THÔNG BÁO

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

SÁCH NÓI - KỸ NĂNG SÓNG

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH HAY CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    TRÍCH DẪN HAY

    Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Gioi_han_sinh_thai_xuong_rong.png Gioi_han_sinh_thai_cua_tam.png Gioi_han_sinh_thai_ca_ro_phi.png BANDOKINHTE.jpg HB_NHOMNUOC.jpg HB_MDDS.jpg Ban_do_cac_nuoc_Dong_Nam_A.jpg TDMNPB_tunhien.jpg

    KIẾN THỨC LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

    💕💕 💕💕Thư viện không phải là nơi để ghé qua trong vội vã, mà là nơi yên bình ta chọn dừng chân giữa bộn bề cuộc sống. Nơi đây, mỗi cuốn sách đều như một mảnh ghép của thời gian, gói ghém những tri thức và câu chuyện của biết bao thế hệ💕💕 💕💕

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng Sản Việt Nam

    Kien - Bernard Werber

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 10h:57' 07-03-2024
    Dung lượng: 952.8 KB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    Chào các bạn, Đây là EBook cho thiết bị di động của trang
    Web:
    http://vnthuquan.net
    Việt Nam Thư Quán muốn gửi đến tất cả những bạn yêu thích
    văn hóa đọc cuốn sách này, đặc biệt là những người không có
    điều kiện đọc những ấn phẩm sách thông thường. Tuy nhiên,
    trong khả năng có thể, các bạn hãy mua và thưởng thức sách
    giấy như một sự tôn trọng đối với các tác giả và các nhà xuất
    bản.
    Ebook này được Việt Nam Thư Quán đăng tải trên trang
    vnthuquan.net. Các bạn có thể sử dụng dưới bất kỳ hình thức
    nào như: sao lưu, sử dụng bài viết, tư liệu, đăng trên các diễn
    đàn hay trang Web khác, chỉ có một yêu cầu là giữ nguyên nội
    dung cũng như ghi rõ nguồn cung cấp như một sự tôn trọng
    đối với những người thực hiện.

    Chế bản ebook: Phạm Huy Hùng.

    Mục lục
    Giới Thiệu

    Chương 1

    Chương 2

    Chương 3

    Chương 4

    Từ điển chú giải

    Bảng nhân vật

    Bernard Werber
    Kiến
    Giới Thiệu

    T
    rong vài giây bạn đọc những dòng này, trên
    Trái đất có bốn mươi người được sinh ra
    nhưng có tới bảy trăm triệu con kiến ra đời.
    Từ hơn trăm triệu năm trước chúng ta, chúng
    đã ở đó, được chia thành nhiều đội, nhiều tổ,
    nhiều đế chế trên toàn bề mặt trái đất. Chúng
    đã tạo ra một nền văn minh song song, xây
    dựng những vương quốc thực sự, phát minh
    ra vũ khí tối tân, thiết kế cả nghệ thuật chiến tranh, làm chủ
    một nền công nghệ đáng kinh ngạc. Chúng có những Attila,
    Christophe Colomb, Jules César, Machiavel hay Léonard de
    Vinci của chính mình.
    Bernard Werber sinh năm 1961 tại Toulouse,
    Pháp. Ngay từ khi mười bốn tuổi, anh đã viết
    truyện cho một tập san nhỏ về khoa học viễn
    tưởng. Sau khi học luật tại Toulouse và báo chí
    tại Pháp, Bernard Werber dành hơn mười năm
    làm nhà báo khoa học và đã từng cộng tác với
    rất nhiều tờ có tên tuổi nhưNouvel
    Observateur, Le Point, Ça m'intéresse. Sau đó,
    anh tập trung vào viết văn. Ngay từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên
    xuất bản năm 1992,Kiến, nhà văn này đã nổi tiếng với một
    phong cách viết độc đáo, pha trộn giữa loại truyện phiêu lưu,
    khoa học viễn tưởng và triết lý.Kiếnđã giành giải thưởng của
    độc giả tờKhoa học và Tương lai (Sciences et Avenir). Cuốn
    thứ hai trong bộ ba tiểu thuyết về kiến,Le jour des fourmis
    (Ngày của kiến), ra đời ngay sau đó, đã được nhận giải thưởng
    lớn của độc giả tờ Elle.

    Các tác phẩm của Bernard Werber đã được dịch ra hơn 35 thứ
    tiếng. Với 15 triệu bản bán được trên toàn thế giới, cùng với
    Marc Levy, Bernard Werber là một trong những nhà văn Pháp
    đương đại nổi tiếng nhất.
    Ngoài tiểu thuyết, Bernard Werber còn được biết đến với
    truyện ngắn, truyện tranh, kịch và phim.

    Bernard Werber
    Kiến
    Chương 1
    Người thức tỉnh
    A
    nh sẽ thấy, không hoàn toàn như anh mong
    đợi đâu. Công chứng viên giải thích rằng tòa
    nhà được xếp hạng di tích lịch sử và nhiều
    nhà hiền triết thời Phục hưng đã từng sống ở
    đây, nhưng ông không nhớ là những ai.
    Họ xuống cầu thang, bước vào một hành lang
    tối om nơi công chứng viên dò dẫm hồi lâu,
    uổng công bật một cái nút trước khi thở dài:
    - Ái chà! Nó không chạy nữa.
    Họ tiến trong bóng tối, lộp cộp lần theo các bức tường. Khi
    cuối cùng công chứng viên tìm thấy cái cửa, mở nó và nhấn,
    lần này thì thành công, trúng cái công tắc, ông thấy khách
    hàng của mình mặt mày biến sắc.
    - Không ổn à, ông Wells?
    - Một chứng sợ thôi. Không sao đâu.
    - Sợ bóng tối?
    - Vâng. Nhưng đã khá hơn rồi.
    Họ xem xét mọi ngóc ngách. Đó là tầng hầm rộng hai trăm
    mét vuông. Dù nó chỉ mở ra phía ngoài bằng vài ô cửa tầng
    hầm hiếm hoi, bé xíu và sát trần, Jonathan vẫn hài lòng về căn
    hộ. Các bức tường được dán giấy xám đơn điệu, và bụi phủ
    khắp nơi… Nhưng anh sẽ không tỏ ra khó tính hơn.
    Căn hộ của anh hiện nay chỉ rộng bằng một phần năm căn hộ
    này. Hơn nữa, anh không còn khả năng để trả tiền thuê; nhà
    máy khóa nơi anh làm mới đây đã quyết định bỏ qua công
    đoạn của anh.
    Món thừa kế của bác Edmond đúng là của trời cho không tin
    được.

    Hai ngày sau, anh dọn đến số 3, phố Sybarites với vợ mình là
    Lucie, cậu con trai Nicolas và con chó bông lùn cụt đuôi
    Ouarzazate của họ.
    - Mấy bức tường xám này không làm em ngại đâu, Lucie vừa
    nói vừa lấy tay nâng mái tóc đỏ dày của cô. Chúng mình có
    thể trang trí như chúng mình muốn. Mọi thứ ở đây đều phải
    làm lại hết. Như kiểu mình biến nhà tù thành khách sạn đấy.
    - Phòng của con ở đâu ạ? Nicolas hỏi.
    - Phía cuối, bên phải.
    - Ẳng ẳng, con chó sủa, và nó bắt đầu nhay nhay bắp chân
    Lucie mà không biết là cô đang bưng chồng bát đĩa đám cưới
    trong tay.
    Kết cục, nó nhanh chóng bị nhốt vào nhà vệ sinh; khóa hẳn
    hoi, vì nó biết nhảy tới tận tay nắm cửa và biết xoay để mở
    cửa.
    - Anh có biết rõ ông bác hào phóng của anh không? Lucie tiếp
    tục.
    - Bác Edmond? Thực ra, tất cả những gì anh nhớ, chỉ là bác
    nhấc anh lên giả làm máy bay, lúc anh còn rất nhỏ. Một lần
    anh sợ đến nỗi anh đã tè dầm lên bác ấy.
    Họ cười.
    - Đã nhát gan thế cơ à? Lucie trêu.
    Jonathan làm ra vẻ không nghe thấy gì.
    - Bác ấy không trách anh về chuyện đó. Bác chỉ nói với mẹ
    anh: “Được rồi, chúng ta biết là sẽ không cho nó thành phi
    công…” Sau đó, mẹ nói rằng bác theo sát suốt cuộc đời anh,
    nhưng anh không gặp lại bác từ ấy.
    - Bác làm nghề gì?
    - Đó là một nhà bác học. Một nhà sinh học, hình như thế.
    Jonathan trở nên trầm tư. Cuối cùng, thậm chí anh cũng không
    biết ân nhân của mình.

    Cách đó 6 km:
    BEL-O-KAN,
    Cao một mét.
    50 tầng dưới lòng đất.
    50 tầng trên mặt đất.
    Thành phố lớn nhất của vùng.
    Dân số ước tính: 18 triệu.
    Sản lượng hàng năm:
    - 50 lít mật rệp.
    - 10 lít mật sâu yên chi.
    - 4 kilô nấm mũ.
    - Đá được dũi: 1 tấn.
    - Số km hành lang đi lại được: 120.
    - Diện tích trên mặt đất: 2m2.
    Một tia sáng vụt qua. Một cái chân vừa nhúc nhích. Cử động
    đầu tiên từ đợt bắt đầu ngủ đông, cách đây ba tháng. Một cái
    chân khác từ từ tiến, kết thúc là hai cái chân dần dần tách ra.
    Một cái chân khác duỗi ra. Rồi đến bộ ngực. Rồi một cái thân.
    Rồi mười hai cái thân.
    Chúng rùng mình để giúp dòng máu trong suốt lưu thông trong
    các động mạch của mình. Máu chuyển từ trạng thái sền sệt
    sang nhão rồi lỏng. Dần dần van tim bắt đầu hoạt động trở lại.
    Nó đẩy máu tới tận cuối các chi. Các cơ sinh học nóng dần
    lên. Các khớp siêu phức tạp xoay từ từ. Khắp nơi, xương bánh
    chè với các mảng bảo vệ cố tìm thấy cực điểm xoắn của
    chúng.

    Chúng tỉnh dậy. Cơ thể lấy lại hơi. Các động tác của chúng rời
    rạc. Như vũ điệu quay chậm. Chúng lắc nhè nhẹ, vẩy vẩy.
    Chân trước chúng chập lại trước miệng như kiểu đang cầu
    nguyện, nhưng không phải, chúng làm ướt các chân của mình
    để đánh bóng râu.
    Mười hai con vừa thức dậy xoa cho nhau. Sau đó chúng tìm
    cách đánh thức những con bên cạnh. Nhưng chúng mới chỉ có
    đủ sức để nhúc nhích mỗi cơ thể mình, chúng không còn năng
    lượng để cho đi. Chúng bỏ cuộc.
    Rồi chúng khó nhọc tiến đến giữa những cơ thể cứng như
    tượng của các chị em mình. Chúng hướng về bên Ngoài rộng
    lớn. Toàn bộ cơ thể máu lạnh của chúng cần phải hứng lấy
    năng lượng mặt trời.
    Chúng tiếp tục tiến lên, mệt nhoài. Mỗi bước đi là cả một sự
    đau đớn. Chúng muốn nằm lại đến chừng nào và muốn được
    yên tĩnh như hàng triệu bạn đồng loại của chúng! Nhưng
    không. Chúng là những người đầu tiên thức tỉnh. Bây giờ
    chúng phải đánh thức toàn thành phố.
    Chúng qua thành phố. Ánh sáng mặt trời làm chúng chói mắt,
    nhưng tiếp xúc với năng lượng trong lành sảng khoái đến
    nhường nào.
    Mặt trời rọi chiếu trên cơ thể gầy của chúng ta,
    Lay tỉnh những cơ bắp đau nhức
    Và hợp nhất các suy nghĩ tản mát.
    Đó là một khúc ca ban mai cổ xưa của loài kiến đỏ hung từ
    hàng trăm nghìn năm nay. Từ thời đó, chúng đã muốn lẩm
    nhẩm hát trong đầu ngay lần đầu tiếp xúc với nắng ấm.
    Khi đã ở ngoài, chúng bắt đầu vệ sinh một cách bài bản.
    Chúng tiết ra một thứ nước dãi trắng rồi dùng nó thoa đều các
    hàm và chân chúng.
    Chúng chải chuốt. Đó là nghi lễ bất di bất dịch. Đầu tiên là
    mắt. Một nghìn ba trăm ô nhỏ tạo thành con mắt lồi được phủi
    bụi, làm ẩm, sấy khô. Chúng cũng làm như thế với râu, chi
    dưới, chi giữa, và chi trước. Cuối cùng, chúng đánh bóng thân
    hình bóng đỏ đẹp đẽ của mình cho tới khi lấp lánh như những
    tia lửa.

    Trong số mười hai con tỉnh dậy, có một con đực giống. Nó nhỏ
    hơn một chút so với kích cỡ trung bình dân Bel-o-kan. Nó có
    hàm trên hẹp và nó được lên kế hoạch để không sống quá vài
    tháng, nhưng nó cũng được hưởng những lợi thế mà đồng loại
    không biết.
    Lợi thế đầu tiên về đẳng cấp: với tư cách là động vật sinh sản
    hữu tính, nó có năm mắt. Hai mắt lớn hình cầu giúp nó nhìn
    tận 180°. Ba mắt nhỏ hơn xếp thành hình tam giác trên trán.
    Những con mắt dư thừa này thực ra là bộ phận tiếp nhận tia
    hồng ngoại cho phép phát hiện bất kỳ nguồn nhiệt nào từ xa,
    dù có ở trong bóng tối hoàn toàn.
    Một đặc trưng quý giá biết bao đối với dân cư các thành phố
    lớn có từ hàng trăm nghìn thiên niên kỷ, hoàn toàn bị mù do
    phải sống dưới lòng đất.
    Nhưng nó không chỉ có đặc điểm này. Nó cũng có cánh (như
    những con cái) để có thể bay đi giao phối.
    Ngực của nó được bảo vệ bởi một tấm chắn đặc biệt: lá chắn
    ngực.
    Râu của nó dài hơn và thính hơn những dân cư khác.
    Con đực giống trẻ này dừng lại một hồi lâu trên mái, ních căng
    bụng ánh sáng mặt trời. Sau đó, khi đã được sưởi ấm no nê, nó
    quay vào thành phố. Tạm thời nó thuộc về đẳng cấp kiến “sứ
    giả truyền nhiệt”.
    Nó di chuyển trong hành lang tầng thứ ba dưới lòng đất. Ở
    đây, mọi người còn đang say sưa ngủ. Những cơ thể đông
    cứng bất động. Râu bị bỏ phí.
    Những con kiến vẫn còn say giấc nồng.
    Chàng kiến đực trẻ tiến về phía một con kiến thợ mà nó muốn
    đánh thức dậy bằng nhiệt cơ thể mình. Sự tiếp xúc ấm áp giữa
    hai cơ thể khiến nó có cảm giác tê tê dễ chịu.

    Tiếng bước chân nhẹ vang lên ngay hồi chuông thứ hai. Cửa
    mở, dừng một chút khi bà Augusta tháo dây xích an toàn ở cửa
    ra.

    Từ khi hai con mất, bà sống tách biệt trong căn hộ nhỏ ba
    mươi mét vuông này, ôn lại những kỷ niệm cũ. Điều đó chẳng
    thể khiến bà thấy tốt hơn, nhưng cũng không làm giảm lòng
    tốt của bà về bất cứ mặt nào.
    - Bà biết là buồn cười, nhưng đi đôi dép vải này vào. Bà mới
    đánh xi sàn nhà.
    Jonathan nghe lời. Bà lon ton đi trước anh, dẫn anh vào phòng
    khách, rất nhiều đồ gỗ trong phòng còn phủ khăn. Ngồi ở mép
    tràng kỷ lớn, Jonathan không tài nào tránh khỏi làm cái vỏ bọc
    bằng nhựa kêu sột soạt.
    - Bà mừng là cháu tới… Có lẽ cháu không tin, nhưng bà định
    gọi cho cháu mấy ngày nay.
    - Thế ạ?
    - Nhớ là Edmond để lại một thứ cho cháu. Một bức thư. Bác
    ấy nói là: nếu con chết, bằng mọi giá mẹ phải đưa thư này cho
    Jonathan.
    - Một bức thư ạ?
    - Một bức thư, ừ, một bức thư… Ừm, bà cũng chẳng biết để nó
    ở đâu nữa. Chờ bà chút… Bác ấy đưa cho bà bức thư, bà nói
    với bác ấy là bà sẽ cất nó, bà cất nó trong một cái hộp. Có lẽ là
    một trong mấy cái hộp sắt trắng ở cái tủ tường lớn.
    Bà bắt đầu lê dép trên sàn nhà, nhưng dừng lại ngay ở bước
    thứ ba.
    - Xem nào, bà ngớ ngẩn quá! Bà tiếp đón cháu thế đấy! Cháu
    uống một tách trà cỏ roi ngựa không?
    - Dạ, có ạ.
    Bà tiến vào bếp và khua nồi xoong.
    - Cho bà biết chút tin tức của cháu đi, Jonathan! bà nói.
    - Dạ, cũng không kinh khủng lắm. Cháu bị cho nghỉ việc rồi.
    Bà thò mái đầu bạc trắng ra khỏi cửa, rồi hẳn cả người, vẻ
    nghiêm trọng, lọt thỏm trong cái tạp dề dài màu xanh nước
    biển.
    - Họ đuổi cháu á?

    - Vâng.
    - Tại sao?
    - Bà biết đấy, nghề thợ khóa là một môi trường đặc biệt. Công
    ty của cháu, “SOS Khóa”, hoạt động 24 trên 24 khắp các khu
    phố ở Paris. Thế nhưng, từ khi một trong các đồng nghiệp của
    cháu bị tấn công, cháu từ chối đến các khu lộn xộn vào buổi
    tối. Thế là họ đuổi cháu.
    - Cháu làm đúng đấy. Thà thất nghiệp và khỏe mạnh còn hơn
    là ngược lại.
    - Hơn nữa, cháu không hợp với sếp của cháu lắm.
    - Còn kinh nghiệm cộng đồng không tưởng của cháu? Thời bà,
    người ta gọi là cộng đồng New Age. (Bà lén cười, bà phát âm
    là “nu-i-az”(1)).
    - Cháu thôi sau thất bại ở trang trại Pyrénées. Lucie chán phải
    nấu ăn và rửa bát cho tất cả mọi người. Trong hội cháu, có
    nhiều người ỷ lại lắm. Chúng cháu rất bực mình. Bây giờ cháu
    chỉ sống với mỗi Lucie và Nicolas… Còn bà, bà ngoại, bà
    khỏe không?
    - Bà á? Bà tồn tại. Thế đã là cả một mối bận tâm thường xuyên
    rồi.
    - Bà số đỏ! Bà đã sống qua thời khắc chuyển giao giữa hai
    thiên niên kỷ rồi…
    - Ồ! Cháu biết đấy, điều làm bà ấn tượng nhất là chẳng có gì
    thay đổi cả. Trước đây, khi bà còn bé, người ta nói là sau khi
    qua thiên niên kỷ mới, sẽ có rất nhiều điều kỳ diệu, và cháu
    thấy đấy, chẳng có gì tiến hóa cả. Lúc nào cũng có người già
    sống đơn côi, luôn đầy người thất nghiệp, vẫn đầy ô tô nhả
    khói. Ngay cả các tư tưởng cũng chẳng thèm nhúc nhích. Này
    nhé, năm ngoái người ta tái phát hiện chủ nghĩa siêu thực, năm
    trước nữa thì rock'n roll, và báo chí nói là hè năm nay mini
    jupe quay trở lại. Nếu cứ tiếp tục thế này chắc người ta sẽ lôi
    nốt những ý tưởng cũ rích từ hồi đầu thế kỷ: cộng sản, phân
    tích tâm lý và thuyết tương đối…
    Jonathan mỉm cười.

    - Nhưng mà vẫn có nhiều tiến bộ: tuổi thọ trung bình tăng lên,
    cũng như là số vụ ly hôn, mức ô nhiễm không khí, chiều dài
    các tuyến tàu điện ngầm…
    - Hay ho nhỉ. Bà lại cứ nghĩ là mọi người sẽ có máy bay riêng
    và có thể cất cánh từ ban công… Cháu biết không, hồi bà trẻ,
    mọi người đều sợ chiến tranh hạt nhân. Đúng là nỗi sợ tuyệt
    vời. Chết lúc trăm tuổi trong cái lò cháy rực của một cây nấm
    nguyên tử khổng lồ, chết với hành tinh… dù sao cũng kiêu
    hãnh lắm chứ. Thay vì chết như thế, bà sẽ chết như một củ
    khoai tây già thối. Và mọi người mặc kệ.
    - Không, bà ơi, không phải thế.
    Bà lau trán.
    - Hơn nữa, trời nóng quá, càng ngày càng nóng hơn. Thời bà,
    trời không nóng như thế này. Mùa đông ra mùa đông và mùa
    hè ra mùa hè. Bây giờ, đợt nắng nóng bắt đầu ngay từ tháng
    Ba.
    Bà quay trở lại bếp, nhảy lên với chút khéo léo hiếm thấy, lấy
    tất cả những đồ cần thiết để làm một tách trà cỏ roi ngựa thơm
    ngon. Sau khi bà quẹt một que diêm và người ta nghe thấy
    tiếng ga thổi trong những đường dẫn cũ của cái bếp, bà quay
    lại, vẻ thoải mái hơn.
    - Nhưng thực ra, cháu phải có lý do chính xác nào thì mới tới
    đây chứ. Ngày nay, người ta không đến thăm những người già
    như thế.
    - Đừng cay nghiệt như thế, bà.
    - Bà không cay nghiệt, bà biết mình đang sống trong thế giới
    nào, thế thôi. Nào, nhõng nhẽo đủ rồi, nói cho bà biết cái gì
    đưa cháu đến đây.
    - Cháu muốn bà nói cho cháu về “bác ấy”. Bác ấy để lại cho
    cháu căn hộ của bác và cháu thậm chí không biết bác…
    - Edmond? Cháu không nhớ Edmond à? Thế mà, bác ấy rất
    thích nâng cháu lên để cháu làm máy bay khi cháu còn bé. Bà
    thậm chí còn nhớ một lần…
    - Vâng, cái đó cháu cũng nhớ, nhưng ngoài giai thoại này, là
    con số không.

    Bà ngồi trong một cái ghế bành lớn và chú ý không làm nhàu
    cái vỏ quá.
    - Edmond, hừm, đó là một nhân vật. Ngay từ khi còn rất nhỏ,
    bác cháu đã gây cho bà lắm điều phiền nhiễu. Là mẹ bác ấy
    không phải việc tầm thường đâu. Ví dụ nhé, bác ấy thường
    làm gẫy hết đồ chơi của mình để tháo chúng, hiếm khi để lắp
    lại chúng. Và giá như bác ấy chỉ phá mỗi đồ chơi của mình!
    Bác ấy tháo mọi thứ: đồng hồ treo tường, máy quay đĩa, bàn
    chải đánh răng điện. Một lần, bác ấy thậm chí tháo cả tủ lạnh.
    Như để khẳng định lời bà nói, cái đồng hồ quả lắc cổ ở phòng
    khách bắt đầu kêu lên buồn bã. Nó cũng thế, nó cũng phải chịu
    đủ mọi loại khổ sở với cậu bé Edmond.
    - Và sau đó bác ấy có một ý thích riêng: hang ổ. Bác ấy bới
    tung nhà lên để xây chỗ trú cho mình. Bác ấy xây một cái bằng
    chăn và ô ở trên tầng áp mái, cái khác với ghế và áo choàng
    lông trong phòng mình. Bác ấy thích ẩn như thế ở bên trong,
    giữa đống kho báu mà bác ấy tích vào. Một lần bà nhìn vào,
    đầy gối ôm và một mớ linh tinh máy móc mà bác ấy giật ở các
    máy ra. Vả lại, nó cũng có vẻ khá tiện nghi thoải mái.
    - Tất cả trẻ con đều làm thế…
    - Có thể, nhưng ở bác ấy là mức độ đáng kinh ngạc. Bác ấy
    không ngủ trên giường nữa, bác ấy chỉ đồng ý ngủ ở một trong
    các cái tổ của mình. Thỉnh thoảng, có những khi bác ấy ở
    trong đó cả ngày không nhúc nhích. Cứ như là bác ấy đang
    ngủ đông. Thậm chí, mẹ cháu còn cho rằng kiếp trước, bác ấy
    chắc phải là con sóc.
    Jonathan mỉm cười để cổ vũ bà tiếp tục.
    - Một hôm, bác ấy muốn xây lều của mình giữa mấy cái chân
    bàn trong phòng khách. Đúng là giọt nước làm tràn ly, ông
    cháu phát điên lên, mà không phải ông thường như thế. Ông
    đét đít bác ấy, phá tất cả tổ và bắt bác ấy ngủ trên giường.
    Bà thở dài.
    - Từ hôm đó, bác hoàn toàn tuột khỏi ông bà. Giống như người
    ta cắt dây rốn. Ông bà không còn thuộc vào thế giới của bác ấy
    nữa. Nhưng bà nghĩ sự thử thách này là cần thiết, bác ấy cần
    phải biết thế giới không chịu theo mãi những đòi hỏi thất

    thường của bác ấy. Sau này, khi lớn lên, sẽ có nhiều vấn đề.
    Bác ấy không chịu đựng được trường học. Cháu sẽ nói với bà
    là: “như mọi đứa trẻ”. Nhưng ở bác ấy mọi việc còn đi xa hơn.
    Cháu có biết nhiều đứa trẻ treo cổ trong nhà vệ sinh bằng thắt
    lưng của mình vì bị giáo viên mắng chưa? Bác ấy á, bác ấy đã
    treo mình như thế năm bảy tuổi. Chính bác lao công đã đỡ bác
    ấy xuống.
    - Có thể bác ấy quá nhạy cảm…
    - Nhạy cảm? Cháu nói thế! Một năm sau, bác ấy cố tình đâm
    một trong những giáo viên của mình bằng kéo. Bác ấy nhắm
    vào tim. May mắn sao, nó chỉ làm hỏng hộp thuốc lá của thầy
    giáo.
    Bà ngước mắt lên trần nhà. Những kỷ niệm tản mác rơi xuống
    ý nghĩ của bà như những bông tuyết.
    - Sau đó có vẻ ổn thỏa hơn một chút, vì một số giáo viên thu
    hút được bác ấy. Bác ấy đạt điểm hai mươi cho những môn
    bác ấy quan tâm và điểm không cho những môn khác. Luôn là
    hai mươi hoặc không.
    - Mẹ nói bác ấy là thiên tài.
    - Bác ấy mê hoặc mẹ cháu đấy vì bác ấy giải thích cho mẹ
    cháu rằng bác ấy cố đạt đến “tri thức tuyệt đối”. Ngay lúc
    mười tuổi, mẹ cháu đã tin là có kiếp trước, nên nghĩ bác ấy là
    hiện thân của Einstein hay Léonard de Vinci.
    - Thêm cả con sóc nữa chứ?
    - Tại sao không? “Cần phải có nhiều cuộc sống để tạo nên một
    linh hồn…” đức Phật đã nói thế.
    - Bác ấy có làm trắc nghiệm IQ không?
    - Có. Rất là tồi. Bác ấy đạt 23 trên 180, điểm tương đương với
    một đứa hơi ngốc. Giáo viên nghĩ là bác ấy điên và phải cho
    bác ấy đến một trung tâm chuyên biệt. Nhưng bà biết là bác ấy
    không điên. Bác ấy chỉ ở “bên cạnh” thôi. Bà nhớ một lần, ồ!
    có lẽ bác ấy vừa tròn mười một tuổi, bác ấy thách bà xếp được
    bốn hình tam giác bằng nhau chỉ với sáu que diêm. Không dễ
    tí tẹo nào, cháu thử xem sao…

    Bà đi vào bếp, liếc nhìn ấm nước và mang sáu que diêm ra.
    Jonathan chần chừ một lát. Có vẻ như làm được. Anh xoay sáu
    cái que thành nhiều cách khác nhau, nhưng sau nhiều phút hí
    hoáy đành bỏ cuộc.
    - Cách làm như thế nào ạ?
    Bà Augusta tập trung.
    - Ờ, thực ra, bà nghĩ là bác ấy chưa bao giờ cho bà biết. Mọi
    điều mà bà nhớ là câu bác ấy nói cho bà để giúp bà tìm ra
    cách: “Phải nghĩ khác đi, nếu người ta chỉ nghĩ theo thói quen
    thì chẳng đạt được gì.” Cháu thử hình dung xem, một thằng bé
    mười một tuổi mà nói ra những điều như thế! À! bà nghe thấy
    tiếng ấm nước reo. Nước chắc phải sôi rồi.
    Bà trở lại với hai tách đầy một thứ nước màu vàng nhạt rất
    thơm.
    - Cháu biết không, thấy cháu quan tâm đến bác mình, bà rất
    hài lòng. Thời nay, khi ai đó chết đi, người ta thậm chí còn
    quên là họ đã được sinh ra.
    Jonathan bỏ dở mấy que diêm và nhẹ nhàng uống vài ngụm cỏ
    roi ngựa.
    - Sau đó, việc gì xảy ra ạ?
    - Bà cũng không biết, ngay khi bác ấy bắt đầu học đại học
    khoa học, ông bà không có tin tức gì nữa. Bà biết được đại
    khái qua mẹ cháu rằng bác ấy bảo vệ xuất sắc bằng tiến sĩ,
    rằng bác ấy làm cho một công ty thực phẩm, rồi bác ấy bỏ
    công ty để đi châu Phi, sau đó quay lại sống ở phố Sybarites,
    nơi mà không một ai nghe nói đến bác ấy cho đến lúc bác ấy
    chết.
    - Bác ấy chết như thế nào?
    - À! Cháu không biết sao? Một chuyện không thể tin được. Họ
    đăng chuyện đó trên khắp các mặt báo. Bác ấy chết vì bị ong
    vò vẽ đốt.
    - Ong vò vẽ? Chuyện thế nào cơ?
    - Bác ấy đi dạo một mình trong rừng. Chắc là bác ấy vô tình
    vấp phải một tổ ong. Chúng bâu đầy người bác ấy. Bác sĩ pháp
    y khẳng định: “Chưa bao giờ tôi thấy có nhiều vết đốt trên một

    người như thế.” Bác ấy chết với 0,3 gam nọc độc trong một lít
    máu. Chưa từng thấy bao giờ.
    - Bác ấy có mộ không?
    - Không. Bác ấy yêu cầu được chôn dưới một cây thông trong
    rừng.
    - Bác có ảnh không ạ?
    - Nhìn đằng kia kìa, trên tường ấy, phía trên cái tủ com mốt.
    Bên phải: Suzy, mẹ cháu (cháu đã nhìn thấy mẹ cháu trẻ như
    thế chưa?). Bên trái: Edmond.
    Ông có vầng trán rộng, bộ ria nhọn, tai không dái tai kiểu
    Kafka(2) cao tới chân mày. Ông cười ranh mãnh. Một con quỷ
    con.
    Bên cạnh ông, Suzy rạng rỡ trong chiếc váy trắng. Mấy năm
    sau, cô kết hôn, nhưng luôn giữ họ Wells. Như thể cô không
    muốn chồng truyền lại dấu ấn dòng họ mình cho con cái.
    Tiến lại gần hơn, Jonathan thấy Edmond dựng hai ngón tay
    trên đầu em gái mình.
    - Bác ấy rất tinh nghịch, đúng không ạ?
    Bà Augusta không trả lời. Nét buồn đượm trong ánh mắt khi
    bà nhìn lại khuôn mặt rạng rỡ của con gái. Suzy mất sáu năm
    trước. Một chiếc xe tải mười lăm tấn do tài xế say rượu lái đẩy
    ô tô của cô xuống rãnh. Cô hấp hối hai hôm. Cô đòi gặp
    Edmond, thế nhưng Edmond thậm chí không tới. Thêm một
    lần nữa, ông lại ở đâu đâu…
    - Bà không biết ai khác có thể nói cho cháu về Edmond?
    - Hừm… Bác ấy có một bạn thiếu thời mà bác hay gặp. Chúng
    còn học chung đại học với nhau. Jason Bragel. Hẳn bà vẫn còn
    số điện thoại của bác ấy.
    Augusta xem nhanh máy tính của mình rồi đưa cho Jonathan
    địa chỉ của người bạn đó. BàXX. trìu mến nhìn cháu ngoại.
    Đây là người sống sót cuối cùng của gia đình Wells. Một cậu
    bé dũng cảm.
    - Nào, uống nốt trà đi, nó đang nguội kìa. Bà có cả bánh
    Madeleine nữa, nếu cháu muốn. Tự tay bà làm với trứng chim

    cút đấy.
    - Thôi ạ, cháu cảm ơn bà. Cháu phải đi đây. Một ngày nào đó
    bà qua căn hộ mới của chúng cháu chơi nhé, chúng cháu dọn
    đến đó xong rồi.
    - Đồng ý, nhưng chờ đã, đừng có đi mà quên lá thư.
    Kiên trì lục cái tủ tường lớn và mấy cái hộp sắt, cuối cùng bà
    cũng thấy cái phong bì trắng trên đó ghi dòng chữ viết vội:
    “Gửi Jonathan Wells.” Mép gập của phong bì được bảo vệ
    bằng nhiều lớp băng dính để tránh bị mở không đúng lúc. Anh
    cẩn thận xé phong bì. Một tờ giấy nhàu nhĩ, loại sổ tay học
    sinh, rơi ra. Anh đọc một câu duy nhất ghi trong đó:
    “TUYỆT ĐỐI KHÔNG BAO GIỜ ĐƯỢC XUỐNG KHO
    CHỨA ĐỒ!”

    Con kiến rung rung mấy sợi râu. Nó như chiếc ô tô người ta bỏ
    lâu dưới tuyết và người ta thử khởi động lại. Con đực làm như
    thế nhiều lần. Nó xoa cho con kiến thợ. Bôi cho con cái chút
    nước dãi nóng.
    Sống rồi. Xong, động cơ được khởi động trở lại. Một mùa trôi
    qua. Mọi thứ lại bắt đầu như thể nó chưa bao giờ trải qua kỳ
    “tạm chết”.
    Nó vẫn xoa cho con kiến thợ để truyền thêm năng lượng. Bây
    giờ, kiến thợ đã khỏe hơn. Trong khi nó tiếp tục vất vả, kiến
    thợ hướng râu về phía nó. Kiến thợ cù nhè nhẹ nó. Kiến thợ
    muốn biết nó là ai.
    Kiến thợ sờ khúc đầu của con kiến đực, bắt đầu từ hộp sọ và
    đọc tuổi của nó: một trăm bảy mươi ba ngày tuổi. Trên khúc
    thứ hai, kiến thợ xác định đẳng cấp của nó: kiến đực giống. Ở
    khúc thứ ba, loài và tổ của nó: kiến đỏ hung ở rừng thuộc
    thành phố mẹ Bel-o-kan. Ở khúc thứ tư, con kiến thợ nhận ra
    số lứa sinh dùng để nhận dạng nó: nó là con kiến đực thứ 327,
    được sinh ra từ hồi đầu mùa thu.
    Tới đó, kiến thợ ngừng đánh hơi tìm hiểu. Những khúc khác
    không phát thông tin. Khúc thứ năm dùng để tiếp nhận các

    phân tử dấu vết. Khúc thứ sáu được dùng cho những hội thoại
    đơn giản. Khúc thứ bảy cho phép những hội thoại phức tạp
    hơn kiểu tình dục. Khúc thứ tám dành để nói chuyện với Kiến
    Chúa. Cuối cùng, ba khúc còn lại dùng làm chùy nhỏ.
    Thế đấy, kiến thợ đã xem xong một lượt mười một khúc của
    nửa thứ hai của râu. Nhưng nó chẳng có gì để nói với con kiến
    đực. Thế là nó lánh đi và, tới lượt nó, đi sưởi ấm trên mái của
    Tổ.
    Con kiến đực cũng làm thế. Kết thúc công việc của sứ giả
    truyền nhiệt, giờ là chỗ cho công việc tu bổ!
    Lên tới trên cao, con đực 327 xem xét các thiệt hại. Tổ được
    xây theo hình nón để ít bị ảnh hưởng khi thời tiết xấu, thế
    nhưng, mùa đông là kẻ phá hoại. Gió, tuyết và mưa đá đã làm
    bật lớp cành đầu tiên. Phân chim lấp một số lối đi. Phải nhanh
    chóng bắt tay vào việc. Con 327 tiến tới một mảng lớn màu
    vàng và dùng hàm trên phá thứ chất cứng và thối đó đi. Phía
    bên kia thoáng xuất hiện bóng một con côn trùng đang đào từ
    bên trong.

    Cái lỗ nhìn quang học ở cửa tối đi. Người ta nhìn nó qua cánh
    cửa.
    - Ai đấy?
    - Ông Gougne… Tôi đến để đóng sách.
    Cánh cửa hé mở. Cái ông tên Gougne cúi nhìn cậu bé tóc vàng
    khoảng mười tuổi, rồi, thấp hơn nữa, một con chó bé xíu, thò
    mõm qua hai chân của cậu bé, bắt đầu gầm gừ.
    - Bố không có nhà!
    - Cháu chắc không? Giáo sư Wells lẽ ra phải qua gặp ông và…
    - Giáo sư Wells là ông của cháu. Nhưng ông mất rồi.
    Nicolas muốn đóng cửa nhưng người đàn ông nhích chân lên
    để cố nài.
    - Thành thật chia buồn. Nhưng cháu chắc là ông ấy không để
    lại một túi đựng tài liệu to đùng chứa đầy giấy chứ? Ông là

    người đóng sách. Ông ấy đã trả tiền trước để đóng bìa da tập
    ghi chép công việc của mình. Ông ấy muốn làm một quyển từ
    điển bách khoa toàn thư, ông nghĩ thế. Lẽ ra ông ấy phải qua
    nhưng ông không có tin tức của ông ấy từ lâu lắm rồi…
    - Ông mất rồi, cháu đã nói với ông.
    Người đàn ông nhích chân thêm chút nữa, lấy đầu gối đẩy
    cánh cửa như thể ông ta muốn xô cậu bé để vào. Con chó cong
    người lại, bắt đầu sủa gay gắt. Ông ta đứng im.
    - Cháu hiểu cho, điều này sẽ khiến ông áy náy vô cùng vì
    không giữ lời hứa với ông ấy, dù chỉ là di cảo. Cháu làm ơn
    kiểm tra lại. Chắc chắn phải có một cái cặp tài liệu lớn màu đỏ
    ở đâu đó.
    - Ông nói là một quyển từ điển bách khoa toàn thư ạ?
    - Đúng, ông ấy tự đặt tên quyển này là: “Từ điển Bách khoa
    toàn thư kiến thức tương đối và tuyệt đối”, nhưng ông sẽ ngạc
    nhiên nếu như nó được ghi trên bìa…
    - Cả nhà cháu đã phải thấy nếu nó ở nhà chúng cháu.
    - Ông xin lỗi vì năn nỉ thêm nhưng…
    Con chó bông lùn bắt đầu sủa. Người đàn ông hơi lùi lại, đủ để
    cho cậu bé đóng sập cửa trước mặt ông ta.

    Bây giờ cả Tổ đã thức dậy. Các hành lang chật kín sứ giả
    truyền nhiệt đang khẩn trương ủ ấm cho cả Bầy. Thế nhưng, ở
    một số nơi giao nhau trong Tổ, người ta còn thấy nhiều công
    dân bất động. Kiến truyền nhiệt lay chúng một cách vô vọng,
    đập chúng, nhưng chúng không nhúc nhích.
    Chúng sẽ không cử động nữa. Chúng đã chết. Với chúng, ngủ
    đông là trí mạng. Chúng không thể nào trụ được mà không gặp
    rủi ro trong vòng ba tháng với một nhịp tim trên thực tế là
    không tồn tại. Chúng đã không phải chịu đau đớn. Chúng từ
    giấc ngủ thông thường đến với giấc ngàn thu trong một đợt gió
    lùa bất chợt trùm lên Tổ. Xác chúng được chuyển đi rồi bị
    ném vào nơi đổ rác. Cứ như thế, mỗi sáng, Tổ lại dọn dẹp
    những phần tử đã chết cùng những rác rưởi khác.

    Một khi mạch máu được loại sạch những cặn bẩn của mình,
    thành phố côn trùng bắt đầu phập phồng. Khắp nơi, những bàn
    chân hối hả. Những cái hàm đào bới. Râu vẫy vẫy trao đổi
    thông tin. Mọi việc trở lại như trước. Như trước mùa đông tê
    liệt.
    Khi con đực 327 kéo cành cây hẳn phải nặng gấp sáu mươi lần
    trọng lượng của mình, một con kiến chiến binh hơn năm trăm
    ngày tuổi tiến lại gần nó. Con này vỗ vỗ đầu nó bằng các đốtchùy để gây chú ý. Nó ngẩng đầu. Con kiến chiến binh đặt râu
    mình vào râu nó.
    Con này muốn nó gác lại việc sửa sang mái để đi cùng nhóm
    kiến… đi săn.
    Nó sờ vào miệng và mắt con này.
    Chuyến đi săn nào?
    Con kia cho nó ngửi mẩu thịt khá khô được giấu trong một nếp
    của khớp ngực mình.
    Hình như người ta đã tìm thấy cái này ngay trước mùa đông, ở
    vùng phía Tây ngay góc 23° so với mặt trời chính ngọ.
    Con đực nếm thử. Đúng là loài sâu cánh cứng. Để chính xác
    hơn, đó là thịt con bọ mật. Lạ thật. Thông thường, loài sâu
    cánh cứng còn đang ngủ đông. Như mọi người đều biết, kiến
    đỏ hung tỉnh dậy ở nhiệt độ-không khí 12°, mối 13°, ruồi 14°,
    và sâu cánh cứng 15°.
    Con chiến binh già không để bị bối rối bởi lý lẽ đó. Nó giải
    thích cho con đực rằng mẩu thịt này được lấy từ một vùng đặc
    biệt, vùng đó được sưởi ấm nhân tạo nhờ một nguồn nước
    ngầm. Ở đó, không có mùa đông. Đó là vi khí hậu, nơi có hệ
    động thực vật đặc biệt phát triển.
    Vả lại, lúc thức dậy, Bầy thường đói. Bầy sẽ nhanh chóng cần
    protein để khởi động. Nắng ấm thôi chưa đủ.
    Con đực chấp nhận.

    Chuyến đi săn có hai mươi tám con kiến thuộc đẳng cấp chiến
    binh. Phần lớn trong bọn chúng, như con vừa rủ kiến đực tham
    gia, là những con kiến già vô tính. Con đực 327 là thành viên
    duy nhất của đẳng cấp hữu tính. Nó dò xét từ xa những con
    cùng tham gia chuyến đi săn qua cái rây của mắt mình.
    Với hàng nghìn ô mắt lưới, kiến không thấy hình ảnh bị lặp lại
    hàng nghìn lần, mà là hình ảnh được chia ô. Những con côn
    trùng này khó nhận ra được mọi chi tiết. Trái lại, nó nhận ra
    được các cử động dù là nhỏ nhất.
    Những nhà thám hiểm tham gia cuộc viễn chinh này tất cả đều
    có vẻ tinh nhuệ cho những chuyến đi xa. Những cái bụng nặng
    trĩu của chúng chứa đầy axít. Đầu chúng được trang bị những
    vũ khí mạnh nhất. Vỏ chúng bị rạch khía ngang dọc do dính
    những cú cắn ở các cuộc chiến.
    Chúng thẳng tiến lên phía trước từ nhiều giờ nay. Chúng đi
    qua nhiều thành phố dựng đứng giữa trời hay dưới tán cây của
    Liên bang. Những tổ kiến cái của triều đại Ni: Yodu-loubaikan (loài sản xuất nhiều ngũ cốc nhất); Giou-li-aikan (mà
    cách đây hai năm, nhiều đội sát thủ đã thắng liên minh các tổ
    mối miền Nam); Zédi-bei-nakan (nổi tiếng với các phòng thí
    nghiệm hóa học sản xuất được chất axít chiến đấu siêu đậm
    đặc); Li-viu-kan (mà rượu sâu yên chi của chúng có vị nhựa
    rất được ưa chuộng).
    Vì kiến đỏ hung không những tổ chức thành tổ, mà còn thành
    liên minh tổ. Khối thống nhất làm nên sức mạnh. Ở vùng núi
    Jura, người ta có thể thấy nhiều liên bang kiến đỏ hung có
    chừng 15 000 tổ kiến trải dài trên bề mặt 80 héc ta và có tổng
    dân số trên 200 triệu con.
    Bel-o-kan còn chưa có ở đó. Đó là một liên bang trẻ mà triều
    đại gốc được thành lập cách đây năm nghìn năm. Theo huyền
    thoại địa phương, có lẽ do một cô kiến cái lạc đường trong một
    trận bão khủng khiếp, đã kẹt lại nơi đây. Không tài nào về
    được liên bang của mình, nàng tạo ra Bel-o-kan, và từ Bel-okan, Liên bang được hình thành và hàng trăm thế hệ kiến chúa
    Ni tạo nên nó.
    Belo-kiu-kiuni là tên của kiến chúa đầu tiên này. Nó có nghĩa
    là “kiến lạc đường”. Nhưng tất cả các kiến chúa giữ tổ trung

    tâm đều lấy lại tên đó.
    Hiện tại, Bel-o-kan mới chỉ gồm một tổ trung tâm lớn và 64 tổ
    cái liên bang, tản mác ở ngoại vi. Nhưng nó được thừa nhận là
    sức mạnh chính trị lớn nhất ở khoảnh đất này trong cánh rừng
    Fontainebleau.
    Khi đã đi qua các tổ con, và đặc biệt là La-chola-kan, tổ Bel-okan nằm về phía Tây xa nhất, các nhà thám hiểm tới trước
    những ụ đất nhỏ: các tổ mùa hè hay “đồn tiền tiêu”. Chúng
    còn trống. Nhưng con 327 biết rằng, nhanh thôi, với các cuộc
    săn bắt và...
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn. (Barack Obama)

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT CẨM GIÀNG II - HẢI DƯƠNG !