ một lát. Có vẻ như làm được. Anh xoay sáu
cái que thành nhiều cách khác nhau, nhưng sau nhiều phút hí
hoáy đành bỏ cuộc.
- Cách làm như thế nào ạ?
Bà Augusta tập trung.
- Ờ, thực ra, bà nghĩ là bác ấy chưa bao giờ cho bà biết. Mọi
điều mà bà nhớ là câu bác ấy nói cho bà để giúp bà tìm ra
cách: “Phải nghĩ khác đi, nếu người ta chỉ nghĩ theo thói quen
thì chẳng đạt được gì.” Cháu thử hình dung xem, một thằng bé
mười một tuổi mà nói ra những điều như thế! À! bà nghe thấy
tiếng ấm nước reo. Nước chắc phải sôi rồi.
Bà trở lại với hai tách đầy một thứ nước màu vàng nhạt rất
thơm.
- Cháu biết không, thấy cháu quan tâm đến bác mình, bà rất
hài lòng. Thời nay, khi ai đó chết đi, người ta thậm chí còn
quên là họ đã được sinh ra.
Jonathan bỏ dở mấy que diêm và nhẹ nhàng uống vài ngụm cỏ
roi ngựa.
- Sau đó, việc gì xảy ra ạ?
- Bà cũng không biết, ngay khi bác ấy bắt đầu học đại học
khoa học, ông bà không có tin tức gì nữa. Bà biết được đại
khái qua mẹ cháu rằng bác ấy bảo vệ xuất sắc bằng tiến sĩ,
rằng bác ấy làm cho một công ty thực phẩm, rồi bác ấy bỏ
công ty để đi châu Phi, sau đó quay lại sống ở phố Sybarites,
nơi mà không một ai nghe nói đến bác ấy cho đến lúc bác ấy
chết.
- Bác ấy chết như thế nào?
- À! Cháu không biết sao? Một chuyện không thể tin được. Họ
đăng chuyện đó trên khắp các mặt báo. Bác ấy chết vì bị ong
vò vẽ đốt.
- Ong vò vẽ? Chuyện thế nào cơ?
- Bác ấy đi dạo một mình trong rừng. Chắc là bác ấy vô tình
vấp phải một tổ ong. Chúng bâu đầy người bác ấy. Bác sĩ pháp
y khẳng định: “Chưa bao giờ tôi thấy có nhiều vết đốt trên một
người như thế.” Bác ấy chết với 0,3 gam nọc độc trong một lít
máu. Chưa từng thấy bao giờ.
- Bác ấy có mộ không?
- Không. Bác ấy yêu cầu được chôn dưới một cây thông trong
rừng.
- Bác có ảnh không ạ?
- Nhìn đằng kia kìa, trên tường ấy, phía trên cái tủ com mốt.
Bên phải: Suzy, mẹ cháu (cháu đã nhìn thấy mẹ cháu trẻ như
thế chưa?). Bên trái: Edmond.
Ông có vầng trán rộng, bộ ria nhọn, tai không dái tai kiểu
Kafka(2) cao tới chân mày. Ông cười ranh mãnh. Một con quỷ
con.
Bên cạnh ông, Suzy rạng rỡ trong chiếc váy trắng. Mấy năm
sau, cô kết hôn, nhưng luôn giữ họ Wells. Như thể cô không
muốn chồng truyền lại dấu ấn dòng họ mình cho con cái.
Tiến lại gần hơn, Jonathan thấy Edmond dựng hai ngón tay
trên đầu em gái mình.
- Bác ấy rất tinh nghịch, đúng không ạ?
Bà Augusta không trả lời. Nét buồn đượm trong ánh mắt khi
bà nhìn lại khuôn mặt rạng rỡ của con gái. Suzy mất sáu năm
trước. Một chiếc xe tải mười lăm tấn do tài xế say rượu lái đẩy
ô tô của cô xuống rãnh. Cô hấp hối hai hôm. Cô đòi gặp
Edmond, thế nhưng Edmond thậm chí không tới. Thêm một
lần nữa, ông lại ở đâu đâu…
- Bà không biết ai khác có thể nói cho cháu về Edmond?
- Hừm… Bác ấy có một bạn thiếu thời mà bác hay gặp. Chúng
còn học chung đại học với nhau. Jason Bragel. Hẳn bà vẫn còn
số điện thoại của bác ấy.
Augusta xem nhanh máy tính của mình rồi đưa cho Jonathan
địa chỉ của người bạn đó. BàXX. trìu mến nhìn cháu ngoại.
Đây là người sống sót cuối cùng của gia đình Wells. Một cậu
bé dũng cảm.
- Nào, uống nốt trà đi, nó đang nguội kìa. Bà có cả bánh
Madeleine nữa, nếu cháu muốn. Tự tay bà làm với trứng chim
cút đấy.
- Thôi ạ, cháu cảm ơn bà. Cháu phải đi đây. Một ngày nào đó
bà qua căn hộ mới của chúng cháu chơi nhé, chúng cháu dọn
đến đó xong rồi.
- Đồng ý, nhưng chờ đã, đừng có đi mà quên lá thư.
Kiên trì lục cái tủ tường lớn và mấy cái hộp sắt, cuối cùng bà
cũng thấy cái phong bì trắng trên đó ghi dòng chữ viết vội:
“Gửi Jonathan Wells.” Mép gập của phong bì được bảo vệ
bằng nhiều lớp băng dính để tránh bị mở không đúng lúc. Anh
cẩn thận xé phong bì. Một tờ giấy nhàu nhĩ, loại sổ tay học
sinh, rơi ra. Anh đọc một câu duy nhất ghi trong đó:
“TUYỆT ĐỐI KHÔNG BAO GIỜ ĐƯỢC XUỐNG KHO
CHỨA ĐỒ!”
Con kiến rung rung mấy sợi râu. Nó như chiếc ô tô người ta bỏ
lâu dưới tuyết và người ta thử khởi động lại. Con đực làm như
thế nhiều lần. Nó xoa cho con kiến thợ. Bôi cho con cái chút
nước dãi nóng.
Sống rồi. Xong, động cơ được khởi động trở lại. Một mùa trôi
qua. Mọi thứ lại bắt đầu như thể nó chưa bao giờ trải qua kỳ
“tạm chết”.
Nó vẫn xoa cho con kiến thợ để truyền thêm năng lượng. Bây
giờ, kiến thợ đã khỏe hơn. Trong khi nó tiếp tục vất vả, kiến
thợ hướng râu về phía nó. Kiến thợ cù nhè nhẹ nó. Kiến thợ
muốn biết nó là ai.
Kiến thợ sờ khúc đầu của con kiến đực, bắt đầu từ hộp sọ và
đọc tuổi của nó: một trăm bảy mươi ba ngày tuổi. Trên khúc
thứ hai, kiến thợ xác định đẳng cấp của nó: kiến đực giống. Ở
khúc thứ ba, loài và tổ của nó: kiến đỏ hung ở rừng thuộc
thành phố mẹ Bel-o-kan. Ở khúc thứ tư, con kiến thợ nhận ra
số lứa sinh dùng để nhận dạng nó: nó là con kiến đực thứ 327,
được sinh ra từ hồi đầu mùa thu.
Tới đó, kiến thợ ngừng đánh hơi tìm hiểu. Những khúc khác
không phát thông tin. Khúc thứ năm dùng để tiếp nhận các
phân tử dấu vết. Khúc thứ sáu được dùng cho những hội thoại
đơn giản. Khúc thứ bảy cho phép những hội thoại phức tạp
hơn kiểu tình dục. Khúc thứ tám dành để nói chuyện với Kiến
Chúa. Cuối cùng, ba khúc còn lại dùng làm chùy nhỏ.
Thế đấy, kiến thợ đã xem xong một lượt mười một khúc của
nửa thứ hai của râu. Nhưng nó chẳng có gì để nói với con kiến
đực. Thế là nó lánh đi và, tới lượt nó, đi sưởi ấm trên mái của
Tổ.
Con kiến đực cũng làm thế. Kết thúc công việc của sứ giả
truyền nhiệt, giờ là chỗ cho công việc tu bổ!
Lên tới trên cao, con đực 327 xem xét các thiệt hại. Tổ được
xây theo hình nón để ít bị ảnh hưởng khi thời tiết xấu, thế
nhưng, mùa đông là kẻ phá hoại. Gió, tuyết và mưa đá đã làm
bật lớp cành đầu tiên. Phân chim lấp một số lối đi. Phải nhanh
chóng bắt tay vào việc. Con 327 tiến tới một mảng lớn màu
vàng và dùng hàm trên phá thứ chất cứng và thối đó đi. Phía
bên kia thoáng xuất hiện bóng một con côn trùng đang đào từ
bên trong.
Cái lỗ nhìn quang học ở cửa tối đi. Người ta nhìn nó qua cánh
cửa.
- Ai đấy?
- Ông Gougne… Tôi đến để đóng sách.
Cánh cửa hé mở. Cái ông tên Gougne cúi nhìn cậu bé tóc vàng
khoảng mười tuổi, rồi, thấp hơn nữa, một con chó bé xíu, thò
mõm qua hai chân của cậu bé, bắt đầu gầm gừ.
- Bố không có nhà!
- Cháu chắc không? Giáo sư Wells lẽ ra phải qua gặp ông và…
- Giáo sư Wells là ông của cháu. Nhưng ông mất rồi.
Nicolas muốn đóng cửa nhưng người đàn ông nhích chân lên
để cố nài.
- Thành thật chia buồn. Nhưng cháu chắc là ông ấy không để
lại một túi đựng tài liệu to đùng chứa đầy giấy chứ? Ông là
người đóng sách. Ông ấy đã trả tiền trước để đóng bìa da tập
ghi chép công việc của mình. Ông ấy muốn làm một quyển từ
điển bách khoa toàn thư, ông nghĩ thế. Lẽ ra ông ấy phải qua
nhưng ông không có tin tức của ông ấy từ lâu lắm rồi…
- Ông mất rồi, cháu đã nói với ông.
Người đàn ông nhích chân thêm chút nữa, lấy đầu gối đẩy
cánh cửa như thể ông ta muốn xô cậu bé để vào. Con chó cong
người lại, bắt đầu sủa gay gắt. Ông ta đứng im.
- Cháu hiểu cho, điều này sẽ khiến ông áy náy vô cùng vì
không giữ lời hứa với ông ấy, dù chỉ là di cảo. Cháu làm ơn
kiểm tra lại. Chắc chắn phải có một cái cặp tài liệu lớn màu đỏ
ở đâu đó.
- Ông nói là một quyển từ điển bách khoa toàn thư ạ?
- Đúng, ông ấy tự đặt tên quyển này là: “Từ điển Bách khoa
toàn thư kiến thức tương đối và tuyệt đối”, nhưng ông sẽ ngạc
nhiên nếu như nó được ghi trên bìa…
- Cả nhà cháu đã phải thấy nếu nó ở nhà chúng cháu.
- Ông xin lỗi vì năn nỉ thêm nhưng…
Con chó bông lùn bắt đầu sủa. Người đàn ông hơi lùi lại, đủ để
cho cậu bé đóng sập cửa trước mặt ông ta.
Bây giờ cả Tổ đã thức dậy. Các hành lang chật kín sứ giả
truyền nhiệt đang khẩn trương ủ ấm cho cả Bầy. Thế nhưng, ở
một số nơi giao nhau trong Tổ, người ta còn thấy nhiều công
dân bất động. Kiến truyền nhiệt lay chúng một cách vô vọng,
đập chúng, nhưng chúng không nhúc nhích.
Chúng sẽ không cử động nữa. Chúng đã chết. Với chúng, ngủ
đông là trí mạng. Chúng không thể nào trụ được mà không gặp
rủi ro trong vòng ba tháng với một nhịp tim trên thực tế là
không tồn tại. Chúng đã không phải chịu đau đớn. Chúng từ
giấc ngủ thông thường đến với giấc ngàn thu trong một đợt gió
lùa bất chợt trùm lên Tổ. Xác chúng được chuyển đi rồi bị
ném vào nơi đổ rác. Cứ như thế, mỗi sáng, Tổ lại dọn dẹp
những phần tử đã chết cùng những rác rưởi khác.
Một khi mạch máu được loại sạch những cặn bẩn của mình,
thành phố côn trùng bắt đầu phập phồng. Khắp nơi, những bàn
chân hối hả. Những cái hàm đào bới. Râu vẫy vẫy trao đổi
thông tin. Mọi việc trở lại như trước. Như trước mùa đông tê
liệt.
Khi con đực 327 kéo cành cây hẳn phải nặng gấp sáu mươi lần
trọng lượng của mình, một con kiến chiến binh hơn năm trăm
ngày tuổi tiến lại gần nó. Con này vỗ vỗ đầu nó bằng các đốtchùy để gây chú ý. Nó ngẩng đầu. Con kiến chiến binh đặt râu
mình vào râu nó.
Con này muốn nó gác lại việc sửa sang mái để đi cùng nhóm
kiến… đi săn.
Nó sờ vào miệng và mắt con này.
Chuyến đi săn nào?
Con kia cho nó ngửi mẩu thịt khá khô được giấu trong một nếp
của khớp ngực mình.
Hình như người ta đã tìm thấy cái này ngay trước mùa đông, ở
vùng phía Tây ngay góc 23° so với mặt trời chính ngọ.
Con đực nếm thử. Đúng là loài sâu cánh cứng. Để chính xác
hơn, đó là thịt con bọ mật. Lạ thật. Thông thường, loài sâu
cánh cứng còn đang ngủ đông. Như mọi người đều biết, kiến
đỏ hung tỉnh dậy ở nhiệt độ-không khí 12°, mối 13°, ruồi 14°,
và sâu cánh cứng 15°.
Con chiến binh già không để bị bối rối bởi lý lẽ đó. Nó giải
thích cho con đực rằng mẩu thịt này được lấy từ một vùng đặc
biệt, vùng đó được sưởi ấm nhân tạo nhờ một nguồn nước
ngầm. Ở đó, không có mùa đông. Đó là vi khí hậu, nơi có hệ
động thực vật đặc biệt phát triển.
Vả lại, lúc thức dậy, Bầy thường đói. Bầy sẽ nhanh chóng cần
protein để khởi động. Nắng ấm thôi chưa đủ.
Con đực chấp nhận.
Chuyến đi săn có hai mươi tám con kiến thuộc đẳng cấp chiến
binh. Phần lớn trong bọn chúng, như con vừa rủ kiến đực tham
gia, là những con kiến già vô tính. Con đực 327 là thành viên
duy nhất của đẳng cấp hữu tính. Nó dò xét từ xa những con
cùng tham gia chuyến đi săn qua cái rây của mắt mình.
Với hàng nghìn ô mắt lưới, kiến không thấy hình ảnh bị lặp lại
hàng nghìn lần, mà là hình ảnh được chia ô. Những con côn
trùng này khó nhận ra được mọi chi tiết. Trái lại, nó nhận ra
được các cử động dù là nhỏ nhất.
Những nhà thám hiểm tham gia cuộc viễn chinh này tất cả đều
có vẻ tinh nhuệ cho những chuyến đi xa. Những cái bụng nặng
trĩu của chúng chứa đầy axít. Đầu chúng được trang bị những
vũ khí mạnh nhất. Vỏ chúng bị rạch khía ngang dọc do dính
những cú cắn ở các cuộc chiến.
Chúng thẳng tiến lên phía trước từ nhiều giờ nay. Chúng đi
qua nhiều thành phố dựng đứng giữa trời hay dưới tán cây của
Liên bang. Những tổ kiến cái của triều đại Ni: Yodu-loubaikan (loài sản xuất nhiều ngũ cốc nhất); Giou-li-aikan (mà
cách đây hai năm, nhiều đội sát thủ đã thắng liên minh các tổ
mối miền Nam); Zédi-bei-nakan (nổi tiếng với các phòng thí
nghiệm hóa học sản xuất được chất axít chiến đấu siêu đậm
đặc); Li-viu-kan (mà rượu sâu yên chi của chúng có vị nhựa
rất được ưa chuộng).
Vì kiến đỏ hung không những tổ chức thành tổ, mà còn thành
liên minh tổ. Khối thống nhất làm nên sức mạnh. Ở vùng núi
Jura, người ta có thể thấy nhiều liên bang kiến đỏ hung có
chừng 15 000 tổ kiến trải dài trên bề mặt 80 héc ta và có tổng
dân số trên 200 triệu con.
Bel-o-kan còn chưa có ở đó. Đó là một liên bang trẻ mà triều
đại gốc được thành lập cách đây năm nghìn năm. Theo huyền
thoại địa phương, có lẽ do một cô kiến cái lạc đường trong một
trận bão khủng khiếp, đã kẹt lại nơi đây. Không tài nào về
được liên bang của mình, nàng tạo ra Bel-o-kan, và từ Bel-okan, Liên bang được hình thành và hàng trăm thế hệ kiến chúa
Ni tạo nên nó.
Belo-kiu-kiuni là tên của kiến chúa đầu tiên này. Nó có nghĩa
là “kiến lạc đường”. Nhưng tất cả các kiến chúa giữ tổ trung
tâm đều lấy lại tên đó.
Hiện tại, Bel-o-kan mới chỉ gồm một tổ trung tâm lớn và 64 tổ
cái liên bang, tản mác ở ngoại vi. Nhưng nó được thừa nhận là
sức mạnh chính trị lớn nhất ở khoảnh đất này trong cánh rừng
Fontainebleau.
Khi đã đi qua các tổ con, và đặc biệt là La-chola-kan, tổ Bel-okan nằm về phía Tây xa nhất, các nhà thám hiểm tới trước
những ụ đất nhỏ: các tổ mùa hè hay “đồn tiền tiêu”. Chúng
còn trống. Nhưng con 327 biết rằng, nhanh thôi, với các cuộc
săn bắt và...
Web:
http://vnthuquan.net
Việt Nam Thư Quán muốn gửi đến tất cả những bạn yêu thích
văn hóa đọc cuốn sách này, đặc biệt là những người không có
điều kiện đọc những ấn phẩm sách thông thường. Tuy nhiên,
trong khả năng có thể, các bạn hãy mua và thưởng thức sách
giấy như một sự tôn trọng đối với các tác giả và các nhà xuất
bản.
Ebook này được Việt Nam Thư Quán đăng tải trên trang
vnthuquan.net. Các bạn có thể sử dụng dưới bất kỳ hình thức
nào như: sao lưu, sử dụng bài viết, tư liệu, đăng trên các diễn
đàn hay trang Web khác, chỉ có một yêu cầu là giữ nguyên nội
dung cũng như ghi rõ nguồn cung cấp như một sự tôn trọng
đối với những người thực hiện.
Chế bản ebook: Phạm Huy Hùng.
Mục lục
Giới Thiệu
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Từ điển chú giải
Bảng nhân vật
Bernard Werber
Kiến
Giới Thiệu
T
rong vài giây bạn đọc những dòng này, trên
Trái đất có bốn mươi người được sinh ra
nhưng có tới bảy trăm triệu con kiến ra đời.
Từ hơn trăm triệu năm trước chúng ta, chúng
đã ở đó, được chia thành nhiều đội, nhiều tổ,
nhiều đế chế trên toàn bề mặt trái đất. Chúng
đã tạo ra một nền văn minh song song, xây
dựng những vương quốc thực sự, phát minh
ra vũ khí tối tân, thiết kế cả nghệ thuật chiến tranh, làm chủ
một nền công nghệ đáng kinh ngạc. Chúng có những Attila,
Christophe Colomb, Jules César, Machiavel hay Léonard de
Vinci của chính mình.
Bernard Werber sinh năm 1961 tại Toulouse,
Pháp. Ngay từ khi mười bốn tuổi, anh đã viết
truyện cho một tập san nhỏ về khoa học viễn
tưởng. Sau khi học luật tại Toulouse và báo chí
tại Pháp, Bernard Werber dành hơn mười năm
làm nhà báo khoa học và đã từng cộng tác với
rất nhiều tờ có tên tuổi nhưNouvel
Observateur, Le Point, Ça m'intéresse. Sau đó,
anh tập trung vào viết văn. Ngay từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên
xuất bản năm 1992,Kiến, nhà văn này đã nổi tiếng với một
phong cách viết độc đáo, pha trộn giữa loại truyện phiêu lưu,
khoa học viễn tưởng và triết lý.Kiếnđã giành giải thưởng của
độc giả tờKhoa học và Tương lai (Sciences et Avenir). Cuốn
thứ hai trong bộ ba tiểu thuyết về kiến,Le jour des fourmis
(Ngày của kiến), ra đời ngay sau đó, đã được nhận giải thưởng
lớn của độc giả tờ Elle.
Các tác phẩm của Bernard Werber đã được dịch ra hơn 35 thứ
tiếng. Với 15 triệu bản bán được trên toàn thế giới, cùng với
Marc Levy, Bernard Werber là một trong những nhà văn Pháp
đương đại nổi tiếng nhất.
Ngoài tiểu thuyết, Bernard Werber còn được biết đến với
truyện ngắn, truyện tranh, kịch và phim.
Bernard Werber
Kiến
Chương 1
Người thức tỉnh
A
nh sẽ thấy, không hoàn toàn như anh mong
đợi đâu. Công chứng viên giải thích rằng tòa
nhà được xếp hạng di tích lịch sử và nhiều
nhà hiền triết thời Phục hưng đã từng sống ở
đây, nhưng ông không nhớ là những ai.
Họ xuống cầu thang, bước vào một hành lang
tối om nơi công chứng viên dò dẫm hồi lâu,
uổng công bật một cái nút trước khi thở dài:
- Ái chà! Nó không chạy nữa.
Họ tiến trong bóng tối, lộp cộp lần theo các bức tường. Khi
cuối cùng công chứng viên tìm thấy cái cửa, mở nó và nhấn,
lần này thì thành công, trúng cái công tắc, ông thấy khách
hàng của mình mặt mày biến sắc.
- Không ổn à, ông Wells?
- Một chứng sợ thôi. Không sao đâu.
- Sợ bóng tối?
- Vâng. Nhưng đã khá hơn rồi.
Họ xem xét mọi ngóc ngách. Đó là tầng hầm rộng hai trăm
mét vuông. Dù nó chỉ mở ra phía ngoài bằng vài ô cửa tầng
hầm hiếm hoi, bé xíu và sát trần, Jonathan vẫn hài lòng về căn
hộ. Các bức tường được dán giấy xám đơn điệu, và bụi phủ
khắp nơi… Nhưng anh sẽ không tỏ ra khó tính hơn.
Căn hộ của anh hiện nay chỉ rộng bằng một phần năm căn hộ
này. Hơn nữa, anh không còn khả năng để trả tiền thuê; nhà
máy khóa nơi anh làm mới đây đã quyết định bỏ qua công
đoạn của anh.
Món thừa kế của bác Edmond đúng là của trời cho không tin
được.
Hai ngày sau, anh dọn đến số 3, phố Sybarites với vợ mình là
Lucie, cậu con trai Nicolas và con chó bông lùn cụt đuôi
Ouarzazate của họ.
- Mấy bức tường xám này không làm em ngại đâu, Lucie vừa
nói vừa lấy tay nâng mái tóc đỏ dày của cô. Chúng mình có
thể trang trí như chúng mình muốn. Mọi thứ ở đây đều phải
làm lại hết. Như kiểu mình biến nhà tù thành khách sạn đấy.
- Phòng của con ở đâu ạ? Nicolas hỏi.
- Phía cuối, bên phải.
- Ẳng ẳng, con chó sủa, và nó bắt đầu nhay nhay bắp chân
Lucie mà không biết là cô đang bưng chồng bát đĩa đám cưới
trong tay.
Kết cục, nó nhanh chóng bị nhốt vào nhà vệ sinh; khóa hẳn
hoi, vì nó biết nhảy tới tận tay nắm cửa và biết xoay để mở
cửa.
- Anh có biết rõ ông bác hào phóng của anh không? Lucie tiếp
tục.
- Bác Edmond? Thực ra, tất cả những gì anh nhớ, chỉ là bác
nhấc anh lên giả làm máy bay, lúc anh còn rất nhỏ. Một lần
anh sợ đến nỗi anh đã tè dầm lên bác ấy.
Họ cười.
- Đã nhát gan thế cơ à? Lucie trêu.
Jonathan làm ra vẻ không nghe thấy gì.
- Bác ấy không trách anh về chuyện đó. Bác chỉ nói với mẹ
anh: “Được rồi, chúng ta biết là sẽ không cho nó thành phi
công…” Sau đó, mẹ nói rằng bác theo sát suốt cuộc đời anh,
nhưng anh không gặp lại bác từ ấy.
- Bác làm nghề gì?
- Đó là một nhà bác học. Một nhà sinh học, hình như thế.
Jonathan trở nên trầm tư. Cuối cùng, thậm chí anh cũng không
biết ân nhân của mình.
Cách đó 6 km:
BEL-O-KAN,
Cao một mét.
50 tầng dưới lòng đất.
50 tầng trên mặt đất.
Thành phố lớn nhất của vùng.
Dân số ước tính: 18 triệu.
Sản lượng hàng năm:
- 50 lít mật rệp.
- 10 lít mật sâu yên chi.
- 4 kilô nấm mũ.
- Đá được dũi: 1 tấn.
- Số km hành lang đi lại được: 120.
- Diện tích trên mặt đất: 2m2.
Một tia sáng vụt qua. Một cái chân vừa nhúc nhích. Cử động
đầu tiên từ đợt bắt đầu ngủ đông, cách đây ba tháng. Một cái
chân khác từ từ tiến, kết thúc là hai cái chân dần dần tách ra.
Một cái chân khác duỗi ra. Rồi đến bộ ngực. Rồi một cái thân.
Rồi mười hai cái thân.
Chúng rùng mình để giúp dòng máu trong suốt lưu thông trong
các động mạch của mình. Máu chuyển từ trạng thái sền sệt
sang nhão rồi lỏng. Dần dần van tim bắt đầu hoạt động trở lại.
Nó đẩy máu tới tận cuối các chi. Các cơ sinh học nóng dần
lên. Các khớp siêu phức tạp xoay từ từ. Khắp nơi, xương bánh
chè với các mảng bảo vệ cố tìm thấy cực điểm xoắn của
chúng.
Chúng tỉnh dậy. Cơ thể lấy lại hơi. Các động tác của chúng rời
rạc. Như vũ điệu quay chậm. Chúng lắc nhè nhẹ, vẩy vẩy.
Chân trước chúng chập lại trước miệng như kiểu đang cầu
nguyện, nhưng không phải, chúng làm ướt các chân của mình
để đánh bóng râu.
Mười hai con vừa thức dậy xoa cho nhau. Sau đó chúng tìm
cách đánh thức những con bên cạnh. Nhưng chúng mới chỉ có
đủ sức để nhúc nhích mỗi cơ thể mình, chúng không còn năng
lượng để cho đi. Chúng bỏ cuộc.
Rồi chúng khó nhọc tiến đến giữa những cơ thể cứng như
tượng của các chị em mình. Chúng hướng về bên Ngoài rộng
lớn. Toàn bộ cơ thể máu lạnh của chúng cần phải hứng lấy
năng lượng mặt trời.
Chúng tiếp tục tiến lên, mệt nhoài. Mỗi bước đi là cả một sự
đau đớn. Chúng muốn nằm lại đến chừng nào và muốn được
yên tĩnh như hàng triệu bạn đồng loại của chúng! Nhưng
không. Chúng là những người đầu tiên thức tỉnh. Bây giờ
chúng phải đánh thức toàn thành phố.
Chúng qua thành phố. Ánh sáng mặt trời làm chúng chói mắt,
nhưng tiếp xúc với năng lượng trong lành sảng khoái đến
nhường nào.
Mặt trời rọi chiếu trên cơ thể gầy của chúng ta,
Lay tỉnh những cơ bắp đau nhức
Và hợp nhất các suy nghĩ tản mát.
Đó là một khúc ca ban mai cổ xưa của loài kiến đỏ hung từ
hàng trăm nghìn năm nay. Từ thời đó, chúng đã muốn lẩm
nhẩm hát trong đầu ngay lần đầu tiếp xúc với nắng ấm.
Khi đã ở ngoài, chúng bắt đầu vệ sinh một cách bài bản.
Chúng tiết ra một thứ nước dãi trắng rồi dùng nó thoa đều các
hàm và chân chúng.
Chúng chải chuốt. Đó là nghi lễ bất di bất dịch. Đầu tiên là
mắt. Một nghìn ba trăm ô nhỏ tạo thành con mắt lồi được phủi
bụi, làm ẩm, sấy khô. Chúng cũng làm như thế với râu, chi
dưới, chi giữa, và chi trước. Cuối cùng, chúng đánh bóng thân
hình bóng đỏ đẹp đẽ của mình cho tới khi lấp lánh như những
tia lửa.
Trong số mười hai con tỉnh dậy, có một con đực giống. Nó nhỏ
hơn một chút so với kích cỡ trung bình dân Bel-o-kan. Nó có
hàm trên hẹp và nó được lên kế hoạch để không sống quá vài
tháng, nhưng nó cũng được hưởng những lợi thế mà đồng loại
không biết.
Lợi thế đầu tiên về đẳng cấp: với tư cách là động vật sinh sản
hữu tính, nó có năm mắt. Hai mắt lớn hình cầu giúp nó nhìn
tận 180°. Ba mắt nhỏ hơn xếp thành hình tam giác trên trán.
Những con mắt dư thừa này thực ra là bộ phận tiếp nhận tia
hồng ngoại cho phép phát hiện bất kỳ nguồn nhiệt nào từ xa,
dù có ở trong bóng tối hoàn toàn.
Một đặc trưng quý giá biết bao đối với dân cư các thành phố
lớn có từ hàng trăm nghìn thiên niên kỷ, hoàn toàn bị mù do
phải sống dưới lòng đất.
Nhưng nó không chỉ có đặc điểm này. Nó cũng có cánh (như
những con cái) để có thể bay đi giao phối.
Ngực của nó được bảo vệ bởi một tấm chắn đặc biệt: lá chắn
ngực.
Râu của nó dài hơn và thính hơn những dân cư khác.
Con đực giống trẻ này dừng lại một hồi lâu trên mái, ních căng
bụng ánh sáng mặt trời. Sau đó, khi đã được sưởi ấm no nê, nó
quay vào thành phố. Tạm thời nó thuộc về đẳng cấp kiến “sứ
giả truyền nhiệt”.
Nó di chuyển trong hành lang tầng thứ ba dưới lòng đất. Ở
đây, mọi người còn đang say sưa ngủ. Những cơ thể đông
cứng bất động. Râu bị bỏ phí.
Những con kiến vẫn còn say giấc nồng.
Chàng kiến đực trẻ tiến về phía một con kiến thợ mà nó muốn
đánh thức dậy bằng nhiệt cơ thể mình. Sự tiếp xúc ấm áp giữa
hai cơ thể khiến nó có cảm giác tê tê dễ chịu.
Tiếng bước chân nhẹ vang lên ngay hồi chuông thứ hai. Cửa
mở, dừng một chút khi bà Augusta tháo dây xích an toàn ở cửa
ra.
Từ khi hai con mất, bà sống tách biệt trong căn hộ nhỏ ba
mươi mét vuông này, ôn lại những kỷ niệm cũ. Điều đó chẳng
thể khiến bà thấy tốt hơn, nhưng cũng không làm giảm lòng
tốt của bà về bất cứ mặt nào.
- Bà biết là buồn cười, nhưng đi đôi dép vải này vào. Bà mới
đánh xi sàn nhà.
Jonathan nghe lời. Bà lon ton đi trước anh, dẫn anh vào phòng
khách, rất nhiều đồ gỗ trong phòng còn phủ khăn. Ngồi ở mép
tràng kỷ lớn, Jonathan không tài nào tránh khỏi làm cái vỏ bọc
bằng nhựa kêu sột soạt.
- Bà mừng là cháu tới… Có lẽ cháu không tin, nhưng bà định
gọi cho cháu mấy ngày nay.
- Thế ạ?
- Nhớ là Edmond để lại một thứ cho cháu. Một bức thư. Bác
ấy nói là: nếu con chết, bằng mọi giá mẹ phải đưa thư này cho
Jonathan.
- Một bức thư ạ?
- Một bức thư, ừ, một bức thư… Ừm, bà cũng chẳng biết để nó
ở đâu nữa. Chờ bà chút… Bác ấy đưa cho bà bức thư, bà nói
với bác ấy là bà sẽ cất nó, bà cất nó trong một cái hộp. Có lẽ là
một trong mấy cái hộp sắt trắng ở cái tủ tường lớn.
Bà bắt đầu lê dép trên sàn nhà, nhưng dừng lại ngay ở bước
thứ ba.
- Xem nào, bà ngớ ngẩn quá! Bà tiếp đón cháu thế đấy! Cháu
uống một tách trà cỏ roi ngựa không?
- Dạ, có ạ.
Bà tiến vào bếp và khua nồi xoong.
- Cho bà biết chút tin tức của cháu đi, Jonathan! bà nói.
- Dạ, cũng không kinh khủng lắm. Cháu bị cho nghỉ việc rồi.
Bà thò mái đầu bạc trắng ra khỏi cửa, rồi hẳn cả người, vẻ
nghiêm trọng, lọt thỏm trong cái tạp dề dài màu xanh nước
biển.
- Họ đuổi cháu á?
- Vâng.
- Tại sao?
- Bà biết đấy, nghề thợ khóa là một môi trường đặc biệt. Công
ty của cháu, “SOS Khóa”, hoạt động 24 trên 24 khắp các khu
phố ở Paris. Thế nhưng, từ khi một trong các đồng nghiệp của
cháu bị tấn công, cháu từ chối đến các khu lộn xộn vào buổi
tối. Thế là họ đuổi cháu.
- Cháu làm đúng đấy. Thà thất nghiệp và khỏe mạnh còn hơn
là ngược lại.
- Hơn nữa, cháu không hợp với sếp của cháu lắm.
- Còn kinh nghiệm cộng đồng không tưởng của cháu? Thời bà,
người ta gọi là cộng đồng New Age. (Bà lén cười, bà phát âm
là “nu-i-az”(1)).
- Cháu thôi sau thất bại ở trang trại Pyrénées. Lucie chán phải
nấu ăn và rửa bát cho tất cả mọi người. Trong hội cháu, có
nhiều người ỷ lại lắm. Chúng cháu rất bực mình. Bây giờ cháu
chỉ sống với mỗi Lucie và Nicolas… Còn bà, bà ngoại, bà
khỏe không?
- Bà á? Bà tồn tại. Thế đã là cả một mối bận tâm thường xuyên
rồi.
- Bà số đỏ! Bà đã sống qua thời khắc chuyển giao giữa hai
thiên niên kỷ rồi…
- Ồ! Cháu biết đấy, điều làm bà ấn tượng nhất là chẳng có gì
thay đổi cả. Trước đây, khi bà còn bé, người ta nói là sau khi
qua thiên niên kỷ mới, sẽ có rất nhiều điều kỳ diệu, và cháu
thấy đấy, chẳng có gì tiến hóa cả. Lúc nào cũng có người già
sống đơn côi, luôn đầy người thất nghiệp, vẫn đầy ô tô nhả
khói. Ngay cả các tư tưởng cũng chẳng thèm nhúc nhích. Này
nhé, năm ngoái người ta tái phát hiện chủ nghĩa siêu thực, năm
trước nữa thì rock'n roll, và báo chí nói là hè năm nay mini
jupe quay trở lại. Nếu cứ tiếp tục thế này chắc người ta sẽ lôi
nốt những ý tưởng cũ rích từ hồi đầu thế kỷ: cộng sản, phân
tích tâm lý và thuyết tương đối…
Jonathan mỉm cười.
- Nhưng mà vẫn có nhiều tiến bộ: tuổi thọ trung bình tăng lên,
cũng như là số vụ ly hôn, mức ô nhiễm không khí, chiều dài
các tuyến tàu điện ngầm…
- Hay ho nhỉ. Bà lại cứ nghĩ là mọi người sẽ có máy bay riêng
và có thể cất cánh từ ban công… Cháu biết không, hồi bà trẻ,
mọi người đều sợ chiến tranh hạt nhân. Đúng là nỗi sợ tuyệt
vời. Chết lúc trăm tuổi trong cái lò cháy rực của một cây nấm
nguyên tử khổng lồ, chết với hành tinh… dù sao cũng kiêu
hãnh lắm chứ. Thay vì chết như thế, bà sẽ chết như một củ
khoai tây già thối. Và mọi người mặc kệ.
- Không, bà ơi, không phải thế.
Bà lau trán.
- Hơn nữa, trời nóng quá, càng ngày càng nóng hơn. Thời bà,
trời không nóng như thế này. Mùa đông ra mùa đông và mùa
hè ra mùa hè. Bây giờ, đợt nắng nóng bắt đầu ngay từ tháng
Ba.
Bà quay trở lại bếp, nhảy lên với chút khéo léo hiếm thấy, lấy
tất cả những đồ cần thiết để làm một tách trà cỏ roi ngựa thơm
ngon. Sau khi bà quẹt một que diêm và người ta nghe thấy
tiếng ga thổi trong những đường dẫn cũ của cái bếp, bà quay
lại, vẻ thoải mái hơn.
- Nhưng thực ra, cháu phải có lý do chính xác nào thì mới tới
đây chứ. Ngày nay, người ta không đến thăm những người già
như thế.
- Đừng cay nghiệt như thế, bà.
- Bà không cay nghiệt, bà biết mình đang sống trong thế giới
nào, thế thôi. Nào, nhõng nhẽo đủ rồi, nói cho bà biết cái gì
đưa cháu đến đây.
- Cháu muốn bà nói cho cháu về “bác ấy”. Bác ấy để lại cho
cháu căn hộ của bác và cháu thậm chí không biết bác…
- Edmond? Cháu không nhớ Edmond à? Thế mà, bác ấy rất
thích nâng cháu lên để cháu làm máy bay khi cháu còn bé. Bà
thậm chí còn nhớ một lần…
- Vâng, cái đó cháu cũng nhớ, nhưng ngoài giai thoại này, là
con số không.
Bà ngồi trong một cái ghế bành lớn và chú ý không làm nhàu
cái vỏ quá.
- Edmond, hừm, đó là một nhân vật. Ngay từ khi còn rất nhỏ,
bác cháu đã gây cho bà lắm điều phiền nhiễu. Là mẹ bác ấy
không phải việc tầm thường đâu. Ví dụ nhé, bác ấy thường
làm gẫy hết đồ chơi của mình để tháo chúng, hiếm khi để lắp
lại chúng. Và giá như bác ấy chỉ phá mỗi đồ chơi của mình!
Bác ấy tháo mọi thứ: đồng hồ treo tường, máy quay đĩa, bàn
chải đánh răng điện. Một lần, bác ấy thậm chí tháo cả tủ lạnh.
Như để khẳng định lời bà nói, cái đồng hồ quả lắc cổ ở phòng
khách bắt đầu kêu lên buồn bã. Nó cũng thế, nó cũng phải chịu
đủ mọi loại khổ sở với cậu bé Edmond.
- Và sau đó bác ấy có một ý thích riêng: hang ổ. Bác ấy bới
tung nhà lên để xây chỗ trú cho mình. Bác ấy xây một cái bằng
chăn và ô ở trên tầng áp mái, cái khác với ghế và áo choàng
lông trong phòng mình. Bác ấy thích ẩn như thế ở bên trong,
giữa đống kho báu mà bác ấy tích vào. Một lần bà nhìn vào,
đầy gối ôm và một mớ linh tinh máy móc mà bác ấy giật ở các
máy ra. Vả lại, nó cũng có vẻ khá tiện nghi thoải mái.
- Tất cả trẻ con đều làm thế…
- Có thể, nhưng ở bác ấy là mức độ đáng kinh ngạc. Bác ấy
không ngủ trên giường nữa, bác ấy chỉ đồng ý ngủ ở một trong
các cái tổ của mình. Thỉnh thoảng, có những khi bác ấy ở
trong đó cả ngày không nhúc nhích. Cứ như là bác ấy đang
ngủ đông. Thậm chí, mẹ cháu còn cho rằng kiếp trước, bác ấy
chắc phải là con sóc.
Jonathan mỉm cười để cổ vũ bà tiếp tục.
- Một hôm, bác ấy muốn xây lều của mình giữa mấy cái chân
bàn trong phòng khách. Đúng là giọt nước làm tràn ly, ông
cháu phát điên lên, mà không phải ông thường như thế. Ông
đét đít bác ấy, phá tất cả tổ và bắt bác ấy ngủ trên giường.
Bà thở dài.
- Từ hôm đó, bác hoàn toàn tuột khỏi ông bà. Giống như người
ta cắt dây rốn. Ông bà không còn thuộc vào thế giới của bác ấy
nữa. Nhưng bà nghĩ sự thử thách này là cần thiết, bác ấy cần
phải biết thế giới không chịu theo mãi những đòi hỏi thất
thường của bác ấy. Sau này, khi lớn lên, sẽ có nhiều vấn đề.
Bác ấy không chịu đựng được trường học. Cháu sẽ nói với bà
là: “như mọi đứa trẻ”. Nhưng ở bác ấy mọi việc còn đi xa hơn.
Cháu có biết nhiều đứa trẻ treo cổ trong nhà vệ sinh bằng thắt
lưng của mình vì bị giáo viên mắng chưa? Bác ấy á, bác ấy đã
treo mình như thế năm bảy tuổi. Chính bác lao công đã đỡ bác
ấy xuống.
- Có thể bác ấy quá nhạy cảm…
- Nhạy cảm? Cháu nói thế! Một năm sau, bác ấy cố tình đâm
một trong những giáo viên của mình bằng kéo. Bác ấy nhắm
vào tim. May mắn sao, nó chỉ làm hỏng hộp thuốc lá của thầy
giáo.
Bà ngước mắt lên trần nhà. Những kỷ niệm tản mác rơi xuống
ý nghĩ của bà như những bông tuyết.
- Sau đó có vẻ ổn thỏa hơn một chút, vì một số giáo viên thu
hút được bác ấy. Bác ấy đạt điểm hai mươi cho những môn
bác ấy quan tâm và điểm không cho những môn khác. Luôn là
hai mươi hoặc không.
- Mẹ nói bác ấy là thiên tài.
- Bác ấy mê hoặc mẹ cháu đấy vì bác ấy giải thích cho mẹ
cháu rằng bác ấy cố đạt đến “tri thức tuyệt đối”. Ngay lúc
mười tuổi, mẹ cháu đã tin là có kiếp trước, nên nghĩ bác ấy là
hiện thân của Einstein hay Léonard de Vinci.
- Thêm cả con sóc nữa chứ?
- Tại sao không? “Cần phải có nhiều cuộc sống để tạo nên một
linh hồn…” đức Phật đã nói thế.
- Bác ấy có làm trắc nghiệm IQ không?
- Có. Rất là tồi. Bác ấy đạt 23 trên 180, điểm tương đương với
một đứa hơi ngốc. Giáo viên nghĩ là bác ấy điên và phải cho
bác ấy đến một trung tâm chuyên biệt. Nhưng bà biết là bác ấy
không điên. Bác ấy chỉ ở “bên cạnh” thôi. Bà nhớ một lần, ồ!
có lẽ bác ấy vừa tròn mười một tuổi, bác ấy thách bà xếp được
bốn hình tam giác bằng nhau chỉ với sáu que diêm. Không dễ
tí tẹo nào, cháu thử xem sao…
Bà đi vào bếp, liếc nhìn ấm nước và mang sáu que diêm ra.
Jonathan chần chừ một lát. Có vẻ như làm được. Anh xoay sáu
cái que thành nhiều cách khác nhau, nhưng sau nhiều phút hí
hoáy đành bỏ cuộc.
- Cách làm như thế nào ạ?
Bà Augusta tập trung.
- Ờ, thực ra, bà nghĩ là bác ấy chưa bao giờ cho bà biết. Mọi
điều mà bà nhớ là câu bác ấy nói cho bà để giúp bà tìm ra
cách: “Phải nghĩ khác đi, nếu người ta chỉ nghĩ theo thói quen
thì chẳng đạt được gì.” Cháu thử hình dung xem, một thằng bé
mười một tuổi mà nói ra những điều như thế! À! bà nghe thấy
tiếng ấm nước reo. Nước chắc phải sôi rồi.
Bà trở lại với hai tách đầy một thứ nước màu vàng nhạt rất
thơm.
- Cháu biết không, thấy cháu quan tâm đến bác mình, bà rất
hài lòng. Thời nay, khi ai đó chết đi, người ta thậm chí còn
quên là họ đã được sinh ra.
Jonathan bỏ dở mấy que diêm và nhẹ nhàng uống vài ngụm cỏ
roi ngựa.
- Sau đó, việc gì xảy ra ạ?
- Bà cũng không biết, ngay khi bác ấy bắt đầu học đại học
khoa học, ông bà không có tin tức gì nữa. Bà biết được đại
khái qua mẹ cháu rằng bác ấy bảo vệ xuất sắc bằng tiến sĩ,
rằng bác ấy làm cho một công ty thực phẩm, rồi bác ấy bỏ
công ty để đi châu Phi, sau đó quay lại sống ở phố Sybarites,
nơi mà không một ai nghe nói đến bác ấy cho đến lúc bác ấy
chết.
- Bác ấy chết như thế nào?
- À! Cháu không biết sao? Một chuyện không thể tin được. Họ
đăng chuyện đó trên khắp các mặt báo. Bác ấy chết vì bị ong
vò vẽ đốt.
- Ong vò vẽ? Chuyện thế nào cơ?
- Bác ấy đi dạo một mình trong rừng. Chắc là bác ấy vô tình
vấp phải một tổ ong. Chúng bâu đầy người bác ấy. Bác sĩ pháp
y khẳng định: “Chưa bao giờ tôi thấy có nhiều vết đốt trên một
người như thế.” Bác ấy chết với 0,3 gam nọc độc trong một lít
máu. Chưa từng thấy bao giờ.
- Bác ấy có mộ không?
- Không. Bác ấy yêu cầu được chôn dưới một cây thông trong
rừng.
- Bác có ảnh không ạ?
- Nhìn đằng kia kìa, trên tường ấy, phía trên cái tủ com mốt.
Bên phải: Suzy, mẹ cháu (cháu đã nhìn thấy mẹ cháu trẻ như
thế chưa?). Bên trái: Edmond.
Ông có vầng trán rộng, bộ ria nhọn, tai không dái tai kiểu
Kafka(2) cao tới chân mày. Ông cười ranh mãnh. Một con quỷ
con.
Bên cạnh ông, Suzy rạng rỡ trong chiếc váy trắng. Mấy năm
sau, cô kết hôn, nhưng luôn giữ họ Wells. Như thể cô không
muốn chồng truyền lại dấu ấn dòng họ mình cho con cái.
Tiến lại gần hơn, Jonathan thấy Edmond dựng hai ngón tay
trên đầu em gái mình.
- Bác ấy rất tinh nghịch, đúng không ạ?
Bà Augusta không trả lời. Nét buồn đượm trong ánh mắt khi
bà nhìn lại khuôn mặt rạng rỡ của con gái. Suzy mất sáu năm
trước. Một chiếc xe tải mười lăm tấn do tài xế say rượu lái đẩy
ô tô của cô xuống rãnh. Cô hấp hối hai hôm. Cô đòi gặp
Edmond, thế nhưng Edmond thậm chí không tới. Thêm một
lần nữa, ông lại ở đâu đâu…
- Bà không biết ai khác có thể nói cho cháu về Edmond?
- Hừm… Bác ấy có một bạn thiếu thời mà bác hay gặp. Chúng
còn học chung đại học với nhau. Jason Bragel. Hẳn bà vẫn còn
số điện thoại của bác ấy.
Augusta xem nhanh máy tính của mình rồi đưa cho Jonathan
địa chỉ của người bạn đó. BàXX. trìu mến nhìn cháu ngoại.
Đây là người sống sót cuối cùng của gia đình Wells. Một cậu
bé dũng cảm.
- Nào, uống nốt trà đi, nó đang nguội kìa. Bà có cả bánh
Madeleine nữa, nếu cháu muốn. Tự tay bà làm với trứng chim
cút đấy.
- Thôi ạ, cháu cảm ơn bà. Cháu phải đi đây. Một ngày nào đó
bà qua căn hộ mới của chúng cháu chơi nhé, chúng cháu dọn
đến đó xong rồi.
- Đồng ý, nhưng chờ đã, đừng có đi mà quên lá thư.
Kiên trì lục cái tủ tường lớn và mấy cái hộp sắt, cuối cùng bà
cũng thấy cái phong bì trắng trên đó ghi dòng chữ viết vội:
“Gửi Jonathan Wells.” Mép gập của phong bì được bảo vệ
bằng nhiều lớp băng dính để tránh bị mở không đúng lúc. Anh
cẩn thận xé phong bì. Một tờ giấy nhàu nhĩ, loại sổ tay học
sinh, rơi ra. Anh đọc một câu duy nhất ghi trong đó:
“TUYỆT ĐỐI KHÔNG BAO GIỜ ĐƯỢC XUỐNG KHO
CHỨA ĐỒ!”
Con kiến rung rung mấy sợi râu. Nó như chiếc ô tô người ta bỏ
lâu dưới tuyết và người ta thử khởi động lại. Con đực làm như
thế nhiều lần. Nó xoa cho con kiến thợ. Bôi cho con cái chút
nước dãi nóng.
Sống rồi. Xong, động cơ được khởi động trở lại. Một mùa trôi
qua. Mọi thứ lại bắt đầu như thể nó chưa bao giờ trải qua kỳ
“tạm chết”.
Nó vẫn xoa cho con kiến thợ để truyền thêm năng lượng. Bây
giờ, kiến thợ đã khỏe hơn. Trong khi nó tiếp tục vất vả, kiến
thợ hướng râu về phía nó. Kiến thợ cù nhè nhẹ nó. Kiến thợ
muốn biết nó là ai.
Kiến thợ sờ khúc đầu của con kiến đực, bắt đầu từ hộp sọ và
đọc tuổi của nó: một trăm bảy mươi ba ngày tuổi. Trên khúc
thứ hai, kiến thợ xác định đẳng cấp của nó: kiến đực giống. Ở
khúc thứ ba, loài và tổ của nó: kiến đỏ hung ở rừng thuộc
thành phố mẹ Bel-o-kan. Ở khúc thứ tư, con kiến thợ nhận ra
số lứa sinh dùng để nhận dạng nó: nó là con kiến đực thứ 327,
được sinh ra từ hồi đầu mùa thu.
Tới đó, kiến thợ ngừng đánh hơi tìm hiểu. Những khúc khác
không phát thông tin. Khúc thứ năm dùng để tiếp nhận các
phân tử dấu vết. Khúc thứ sáu được dùng cho những hội thoại
đơn giản. Khúc thứ bảy cho phép những hội thoại phức tạp
hơn kiểu tình dục. Khúc thứ tám dành để nói chuyện với Kiến
Chúa. Cuối cùng, ba khúc còn lại dùng làm chùy nhỏ.
Thế đấy, kiến thợ đã xem xong một lượt mười một khúc của
nửa thứ hai của râu. Nhưng nó chẳng có gì để nói với con kiến
đực. Thế là nó lánh đi và, tới lượt nó, đi sưởi ấm trên mái của
Tổ.
Con kiến đực cũng làm thế. Kết thúc công việc của sứ giả
truyền nhiệt, giờ là chỗ cho công việc tu bổ!
Lên tới trên cao, con đực 327 xem xét các thiệt hại. Tổ được
xây theo hình nón để ít bị ảnh hưởng khi thời tiết xấu, thế
nhưng, mùa đông là kẻ phá hoại. Gió, tuyết và mưa đá đã làm
bật lớp cành đầu tiên. Phân chim lấp một số lối đi. Phải nhanh
chóng bắt tay vào việc. Con 327 tiến tới một mảng lớn màu
vàng và dùng hàm trên phá thứ chất cứng và thối đó đi. Phía
bên kia thoáng xuất hiện bóng một con côn trùng đang đào từ
bên trong.
Cái lỗ nhìn quang học ở cửa tối đi. Người ta nhìn nó qua cánh
cửa.
- Ai đấy?
- Ông Gougne… Tôi đến để đóng sách.
Cánh cửa hé mở. Cái ông tên Gougne cúi nhìn cậu bé tóc vàng
khoảng mười tuổi, rồi, thấp hơn nữa, một con chó bé xíu, thò
mõm qua hai chân của cậu bé, bắt đầu gầm gừ.
- Bố không có nhà!
- Cháu chắc không? Giáo sư Wells lẽ ra phải qua gặp ông và…
- Giáo sư Wells là ông của cháu. Nhưng ông mất rồi.
Nicolas muốn đóng cửa nhưng người đàn ông nhích chân lên
để cố nài.
- Thành thật chia buồn. Nhưng cháu chắc là ông ấy không để
lại một túi đựng tài liệu to đùng chứa đầy giấy chứ? Ông là
người đóng sách. Ông ấy đã trả tiền trước để đóng bìa da tập
ghi chép công việc của mình. Ông ấy muốn làm một quyển từ
điển bách khoa toàn thư, ông nghĩ thế. Lẽ ra ông ấy phải qua
nhưng ông không có tin tức của ông ấy từ lâu lắm rồi…
- Ông mất rồi, cháu đã nói với ông.
Người đàn ông nhích chân thêm chút nữa, lấy đầu gối đẩy
cánh cửa như thể ông ta muốn xô cậu bé để vào. Con chó cong
người lại, bắt đầu sủa gay gắt. Ông ta đứng im.
- Cháu hiểu cho, điều này sẽ khiến ông áy náy vô cùng vì
không giữ lời hứa với ông ấy, dù chỉ là di cảo. Cháu làm ơn
kiểm tra lại. Chắc chắn phải có một cái cặp tài liệu lớn màu đỏ
ở đâu đó.
- Ông nói là một quyển từ điển bách khoa toàn thư ạ?
- Đúng, ông ấy tự đặt tên quyển này là: “Từ điển Bách khoa
toàn thư kiến thức tương đối và tuyệt đối”, nhưng ông sẽ ngạc
nhiên nếu như nó được ghi trên bìa…
- Cả nhà cháu đã phải thấy nếu nó ở nhà chúng cháu.
- Ông xin lỗi vì năn nỉ thêm nhưng…
Con chó bông lùn bắt đầu sủa. Người đàn ông hơi lùi lại, đủ để
cho cậu bé đóng sập cửa trước mặt ông ta.
Bây giờ cả Tổ đã thức dậy. Các hành lang chật kín sứ giả
truyền nhiệt đang khẩn trương ủ ấm cho cả Bầy. Thế nhưng, ở
một số nơi giao nhau trong Tổ, người ta còn thấy nhiều công
dân bất động. Kiến truyền nhiệt lay chúng một cách vô vọng,
đập chúng, nhưng chúng không nhúc nhích.
Chúng sẽ không cử động nữa. Chúng đã chết. Với chúng, ngủ
đông là trí mạng. Chúng không thể nào trụ được mà không gặp
rủi ro trong vòng ba tháng với một nhịp tim trên thực tế là
không tồn tại. Chúng đã không phải chịu đau đớn. Chúng từ
giấc ngủ thông thường đến với giấc ngàn thu trong một đợt gió
lùa bất chợt trùm lên Tổ. Xác chúng được chuyển đi rồi bị
ném vào nơi đổ rác. Cứ như thế, mỗi sáng, Tổ lại dọn dẹp
những phần tử đã chết cùng những rác rưởi khác.
Một khi mạch máu được loại sạch những cặn bẩn của mình,
thành phố côn trùng bắt đầu phập phồng. Khắp nơi, những bàn
chân hối hả. Những cái hàm đào bới. Râu vẫy vẫy trao đổi
thông tin. Mọi việc trở lại như trước. Như trước mùa đông tê
liệt.
Khi con đực 327 kéo cành cây hẳn phải nặng gấp sáu mươi lần
trọng lượng của mình, một con kiến chiến binh hơn năm trăm
ngày tuổi tiến lại gần nó. Con này vỗ vỗ đầu nó bằng các đốtchùy để gây chú ý. Nó ngẩng đầu. Con kiến chiến binh đặt râu
mình vào râu nó.
Con này muốn nó gác lại việc sửa sang mái để đi cùng nhóm
kiến… đi săn.
Nó sờ vào miệng và mắt con này.
Chuyến đi săn nào?
Con kia cho nó ngửi mẩu thịt khá khô được giấu trong một nếp
của khớp ngực mình.
Hình như người ta đã tìm thấy cái này ngay trước mùa đông, ở
vùng phía Tây ngay góc 23° so với mặt trời chính ngọ.
Con đực nếm thử. Đúng là loài sâu cánh cứng. Để chính xác
hơn, đó là thịt con bọ mật. Lạ thật. Thông thường, loài sâu
cánh cứng còn đang ngủ đông. Như mọi người đều biết, kiến
đỏ hung tỉnh dậy ở nhiệt độ-không khí 12°, mối 13°, ruồi 14°,
và sâu cánh cứng 15°.
Con chiến binh già không để bị bối rối bởi lý lẽ đó. Nó giải
thích cho con đực rằng mẩu thịt này được lấy từ một vùng đặc
biệt, vùng đó được sưởi ấm nhân tạo nhờ một nguồn nước
ngầm. Ở đó, không có mùa đông. Đó là vi khí hậu, nơi có hệ
động thực vật đặc biệt phát triển.
Vả lại, lúc thức dậy, Bầy thường đói. Bầy sẽ nhanh chóng cần
protein để khởi động. Nắng ấm thôi chưa đủ.
Con đực chấp nhận.
Chuyến đi săn có hai mươi tám con kiến thuộc đẳng cấp chiến
binh. Phần lớn trong bọn chúng, như con vừa rủ kiến đực tham
gia, là những con kiến già vô tính. Con đực 327 là thành viên
duy nhất của đẳng cấp hữu tính. Nó dò xét từ xa những con
cùng tham gia chuyến đi săn qua cái rây của mắt mình.
Với hàng nghìn ô mắt lưới, kiến không thấy hình ảnh bị lặp lại
hàng nghìn lần, mà là hình ảnh được chia ô. Những con côn
trùng này khó nhận ra được mọi chi tiết. Trái lại, nó nhận ra
được các cử động dù là nhỏ nhất.
Những nhà thám hiểm tham gia cuộc viễn chinh này tất cả đều
có vẻ tinh nhuệ cho những chuyến đi xa. Những cái bụng nặng
trĩu của chúng chứa đầy axít. Đầu chúng được trang bị những
vũ khí mạnh nhất. Vỏ chúng bị rạch khía ngang dọc do dính
những cú cắn ở các cuộc chiến.
Chúng thẳng tiến lên phía trước từ nhiều giờ nay. Chúng đi
qua nhiều thành phố dựng đứng giữa trời hay dưới tán cây của
Liên bang. Những tổ kiến cái của triều đại Ni: Yodu-loubaikan (loài sản xuất nhiều ngũ cốc nhất); Giou-li-aikan (mà
cách đây hai năm, nhiều đội sát thủ đã thắng liên minh các tổ
mối miền Nam); Zédi-bei-nakan (nổi tiếng với các phòng thí
nghiệm hóa học sản xuất được chất axít chiến đấu siêu đậm
đặc); Li-viu-kan (mà rượu sâu yên chi của chúng có vị nhựa
rất được ưa chuộng).
Vì kiến đỏ hung không những tổ chức thành tổ, mà còn thành
liên minh tổ. Khối thống nhất làm nên sức mạnh. Ở vùng núi
Jura, người ta có thể thấy nhiều liên bang kiến đỏ hung có
chừng 15 000 tổ kiến trải dài trên bề mặt 80 héc ta và có tổng
dân số trên 200 triệu con.
Bel-o-kan còn chưa có ở đó. Đó là một liên bang trẻ mà triều
đại gốc được thành lập cách đây năm nghìn năm. Theo huyền
thoại địa phương, có lẽ do một cô kiến cái lạc đường trong một
trận bão khủng khiếp, đã kẹt lại nơi đây. Không tài nào về
được liên bang của mình, nàng tạo ra Bel-o-kan, và từ Bel-okan, Liên bang được hình thành và hàng trăm thế hệ kiến chúa
Ni tạo nên nó.
Belo-kiu-kiuni là tên của kiến chúa đầu tiên này. Nó có nghĩa
là “kiến lạc đường”. Nhưng tất cả các kiến chúa giữ tổ trung
tâm đều lấy lại tên đó.
Hiện tại, Bel-o-kan mới chỉ gồm một tổ trung tâm lớn và 64 tổ
cái liên bang, tản mác ở ngoại vi. Nhưng nó được thừa nhận là
sức mạnh chính trị lớn nhất ở khoảnh đất này trong cánh rừng
Fontainebleau.
Khi đã đi qua các tổ con, và đặc biệt là La-chola-kan, tổ Bel-okan nằm về phía Tây xa nhất, các nhà thám hiểm tới trước
những ụ đất nhỏ: các tổ mùa hè hay “đồn tiền tiêu”. Chúng
còn trống. Nhưng con 327 biết rằng, nhanh thôi, với các cuộc
săn bắt và...
 
Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn. (Barack Obama)





